‘The Innocence of Muslims,’ cuốn phim giết người

 


Tài tử: ‘Bị lừa!’ – Nhà sản xuất: ‘Không ân hận!’


 


Hà Giang/Người Việt


 


Cuốn phim có tên “The Innocence of Muslims” (Sự ngây thơ của tín đồ Hồi Giáo), với nội dung xúc phạm đến Muhammed, vị tiên tri của Hồi Giáo, được cho là nguyên nhân gây ra vụ tấn công vào Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Benghazi, Libya, giết chết Ðại Sứ Chris Stevens cùng với ba công dân Mỹ khác.









Nữ tài tử Cindy Lee Garcia trong phim “The Innocence of Muslims” cho biết bà và các diễn viên hoàn toàn bị lừa. (Hình: AP)


Thế nhưng nguồn gốc của cuốn phim này cho đến giờ vẫn còn nhiều bí ẩn. Không ai biết rõ ai là người tài trợ, chủ trương của người làm phim, ngay cả những tài tử và nhóm làm phim cũng rất bất ngờ.


“The Innocence of Muslims” thật được trình chiếu tại Hollywood trong nhiều tháng trời, mà chẳng thu hút được sự chú ý của mấy ai, cho đến đoạn giới thiệu dài 14 phút được tải lên YouTube vào Tháng Bẩy, cũng vẫn chưa được ai quan tâm.


 


Hoàn toàn bị lừa


 


Ký giả Tom Watkins của đài CNN, trích lời nhà phê bình phim kiêm người dẫn chương trình phát thanh Michael Medved, mô tả rằng đây là một cuốn phim “rất xoàng” có chất lượng “còn kém hơn phim do học sinh trung học thực hiện,” và vì thế chẳng lọt vào tầm nhìn của bất kỳ ai.


Thế nhưng, vào tuần trước, sau khi đoạn giới thiệu được dịch ra tiếng Ả Rập thì số người vào YouTube để xem lên đến hàng ngàn, rồi chục ngàn. Rồi đùng một cái, bạo động xẩy ra, cuốn phim bị cho là nguyên nhân của những bi kịch chết người.


Ðể thực hiện cuốn phim, nhà làm phim phải dùng đến 60 tài tử và nhóm sản xuất 45 người để thực hiện cuốn phim miêu tả Tiên Tri Mohammed của Hồi Giáo như là một người mê gái, một kẻ lạm dụng tình dục và sát hại trẻ em, chuyên bẻ cong triết lý sống để thỏa mãn dục vọng.


Theo AP, bà Cindy Lee Garcia, cư dân California, một nữ tài tử của phim, nói với báo giới là bà “hoàn toàn bị lừa” và không hề biết cuốn phim mà bà thủ một vai, có dính dáng gì đến Tiên Tri Muhammad.


Trong khi đó, một bài báo của Reuters tường thuật lời kể của nữ tài tử Cindy Lee Garcia rằng năm ngoái khi thấy công ty Backstage.com quảng cáo cần tuyển tài tử, bà nộp đơn, được tuyển và nhận lời đóng trong bộ phim có tên “Desert Warrior” (Chiến Sĩ Sa Mạc). Bà Garcia kể tỉ mỉ là “Chiến Sĩ Sa Mạc” quay trong một thánh đường ở Los Angeles mùa Hè năm 2011, trong đó khoảng 50 tài tử đứng diễn trước phông màu xanh lá cây thường được dùng thay bối cảnh.


Phóng viên của Reuters lục các thông báo cũ của Backstage.com thì quả thực có tìm thấy một quảng cáo tuyển người cho phim “Desert Warrior,” mô tả rằng đây là một cuốn phim ngân quỹ thấp, có tính cách lịch sử, kể lại việc phiêu lưu trong sa mạc của Ả Rập, kể lại chuyện xẩy ra cách đây đã 2,000 năm.


Trả lời phỏng vấn của Reuters qua điện thoại, tài tử Garcia nói khi xem lại đoạn giới thiệu trên YouTube, bà thấy nó “hoàn toàn xa lạ” chẳng giống bộ phim mà bà đã diễn xuất tí nào.


Cũng vẫn theo CNN, một nhân viên chịu trách nhiệm trực tiếp cho việc sản xuất phim, muốn được giấu tên, hiện còn giữ bản sao kịch bản gốc của “Desert Warrior,” xác nhận lời tuyên bố của tài tử Garcia là đúng, và nói thêm rằng “cả cuộn phim không hề đề cập đến ‘Muhammed’ hay nhắc tới ‘Hồi Giáo’ gì cả.”


Sáng Thứ Tư, sau vụ tấn công vào Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Benghazi, không chỉ riêng tài tử Garcia, mà toàn thể các diễn viên và thành viên sản xuất của phim “Desert Warrior” cùng gửi một bản công bố chung đến đài CNN, bày tỏ sự đau buồn về bạo lực mà cuốn phim họ vô tình góp phần thực hiện gây ra. Mặt khác, họ cùng khẳng định là hoàn toàn “bị lừa dối.”


Một đoạn trong bản công bố viết: “Toàn bộ diễn viên và nhân viên sản xuất vô cùng phẫn uất và cảm thấy bị nhà sản xuất phim lợi dụng.”


Và họ khẳng định: “Chúng tôi 100% không hề ủng hộ cuốn phim này và hiển nhiên đã bị lừa về mục đích cũng như ý định của người làm phim. Chúng tôi thực sự bị sốc vì toàn bộ kịch bản đã được viết lại, vì những lời dối trá của nhà sản xuất, và vô cùng đau buồn vì những thảm kịch đã xẩy ra.”


 


Không ân hận


 


Diễn viên và chuyên viên kỹ thuật thì tuyên bố là bị lừa. Còn người chủ trương sản xuất cuốn phim thì sao?


Ðể trả lời câu hỏi này, các cơ quan truyền thông lớn như CNN, Reuters, AP, và cả tờ Wall Street Journal đều đổ xô nhau cử ký giả đi điều tra.


Tờ Wall Street Journal cho biết họ đã tìm ra được người làm phim có tên Sam Bacile, một nhà thầu bất động sản người Mỹ gốc Israel, và tường trình là khi trả lời phỏng vấn của Wall Street, ông Bacile nói cuốn phim là một nỗ lực “lật mặt cái đạo đức giả của Hồi Giáo.”


“Hồi Giáo là một chứng ung thư.” Tờ Wall Street Journal trích lời của ông Sam Bacile.


Theo AP, ông Sam Bacile kể cho phóng viên của họ là cuốn phim “The Innocence of Muslims” được thực hiện với ngân quỹ $5,000,000, số tiền mà ông đã quyên được của một số người Israel.










Một cảnh trong phim “The Innocence of Muslims” được tải lên YouTube. (Hình: AP)


Ðài CNN cho biết không tiếp xúc được với ông Sam Bacile, nhưng tìm được ông Steve Klein, một người bán bảo hiểm cư ngụ ở Hemet, California. Ông Klein cho CNN biết ông là người cố vấn cho cuốn phim, nhận rằng có làm việc chung với ông Sam Bacile, rằng ông Sam Bacile không phải là tên thật, và hiện ông Sam Bacile đã trốn mất.


Trả lời câu hỏi là ông có ân hận không khi cuốn phim gây ra nhiều bạo động ở Cairo, ông Klein trả lời: “Không! Tôi không xúi giục họ. Bản chất của họ là như thế!”


Ông Steve Klein còn nói là ông cũng chẳng lo lắng về hậu quả của việc mình làm.


“Có những lúc mình phải làm những gì mình cần phải làm.” Ông khẳng định.

Về một cái chết

 


Lê Phan


 


Một đồng nghiệp của tôi, vốn quen rất thân với Ðại Sứ Christopher Stevens, đã bảo tôi: “Nếu Chris còn sống, chính ông ta sẽ bảo mọi người là chuyện đã xảy ở ở Benghazi phải không là lý do để Hoa Kỳ rút lui khỏi Libya và vùng Trung Ðông.


Chris tin tưởng vào một tương lai dân chủ cho Libya và đó chính là lý do tại sao ông ta đã tình nguyện trở lại Libya làm đại sứ. Vả lại, đã có rất nhiều người ở Benghazi khóc khi nghe tin Chris từ trần!”


Tôi không biết Ðại Sứ Christopher Stevens, nhưng tôi tin người bạn đồng nghiệp đã từng nhiều năm lăn lộn ở vùng Trung Ðông. Và chính vì vậy tôi thấy cần phải nhắc lại ý nguyện của Ðại Sứ Stevens.


Ðến nay thì không ai có thể không biết đến vụ tấn công vào tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Benghazi và cái chết bi thảm của ông đại sứ cùng ba nhân viên khác của tòa tổng lãnh sự. Trước câu hỏi của báo chí là tại sao ông đại sứ lại có mặt tại Benghazi, Phát ngôn nhân của Ngũ Giác Ðài giải thích: “Ðại Sứ Stevens thường xuyên lui tới Benghazi để kiểm soát tình hình phát triển ở miền Ðông. Ông đã là đặc sứ của ngoại trưởng và của tổng thống tại Hội Ðồng Quốc Gia Lâm Thời trước khi Gadhafi sụp đổ và đã ở khá lâu tại Benghazi và có rất nhiều người quen ở đó. Thành ra đây chỉ là một trong những chuyến viếng thăm thường xuyên của ông.”


Và để chứng tỏ cảm tình của người dân Libya và nhất là người dân Benghazi dành cho ông đại sứ, chỉ một ngày sau cuộc tấn công, nhiều người Libya đã xuống đường, tìm đến trước tòa tổng lãnh sự đổ nát để phản đối cuộc ám sát ông đại sứ và chứng tỏ cho thế giới biết là họ không ủng hộ hành độ sát nhân đó.


Viên chức của Ngũ Giác Ðài, trong buổi họp riêng cho báo chí, cũng đã nhắc lại: “Tôi xin chỉ ra là các thành viên cao cấp của chính phủ Libya đã nhanh chóng và mạnh mẽ đứng ra lên án hành động này và đề nghị hỗ trợ chúng ta.” Bà cũng nhắc là lực lượng an ninh Libya đã chiến đấu suốt bốn tiếng đồng hồ của cuộc tấn công, từ lúc 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng, sát cánh bên cạnh lực lượng an ninh riêng của tòa tổng lãnh sự, không một lúc nào bỏ rơi những đồng minh Hoa Kỳ của mình. Hơn thế viên chức của Ngũ Giác Ðài còn cho biết thêm: “Một trong những tổ chức dân quân địa phương vốn đã thân thiện với tòa đại sứ đã đến giúp đỡ.” Chính những sự tăng viện này đã giúp đẩy lùi lực lượng tấn công.


Nghe lời trình bày của Ngũ Giác Ðài, một đồng nghiệp khác của tôi ở Washington, đã giải thích là cuộc tấn công này kéo dài và có tổ chức, không phải là hành động của một nhóm ô hợp. Người bạn của tôi cho biết là theo viên chức Ngũ Giác Ðài thì tòa tổng lãnh sự là một tòa nhà tạm mà chính ông Stevens đã mua từ thời còn chế độ Gadhafi. Ðây là một cái biệt thự có một nhà lớn tức là tòa tổng lãnh sự và một tòa nhà phụ ở sau được dùng làm nơi đồn trú cho đơn vị an ninh Mỹ bảo vệ tòa đại sứ.


Khi cuộc tấn công xảy ra, lực lượng an ninh Libya, bảo vệ vòng ngoài, đã bắn trả nhưng không đủ sức chống cự. Họ chỉ có súng nhỏ trong khi lực lượng tấn công có súng bắn hỏa tiễn và súng phóng lựu. Lực lượng tấn công đã bắn được vào tòa nhà chính. Trong tòa nhà chính lúc đó có Ðại Sứ Stevens, một nhân viên an ninh vùng và ông Smith, một nhân viên lãnh sự. Nhân viên an ninh thoát được ra ngoài khi tòa nhà bốc cháy. Ông này bèn cùng một nhân viên an ninh khác xông vào để cứu hai ông Chris và Sean (Smith). Họ tìm thấy ông Smith, đã chết, và kéo ông ra khỏi tòa nhà. Họ không tìm thấy được ông Stevens, trong khi đó, súng, khói mù và lửa làm họ phải rút khỏi tòa nhà. Khoảng 45 phút sau, nhân viên an ninh ở tòa nhà sau tìm cách tấn công vào tòa nhà chính, nhưng họ bị đánh bật lại. Khoảng 50 phút sau, lực lượng an ninh Libya lại cố gắng một lần nữa và lần này họ đã vào được và lập lại kiểm soát ở tòa nhà chính. Mọi người được di tản sang tòa nhà phụ. Tòa nhà phụ bị tấn công vào lúc 12 giờ đêm và tiếp tục trong hai tiếng đồng hồ sau đó. Trong cuộc tấn công vào tòa nhà phụ, hai nhân viên Hoa Kỳ nữa tử nạn, và hai người bị thương. Mãi đến 2 giờ sáng, nhờ sự tăng viện lực lượng an ninh Libya giành lại được quyền kiểm soát tình hình.


Nhân viên Ngũ Giác Ðài tuy vậy công nhận: “Lúc nào đó trong khoảng thời gian đó, và thực sự chúng tôi không biết lúc nào, chúng tôi tin là Ðại Sứ Stevens đã ra khỏi tòa nhà và được đưa tới một bệnh viện ở Benghazi.” Phía Hoa Kỳ mất liên lạc nhưng có vẻ như những người bạn Libya đã tìm đưa ông đại sứ đến bệnh viện, rất tiếc là khi tới nơi ông đã yếu quá, không cứu sống nổi.


Như vậy chúng ta thấy rõ đây là một cuộc tấn công thực sự, có tổ chức với hỏa lực vượt khỏi sức kháng cự của nhân viên an ninh Libya và Hoa Kỳ có mặt tại tòa tổng lãnh sự. Tất cả những ai trong chúng ta đã từng sống qua Sài Gòn trong những năm chiến tranh đều biết là một đơn vị đặc công cảm tử có thể thực hiện một cuộc tấn công vào một địa điểm dầu phòng vệ cách mấy chăng nữa.


Ðã có những chỉ trích về sự thiếu an ninh hay là không lo đủ cho an toàn cho các viên chức ngoại giao ở Libya nhưng thật ra việc canh phòng đã rất cẩn mật. Hơn thế, khủng bố đã chọn Benghazi, nơi mà Ðại Sứ Stevens cảm thấy an toàn và nơi mà Hoa Kỳ có rất nhiều người bạn nên có lẽ cũng không cảm thấy cần phòng vệ nhiều hơn. Và lại, thử hỏi trước ngày 11 tháng 9 hay trước ngày 7 tháng 7, có ai nghĩ đến những hành động táo bạo của khủng bố như đã được thực hiện hay không?


Thống Ðốc Mitt Romney thì đã lên tiếng chỉ trích chính phủ Obama và nhất là Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Cairo, Ai Cập, là “quá yếu” với Hồi Giáo quá khích và quá thích Mùa Xuân Ả Rập. Nhiều nhân vật bảo thủ trong chính trị Hoa Kỳ đồng nghĩa phong trào nổi dậy của Hồi Giáo với những nhóm Hồi Giáo quá khích thù hận, và coi phong trào Huynh Ðệ Hồi Giáo đang cai trị ở Ai Cập và Tunisia là đe dọa cho đồng minh chính của Hoa Kỳ là Israel. Người Mỹ nói chung rất lo ngại bị kéo vào việc can thiệp ở Syria và lo ngại về Iran có bom hạt nhân. Họ quá chán bị gọi là chống Hồi Giáo trong khi xã hội Hoa Kỳ bao dung cho những người Shia hơn là các quốc gia Hồi Giáo Sunni. Với binh sĩ đã ra khỏi Iraq, cố gắng thúc đẩy tiến trình hòa bình giữa Israel và Palestine không đi đến đâu, và nguồn khí đốt mới giúp giảm lệ thuộc vào dầu Ả Rập, chắc hẳn đây là lúc nên bỏ cho những người “đó” muốn tự phá hoại mình thì cứ việc và rút lui về pháo đài Hoa Kỳ chăng?


Lý luận này rất hấp dẫn, và nó sẽ được đưa ra trên con đường vận động tranh cử sau cái chết của ông Stevens. Nhưng điều đó là hoàn toàn sai.


Ðiều đã làm Ðại Sứ Stevens lạc quan trước khi ông qua đời là Libya đã chọn một chính phủ ôn hòa, không thuộc cả phe Hồi Giáo quá khích Salafist lẫn Huynh Ðệ Hồi Giáo. Ngay hôm Ðại Sứ Stevens qua đời, Quốc Hội Libya đã bầu lên một kỹ sự tốt nghiệp ở Hoa Kỳ làm thủ tướng. Ðến ngay cả nhóm Salafists cũng như nhóm Ansar al-Sharia cũng tìm cách tách rời ra khỏi toán nhỏ đã tổ chức vụ ám sát và khuyến khích dân quân truy lùng họ.


Một quan sát viên Hoa Kỳ hiện diện trong cuộc bầu cử thủ tướng ở Quốc Hội đã nói là tin Ðại Sứ Stevens thiệt mạng đã thay đổi lập trường của nhiều dân biểu làm họ không bỏ phiếu cho phe cực đoan nữa. Quan sát viên này bảo là thảm kịch này có thể là giây phút giúp người dân Libya ý thức được là cần đoàn kết lại để bảo vệ nền dân chủ mong manh của họ. Nếu được vậy thì Ðại Sứ Steven đã không chết uổng.

Chùa Bảo Quang sắp khánh thành trung tâm văn hóa

 


Nguyên Huy/Người Việt


 


SANTA ANA (NV) –Vào ba ngày cuối tuần Thứ Sáu 12, Thứ Bẩy 13 và Chủ Nhật 14 tháng 10, chùa Bảo Quang sẽ làm lễ khánh thành Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo bên trong khuôn viên chùa ở Santa Ana.










Chánh điện của chùa Bảo Quang, Santa Ana. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, viện chủ chùa và cũng là nhà thơ Thanh Trí Cao, cho biết: “Ðây là một đại lễ của chùa sẽ có nhiều quan khách Việt Mỹ cũng như đồng hương Phật tử khắp nơi về tham dự. Trong đại lễ này chùa Bảo Quang cũng sẽ mở cửa phòng triển lãm văn hóa nghệ thuật, một công trình văn hóa của chùa Bảo Quang từ bấy lâu nay.”


Hòa Thượng Thích Quảng Thanh cũng cho biết là trong tương lai, chùa sẽ tiếp tục xây cất thêm Viện Bảo Tàng tập trung những cổ vật văn hóa Á Châu.


Theo dự trù chương trình đại lễ khánh thành sẽ được khởi diễn vào lúc 9 giờ sáng ngày Thứ Sáu, 12 tháng 10, qua một cuộc đưa thuyền ra biển “vớt vong về chùa để thiết lễ Ðàn Tràng Chẩn Tế.” Và trong suốt ngày đầu khai mạc này sẽ là những lễ “Tiến Linh,” “Khai Kinh” và “Cầu Siêu Chư Hương Linh.”


Qua hôm sau Thứ Bẩy, 13 tháng 10, tiếp tục khóa lễ “Cầu Siêu Chư Hương Linh” và “Ðăng Ðàn Chẩn tế.”


Ngày thứ ba, Chủ Nhật 14 tháng 10, là lễ chính gồm 12 tiết mục từ mở cửa phòng triển lãm văn hóa nghệ thuật qua cử hành đại lễ khánh thành cho đến cuộc ra mắt sách “Dấu Ấn Nghệ Thuật 2” của nhà thơ Thanh Trí Cao và văn nghệ mừng đại lễ với sự góp mặt của nhiều ca nhạc sĩ tên tuổi và thân hữu của chùa.


Chùa Bảo Quang là công trình hoằng pháp của Hòa Thượng Thích Quảng Thanh từ khi còn là thượng tọa. Chùa tọa lạc trên phần đất hiện nay là địa điểm thứ ba. Ban đầu đặt nền tảng tại Fountain Valley vào năm 1990. Khi công cuộc tu tập của các Phật tử được phát triển, chùa Bảo Quang đã phải dời về một địa điểm trên đường Magnolia, Garden Grove, để có đủ chỗ tu tập. Rồi qua 12 năm xây dựng tu học, khi ấy Thượng Tọa Thích Quảng Thanh đã cùng Phật tử quyết định cần phải phát triển tu học thành một trung tâm có đầy đủ tiện nghi nên vào ngày 10 tháng 3 năm 2002 đã gom góp tiến hành mua lại một ngôi giáo đường cũ nằm trên đường Newhope hiện nay và nay thì hòa thượng và chư Phật tử đã hoàn tất được một ngôi chùa khang trang xứng đáng là một Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo.


Trên khu đất rộng đến 2.2 mẫu, một phần ba được dành làm sân đậu xe đã được tráng xi măng phẳng lì, còn lại 2/3 là khuôn viên của chùa, gồm một chánh điện mới được xây cất khá là hùng vĩ, có tiền điện, có hậu liêu và các trai phòng.


Cách một vườn hoa rộng được dựng nhiều tượng Phật và Bồ Tát cũng như các hình ảnh nghệ thuật, là dẫy nhà dài hai tầng, tầng trên là phòng triển lãm cổ vật văn hóa Á Châu, phần dưới là trung tâm sinh hoạt của đồng hương Phật tử. Hiện nay trung tâm sinh hoạt đang được dành cho Trung Tâm Việt Ngữ Hùng Vương mở những lớp học Việt ngữ cho con em Phật tử song song với một số lớp về nghệ thuật âm nhạc, nhiếp ảnh vào những ngày cuối tuần. Trung tâm cũng là nơi dành cho các cuộc sinh hoạt văn học nghệ thuật khác như những cuộc ra mắt sách, những buổi luận đàm văn học nghệ thuật hay triển lãm ảnh nghệ thuật. Hòa thượng cho biết: “Với những sinh hoạt văn học nghệ thuật thì trung tâm sẽ không tính bất cứ một phí khoản nào. Xin cứ liên lạc với chúng tôi qua điện thoại (714) 554-1287.”


Trong sinh hoạt xã hội của chùa Bảo Quang thì chùa đã giúp bữa ăn cho người không nhà từ mấy chục năm nay, phát hành đều đặn tạp chí Trúc Lâm để phổ biến tin tức Phật Giáo khắp nơi cùng là những kiến thức Phật học của các danh sư học giả nghiên cứu về Phật học hay giáo lý nhà Phật.


Bên cạnh phòng triển lãm còn một khoảng đất rộng dùng làm hội trường trong những ngày đại lễ, có sân khấu và có thể chứa tới cả ngàn chỗ ngồi.


Ngay cổng vào có một hồ nước nhỏ, trên đó là con thuyền đang chìm của những thuyền nhân VN trốn chạy cộng sản, trước đây có tượng thuyền nhân nhưng nay đã được thay thế bằng tượng Phật Bà Quan Âm mà theo nhiều thuyền nhân cho biết đã “hiển linh giữa biển khơi để cứu độ cho những người vượt biển qua được những cơn sóng gió bão táp.”


Trong một buổi mạn đàm ngắn với chúng tôi, hòa thượng viện chủ có đề cập đến ảnh hưởng của Phật Giáo trong sinh hoạt của dân tộc VN. Trải qua hơn 2,000 năm, dưới bóng Từ Bi của Phật Giáo, người dân Việt đã thấm nhuần văn hóa Phật Giáo và đem hòa trộn với văn hóa truyền thống của dân tộc để thành một sinh hoạt truyền thống của dân gian. Như lễ Xá Tội Vong Nhân ngày Rằm Tháng Bẩy. Lễ này không chỉ được tổ chức tại các chùa, Viện Phật Giáo mà trong dân gian, nhất là ở vùng quê, người dân Việt cũng làm những buổi lễ gọi nôm na là lễ “cúng Cô Hồn” hay “cúng cháo thí” vào ngày Rằm Tháng Bẩy âm lịch.










Hồ nước Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


“Trăm con sông, ngàn dòng suối chẩy qua bao ngả khắp mọi miền, nước có khi đục có khi trong là bởi địa khí nhân văn từng nơi từng chốn nhưng rồi cũng trở thành nước biển khi đổ vào lòng biển. Thì Phật Giáo cũng vậy trải qua hàng ngàn năm được truyền bá đi khắp nơi, Phật Giáo cũng chia ra thành nhiều nhánh, nhiều tông phái, đó không phải là phân hóa mà là sự hội nhập để rồi trở thành một, là chân lý của giáo lý trong Phật pháp.” Hòa Thượng Thích Quảng Thanh kết thúc buổi mạn đàm với chúng tôi.


Quí độc giả cần biết thêm chi tiết về ngày đại lễ này, xin gọi điện thoại số (714) 554-1287 hay tới chùa tại địa chỉ 713 North Newhope St., Santa Ana, CA 92703.


 


–––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Trung Quốc nổi giận vì ‘biển Tây Philippines’

MANILA (NV) – Chính phủ Philippines hôm Thứ Tư đã ban hành một nghị định hành chính để chính thức đặt tên các vùng biển phía Tây của nước mình là Biển Tây Philippines (West Philippines Sea) thay cho cách gọi phổ biến từ trước đến nay là Biển Nam Trung Hoa (South China Sea).










Bản đồ Biển Ðông. (Hình: biendong.net)


Ngay lập tức, Tân Hoa Xã phản ứng, coi hành động của Phi là “khiêu khích,” “chỉ là giấc mơ đẹp” và không thay đổi được gì.


Nghị định của chính phủ Philippines xác định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý phía Tây đảo Luzon như quy định của Công ước Quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) mà cả Philippines, Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên ký công nhận. Như vậy, Philippines xác quyết các khu vực đang có tranh chấp từ chuỗi bãi đá Scarborough (tranh chấp với Trung Quốc) đến các đảo ở quần đảo Trường Sa đang do họ chiếm giữ (tranh chấp với nhiều nước) được gói trong nghị định đó.


“Gọi là Biển Tây Philippines chỉ là bước thường lệ cho những gì chúng ta cảm thấy trước hết là của chúng ta.” Phát ngôn viên phủ tổng thống Edwin Lacierda phát biểu như vậy hôm Thứ Năm và được thuật lại trên đài truyền hình số 5 ở Manila.


Theo nguồn tin, bộ phận pháp lý của chính phủ Philippines đang nghiên cứu để đệ nạp sự xác định chủ quyền mới với cơ quan UNCLOS mà một phần trước đây chưa từng được họ tuyên bố.


Trang mạng Quân Sự Trung Quốc (Chinamil.com) được trang mạng báo đảng Nhân Dân Nhật Báo hôm Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012 lấy lại và phổ biến tin hình cuộc tập trận phối hợp hải quân trên Biển Ðông hàm ý phô trương sức mạnh quân sự. Ðồng thời Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh tuyên bố “Hành động của Philippines sẽ không thay đổi được chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) và Hoàng Nham đảo (tức Scarborough Shoal tranh chấp với Philippines) cùng vùng biển chung quanh. Cái tên biển Hoa Nam đã từng được cộng đồng quốc tế công nhận.”


Tân Hoa Xã gọi hành động của Philippines là “buồn cười” và chỉ là “giấc mộng vui vẻ.”


Bắc Kinh thường xuyên hành động bất chấp các nguyên tắc đã thỏa thuận khi ký vào bản Tuyên Bố Ứng Xử Biển Ðông (DOC) nhằm tránh xung đột võ trang nhưng luôn luôn đổ ngược lại là các nước khác không tuân hành.


Nhân Dân Nhật Báo cũng đăng tải những lời đe dọa của tướng diều hâu La Viện nói Bắc Kinh “sẽ không bao giờ nhượng bộ một phân nào trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ.” Trước đó, ngày 5 tháng 9, 2012, khi họp báo chung với bà Ngọai Trưởng Mỹ Hillary Clinton, Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố “lập trường của Trung Quốc về vấn đề chủ quyền Biển Hoa Nam (Biển Ðông) là không thay đổi và rõ ràng dựa vào các căn cứ lịch sử và pháp lý.”


Tuy nhiên, những gì Trung Quốc nêu ra đã bị phía Việt Nam, Philippines phản bác với các chứng cứ của riêng mình. Một số tài liệu còn chứng tỏ, trước kia, các nhà cầm quyền ở Trung Quốc không liệt kê các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các thành phần lãnh thổ của Trung Quốc trên bản đồ.


Bắc Kinh khá mập mờ về đường vạch “Lưỡi Bò” chiếm 80% Biển Ðông liếm sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Philippines, bất chấp công ước UNCLOS. (TN)

Chủ tiệm nail trở thành người chủ đất cho thuê booth, station

 


Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) –Hơn 250 người, hầu hết là chủ tiệm các tiệm nail ở vùng Orange County, Los Angeles và các vùng lân cận, có mặt tại hội trường nhật báo Người Việt tham dự chương trình hội thảo “Hãy làm đúng luật khi trả lương bằng Form 1099 trong nghề nail” do công ty Money Management System (MMS) đứng ra tổ chức vào tối Thứ Ba.









Ông Mai Phi Long (phải) trình bày mô hình kinh doanh mới trong buổi hội thảo “Hãy làm đúng luật khi trả lương bằng Form 1099 trong nghề nail.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


“Vấn đề trả lương bằng mẫu 1099 trong ngành nail,” “Independent contractor là gì?” “Nhân viên (employee) và nhà thầu độc lập (independent contractor) dưới khía cạnh thuế vụ và Workers Compensation,” “Mô hình kinh doanh mới,” và “Yếu tố kỹ thuật trong mô hình mới của MMS” là những vấn đề được công ty MMS nêu ra trong buổi hội thảo.


Ông Mai Phi Long, đại diện công ty MMS, nêu vấn đề, “Trong ngành nail, hầu như ai cũng phát lương theo mẫu 1099. Tuy nhiên, đây là một chuyện rất dễ đưa đến việc phạm luật vì rất phức tạp trong việc xác định một người thợ nail phải làm việc như thế nào để được xem là một nhà thầu độc lập (independent contractor), mà phải là ‘Independent contractor’ thì mới lãnh lương theo mẫu 1099.”


“Cũng chính vì sai luật trong khi áp dụng trả lương cho nhân viên theo mẫu 1099 mà nhiều tiệm nail bị kiểm toán và bị phạt tiền rất nặng,” ông Long cho biết thêm.


Luật Sư Anthony Nguyễn giải thích cho mọi người hiểu 16 điều nhằm xác định thế nào là một nhà thầu độc lập theo qui định của Sở Thuế IRS và Bộ Lao Ðộng Hoa Kỳ.


Trong phần trình bày về vấn đề “Nhân viên (employee) và Nhà thầu độc lập (independent contractor) dưới khía cạnh thuế vụ và Workers Compensation,” ông Jonathan Tôn, chuyên gia hoạch định tài chánh và thuế vụ, đã nêu lên một số điều khiến hầu hết các chủ tiệm nail tham dự buổi hội thảo tỏ ra “bất ngờ, ngạc nhiên khi nhận ra lâu nay mình làm sai hết trơn.”


Một vài điều đáng lưu ý mà ông Jonanthan nêu ra là: “Nếu một thợ nail được trả lương theo mẫu 1099 thì người thợ đó phải là quyết định tất cả công việc, giá cả phục vụ trong tiệm một cách độc lập; tự mình thương thảo trực tiếp với khách, có quyền tự quyết định giờ đi làm hay giờ nghỉ; tự mua sắm tất cả các đồ nghề từ khăn, nước sơn, đồ giũa,…; tự mình quyết định phương thức thanh toán, hay chọn cách làm…”


Tuy nhiên, tất cả mọi người đều thừa nhận rằng “không có người thợ nail nào lãnh lương theo mẫu 1099 mà làm việc theo những cách trên” vì “hầu như ai cũng làm việc cho chủ (employee).”


Nếu làm việc theo phương cách chủ-thợ thì, như ông Jonathan giải thích, “Chủ đặt định phương thức làm việc, lương bổng, giờ giấc, thời gian nghỉ, giải lao; chủ qui định giá cả, cách thức tính chi phí dịch vụ và đứng ra giải quyết các bất đồng giữa khách và thợ; chủ là người đứng ra mua đồ nghề cho tiệm; thợ chỉ làm việc tại nơi mà chủ ấn định, phục vụ khách của chủ dưới thương hiệu do chủ quảng cáo,…”


Với cách thức chủ và thợ như vậy thì mẫu lương phải trả là W-2. Khi trả lương bằng W-2 thì “chủ nhân phải đóng một khoản thuế ‘unemployment’ chừng 14-15% rồi vừa phải mua bảo hiểm Worker Compensation. Cả hai khoản này nhập lại cũng ở gần mức 20% rồi cộng thêm lương ăn chia là 60%. Như vậy chủ đã trả ra 80% giá trị của người thợ làm ra theo cách chia 6/4 như hiện nay ở các tiệm nail, họ chỉ còn 20% không đủ trang trải những phí tổn thuê mướn, đồ nghề, v.v… thì họ không đủ sở hụi. Cho nên nhiều người biết là sai nhưng vẫn phải nhắm mắt làm để sống còn khi trả lương cho nhân viên bằng mẫu 1099.”


Chính vì những điều này, nên giải pháp mô hình kinh doanh mới mà công ty MMS đưa ra là “phải thay đổi cách làm ăn. Những người chủ tiệm nail xưa nay không còn là chủ tiệm nail nữa mà chuyển sang là chủ đất, chủ nhà.”


Nghĩa là, ông Long giải thích, “Chủ tiệm nail, trong vai trò là chủ đất, chủ mặt bằng, sẽ cho các người thợ của mình thuê booth, station để làm. Và như thế, các thợ nail bây giờ tự làm chủ doanh nghiệp của họ khi thuê lại booth, station trong tiệm. Người thợ trả tiền thuê mướn và các dịch vụ khác mà chủ tiệm cung cấp.”


Ông Long đưa ví dụ, một người thợ trung bình lãnh lương $2,000/tháng. Như vậy, họ phải kiếm khoảng $3,300/tháng. Tiền trả về chủ là $1,300. Chủ tiệm có thể cho mướn station đó khoảng $1,200 đến $1,300/tháng. Nếu theo cách tính hiện nay là chia 6/4, thợ 6, chủ 4 thì thu nhập theo cách cho thuê này có khác gì đâu khi chúng ta làm chủ tiệm nail nhưng lại cộng với nhức đầu và lo lắng!


“Thêm vào đó, khi người thợ là chủ nhân của riêng họ, thì chủ tiệm không cần phải lo lắng những nghĩa vụ của một người chủ nữa, như không cần phải trả Worker Compensation, lợi tức thất nghiệp, bảo hiểm,…” Ông Long nói thêm.


Tuy nhiên, như lời ông Mai Phi Long nói trong phần khai mạc, “Tất cả những vấn đề được trình bày trong buổi hội thảo chỉ mang tính chất tham khảo mà thôi.”


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Cụ Bà Quả Phụ Nguyễn Đình Trai

Sau Ai Cập và Libya, tòa Ðại Sứ Mỹ tại Yemen bị tấn công

 


4 người thiệt mạng, 35 người bị thương


 


SANAA, Yemen (NV) – Tình trạng bạo loạn trong thế giới Ả Rập liên quan đến một cuốn phim thực hiện tại Mỹ, có nội dung bị coi là báng bổ Tiên Tri Muhammad, đã lan sang Yemen hôm Thứ Năm, nơi hàng trăm người biểu tình tấn công tòa Ðại Sứ Mỹ, hai ngày sau khi có vụ nổ súng làm thiệt mạng đại sứ Mỹ ở Libya và đám đông tìm cách tràn vào chiếm đóng tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo, theo một bản tin của báo The New York Times.









Người biểu tình đập cửa sổ và gỡ tấm bảng Tòa Ðại Sứ Mỹ tại thủ đô Sanaa, Yemen, hôm Thứ Năm. (Hình: AP Photo/Hani Mohammed)


Theo một bản tin của đài CNN, trích nguồn tin Bộ Quốc Phòng Yemen, cho biết, trong cuộc biểu tình hôm Thứ Năm, bốn người Yemen bị thiệt mạng. Ngoài ra, còn có 35 người khác bị thương, bao gồm 24 nhân viên an ninh.


Các nguồn tin từ giới truyền thông cũng cho hay có cuộc biểu tình ở Tehran, nơi khoảng 500 người hô khẩu hiệu đả đảo Mỹ và tìm cách bao vây tòa Ðại Sứ Thụy Sĩ, hiện đang giữ vai trò trung gian đại diện cho Mỹ vì Washington không có liên lạc ngoại giao với Tehran. Hàng trăm cảnh sát viên kềm giữ đám đông không cho họ đến gần sứ bộ ngoại giao này.


Trong ngày thứ ba liên tiếp, đám đông biểu tình trước tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo đã xô xát với cảnh sát gìn giữ trật tự và giới hữu trách đã phải dùng đến lựu đạn cay để giải tán họ.


Tại Sanaa, thủ đô Yemen, đám đông tràn vào được vòng ngoài của tòa Ðại Sứ Mỹ, nổi lửa đốt một văn phòng nơi này.


Những người này sau đó rút lui và lấy đi bàn ghế cùng các máy điện toán.


Tổng thống Yemen, ông Abdu Rabbu Mansour Hadi, cho hay trong một bản thông cáo là ông bày tỏ “sự xin lỗi đến Tổng Thống Barack Obama và dân chúng Mỹ” về cuộc tấn công này.


Trong khi đó, hãng thông tấn Reuters cho biết giới chức Libya vừa bắt bốn người trong khi điều tra vụ tấn công tòa Lãnh Sự Mỹ ở Benghazi, làm thiệt mạng đại sứ và ba nhân viên ngoại giao Mỹ.


“Bốn người bị bắt và chúng tôi đang thẩm vấn họ bởi vì họ bị tình nghi giúp tổ chức vụ tấn công vào tòa lãnh sự,” ông Wanis Sharif, thứ trưởng Bộ Nội Vụ Libya, được Reuters trích lời nói.


Tuy nhiên, ông không cho biết thêm chi tiết.


Tại Ai Cập, giới chức Hoa Kỳ phải liên lạc với đảng Huynh Ðệ Hồi Giáo cầm quyền để xác nhận hai thông điệp mâu thuẫn nhau được gởi qua hệ thống tweeter, liên quan đến vụ tấn công tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo.


Trong thông điệp đầu tiên, được viết bằng tiếng Anh, ông Khairat el-Shater, phó thủ lãnh của đảng, viết ông “cảm thấy nhẹ nhõm vì không có nhân viên ngoại giao nào của tòa đại sứ bị hại” và hy vọng quan hệ Mỹ-Ai Cập “sẽ được duy trì sau các sự kiện xảy ra hôm Thứ Ba (dân Ai Cập tấn công tòa đại sứ).”


Tuy nhiên, thông điệp thứ nhì của đảng Huynh Ðệ Hồi Giáo, viết bằng tiếng Ả Rập, và cũng được đăng trên trang web của đảng, lại khen ngợi những cuộc biểu tình chống cuốn phim sản xuất tại Mỹ mà một số người Hồi Giáo cho là xúc phạm Tiên Tri Muhammad. Thông điệp của Huynh Ðệ Hồi Giáo cũng kêu gọi tổ chức một cuộc biểu tình có một triệu người tham gia vào Thứ Sáu.


Ngay sau đó, Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo đáp lại: “Cảm ơn. Tuy nhiên, quý vị đã kiểm tra lại thông điệp bằng tiếng Ả Rập chưa? Hy vọng quý vị biết là chúng tôi có đọc được thông điệp này đấy nhé.”


Huynh Ðệ Hồi Giáo trả lời: “Chúng tôi hiểu quý vị đang trong tình trạng bấn loạn, nhưng nếu quý vị cho biết chính xác đoạn nào làm quý vị quan tâm thì rất tốt.”


Hôm Thứ Năm, tổng thống Ai Cập, ông Mohammed Morsi, thuộc đảng Huynh Ðệ Hồi Giáo, nói ông ủng hộ các cuộc biểu tình ôn hòa, chứ không phải các cuộc tấn công vào các tòa đại sứ, theo bản tin của Reuters.


Trong khi đó, nhật báo The New York Times cho rằng Ai Cập, chứ không phải Libya, nơi Ðại Sứ Chris Stevens bị giết, có thể là một vấn đề chính trị rất lớn đối với Hoa Kỳ.


Ông Martin S. Indyk, cựu đại sứ Mỹ tại Israel, nói với tờ báo rằng: “Dù không có người Mỹ bị giết, nhưng đây là lần thứ tư một tòa đại sứ tại Cairo bị tấn công, trong lúc cảnh sát Ai Cập phản ứng rất nhẹ nhàng.”


“Tại sao Tổng Thống Morsi không lên án những hành động này,” ông Indyk thắc mắc.


Tại Hoa Kỳ, giới chức liên bang xác định được người đàn ông sống ở miền Nam California, từng bị tù vì tội liên quan đến gian lận tài chánh, là nhân vật chính làm cuốn phim “The Innocence of Muslims,” gây nên làn sóng chống Mỹ trong thế giới Ả Rập. Ðó là ông Nakoula Basseley Nakoula, 55 tuổi, bản tin của hãng thông tấn AP cho biết.


Bộ Trưởng Tư Pháp Eric Holder nói Bộ Tư Pháp Mỹ đã bắt đầu điều tra cái chết của bốn công dân Mỹ tại Libya. Tuy nhiên, hiện chưa biết là Bộ Tư Pháp có tập trung sự điều tra vào nhân vật làm bộ phim ở miền Nam California hay không.


Phóng viên Richard Esposito của đài truyền hình ABC cho biết cảnh sát Los Angeles County được phái đến nhà ông Nakoula ở Cerritos tối Thứ Năm để bảo vệ ông, đề phòng trường hợp ông bị trả thù. Tuy nhiên, sau một lát, cảnh sát rời khỏi khu vực nhà ông. (V.Giang, Ð.D.)

Bà Quả Phụ Võ Minh Ngoạn

Lợi dụng lòng tin của dân nghèo

 


 Về “Không phải là Hổ Mang”



Sự lừa gạt những người dân quê ít có kiến thức rộng rãi cùng sự tin tưởng hoang đường đã có xảy ra rất nhiều, cho nên có nhiều người muốn kiếm tiền làm giàu thì họ lợi dụng lòng tin của dân nghèo mà tha hồ hút máu làm tiền. Những người làm chuyện ác đức sau này sẽ bị sự trừng phạt của Thượng đế.


hung

Mùa Thu ở làng chài Gò Nổi – Thu Bồn

 


Phương Ngạn/Người Việt


 


QUẢNG NAM (NV) –Nhắc đến sông Thu Bồn, có lẽ không cần phải nói cho nhiều, bởi nó đã đi vào thơ ca không ít, và, địa danh Gò Nổi – đất học của Ngũ Phụng Tề Phi, của Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Phan Quang… cũng không mấy xa lạ với độc giả.










Hạnh phúc giản dị của dân chài, chồng chèo thuyền, vợ bủa lưới, giăng câu… (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


Nhưng, nói về làng chài vào mùa Thu ở một khúc sông vắng, trên dải đất vắt ngang dòng Thu Bồn, câu chuyện đã xoay sang hướng khác, đầy thân phận và nỗi niềm.


 


Ðức hiếu sanh


 


Dường như đời sống của người dân làng chài, mọi thứ đều rất khác biệt với người dân trên bờ cách họ chưa đầy trăm mét. Khái niệm thời gian ở đây cũng đông cứng, đóng băng, một ngày dài được định nghĩa bằng một chuyến chèo ghe ra sông và quay ghe trở về, một năm dài được nhắc nhớ bởi bốn mùa từ Xuân sang Ðông, trong đó có hai mùa ngồi bó gối.


Ông Nhạc, dân chài lâu năm ở đây cho biết: “Dân nghề ở đây ít có ai ăn học tới nơi tới chốn, cao nhất chừng hết cấp trung học, có nhiều đứa học lớp ba, lớp bốn là nghỉ, có vợ, có chồng, sinh con đẻ cái, rồi lại vác lưới ra sông.”


“Mùa thì ở đây mùa nào cũng là mùa làm ăn cả. Nhưng có vẻ như mùa Xuân là đói nhất, vì mùa này con nước trong veo, khó mà bủa lưới, còn mùa Ðông thì lạnh căm, nhưng là mùa kiếm cơm. Mùa Hè và mùa Thu thì ngồi bó gối.”


“Thật ra, hai mùa này vẫn kiếm được cá như các mùa kia, nhưng theo lệ của tổ tiên làng nghề ở đây thì mùa Hè là mùa giao phối, mùa Thu là mùa cá bắt đầu đẻ trứng, làng nghề kiêng đánh cá hai mùa này, ăn của trời thì phải biết giữ của trời, không thể hốt trọi cả bốn mùa.”


Anh Tuấn, thanh niên của làng chài cho biết thêm: “Ở đây nghèo lắm, vì quanh năm bám ghe, bám sông, ngày nào trúng mẻ cá lớn thì cả gia đình kiếm được ngót nghét một trăm ngàn đồng, thường thì vài ba chục ngàn đồng, ruộng không có, đất không có, nên chỉ sống với ngần ấy tiền, khó lắm, ăn còn không đủ, lấy chi mà học hành!”


“Một phần vì yêu nghề, một phần vì không có bằng cấp, nên chẳng có cơ hội chuyển sang nghề khác, hết đời cha đến đời con cứ bám ghe, bám sông mà đắp đổi qua ngày. Thường, trẻ nít ở đây rất thích mùa Thu, vì mùa này cha mẹ hay ở nhà chơi với tụi nó, dán đầu lân, làm ông địa cho tụi nó…”


“Bánh Trung Thu là một thứ gì đó rất xa lạ đối với trẻ nít ở đây, vì cha mẹ, ông bà của tụi nó cho đến giờ còn chưa biết, nhiều khi cũng muốn mua cho con cháu mình ăn để biết, nhưng một cái bánh Trung Thu có khi bằng ba bốn ngày làm, thôi thì nhịn vậy!”


Chị Thuận, người phụ nữ bám nghề từ tấm bé của làng chài, kể: “Nhiều bữa, bơi ghe đi dạo, thấy cá nhiều lắm, nhưng nghiệt nỗi đang là mùa chúng đẻ trứng, nên không nỡ buông lưới, vậy là bơi ghe dòm cho đỡ thèm rồi quay về!”


“Từ nhỏ, cha tôi đã dạy, mình là người không may mắn, ít ăn học, nhưng mình phải giữ đạo làm người, phải có đức hiếu sanh, mình làm nghề chài lưới là sát sanh, vì sinh nhai nên đành chịu. Nhưng dù gì thì phải biết mùa của vạn vật yêu nhau và mùa sinh sôi của chúng, phải tôn trọng mùa này.”










Những con thuyền tạm nghỉ trong mùa cá sinh nở. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


“Chính vì vậy mà dân chài xóm mình không ai nói ai, dường như từ trong máu huyết đã có đức hiếu sanh do cha mẹ truyền dạy, không ai sát ngư vào mùa Hè và mùa Thu. Mà cũng chính vì vậy mà mình khó khăn, nhưng đành chịu!”


 


“Làng nghề” bất hợp lý


 


Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam nhắc nhiều về chuyện các làng nghề, phục dựng làng nghề… Nhưng nếu nhìn kỹ một chút, dường như mọi hoạt động “phục dựng” làng nghề đều mang tính hình thức, qua loa và bất hợp lý.


Thường thì cứ làng nghề nào được tổ chức rình rang, có bàn tay của cơ quan văn hóa địa phương nhúng vào, liền sau đó là đóng cửa, không tiêu thụ được mặt hàng hoặc có những tranh chấp nội bộ về ăn chia không đồng đều, hoặc có sự toa rập của đầu nậu với cán bộ ngân hàng, người cần vốn thì không được vay, người không làm nghề lại vay vốn để thao túng làng nghề…


Dường như có hàng trăm thứ bất ổn trong vấn đề tổ chức phục dựng làng nghề của các cơ quan văn hóa nhà nước. Làng chài Gò Nổi – Thu Bồn cũng không tránh khỏi tình trạng này.


Ông Tuấn, một ngư dân lâu năm của làng chài, cho biết: “Cũng có nghe nói nhà nước tổ chức phục dựng làng nghề, anh em ở đây cũng thử liên hệ để coi thử có được chi không. Nhưng rồi thất vọng.”


“Những điều kiện họ đưa ra như là không đánh bắt bằng chất nổ, không dùng lưới có kích cỡ nhỏ để đánh bắt nhằm giữ những con cá nhỏ sống sót, không được dùng bình điện… Thì mấy cái đó mình đã đáp ứng từ rất lâu, không cần họ nhắc mình cũng đã làm thế. Nhưng mà thủ tục rắc rối quá, mình ít học, nghe họ nói một hồi, mình thấy mệt, thôi nghỉ luôn.”


“Thật ra, cái chính để tạo ra làng nghề là phải làm sao cho làng nghề đó ổn định hơn, văn minh hơn và sống có văn hóa hơn, ví dụ như họ ưu tiên cho con em mình đi học miễn phí, cho mình vay vốn lãi suất thấp để mua dụng cụ tốt hơn chẳng hạn. Nhưng họ chẳng giúp mình được chuyện này.”


“Nếu tổ chức một làng nghề để lâu lâu họ về quay phim, rồi cúng bái lung tung cũng để quay phim, làm du lịch gì gì đó, e rằng không hợp với làng chài ở đây. Vì chúng tôi không thích thế, chúng tôi muốn được bình yên, cuộc sống tốt hơn, con cái có cơ hội đổi đời…”


Lời bộc bạch của ông Tuấn trong lúc ông đang cặm cụi đan lưới vô hình trung ám gợi chúng tôi hình ảnh nào đó rất xa xưa về những con người sống gần gũi thiên nhiên, bỏ mặc mọi thị phi cuộc đời, hòa nhập với đất trời, sông nước.










Những mắt lưới buộc chặt cuộc đời với sông nước mênh mông. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


Nhưng, cũng chính cái quan niệm đời sống giản dị của ông và những người dân chài hàng xóm của ông lại chạm đến những trắc ẩn khác về thân phận con người trong xã hội mà ở đó, họ có khoảng cách rất gần với đời sống hiện đại nhưng lại cam chịu, chấp nhận một kiểu sinh hoạt rất ư lạc hậu, thiếu thốn và thiệt thòi trăm bề. Lỗi này do ai?


Mùa Thu đang về, cách xóm chài không xa, những cửa hàng bánh Trung Thu đỏ vàng, xanh, rực ngũ sắc, những đứa bé xóm chài vẫn cùng với một Trung Thu vài con đom đóm bỏ vào vỏ trứng, vài chén chè của cha mẹ nấu cúng Rằm… Một tuổi thơ thiệt thòi bởi nghèo khó!

Nhà bank không ngu

 



 


Về “Mua hớt tay trên”



Nhà bank không có ngu đâu bạn ạ, nếu họ thấy có lời thì họ sẽ làm, biết bao nhiêu năm họ đã lấy tiền của khách hàng gửi trong ngân hàng để cho khách hàng khác mượn lại kiếm lời. Bây giờ nếu ngân hàng cho mượn tiền hoặc bán nhà cho những người mua lần đầu tiên nhưng với điều kiện họ đưa ra chưa chắc gì bạn được chấp nhận. Thí dụ: 1. Tiền đặt cọc (down) phải 30% ($500,000 x 30% = $150,000 plus paper, service fee,…) 2. Việc làm và W2 khai thuế ít nhất là từ 3-5 năm. 3. Tín dụng phải tốt (credit point)… Nếu còn trẻ thì có thể chứ còn hơi lớn tuổi thì nên quên đi.


hung


 


 

Chuyện bịa vô lý

 Về “Bị chồng đánh, làm thơ tranh đấu cho nữ quyền”



Chuyện bịa vô lý. Ðây là Mỹ chứ đâu phải Việt Nam mà cô này phải chịu đựng mười năm. Nếu con cô cũng bị đánh thì khi đi học cô giáo sẽ biết và làm sao anh chồng “thoát” được cái còng của cảnh sát.


Khai


 


 

Phải gọi là phó viện trưởng

 


Thư độc giả


 


Về “Phụ nữ gốc Việt làm phó hiệu trưởng Ðại Học Coastline”



Nếu là đại học thì danh vị của bà Christine Nguyễn phải gọi là phó viện trưởng thay vì phó hiệu trưởng.


HN – MN


 


 

Bầu cử Hạ Viện: Cộng Hòa ăn chắc? Dân Chủ thành công?

 


Nguyễn Văn Khanh


 


Chưa bao giờ thấy ông Steve Israel phấn khởi như chiều hôm nay. Ðúng một ngày sau khi cuộc bầu cử sơ bộ ở các tiểu bang hoàn tất, vị dân biểu chủ tịch Ủy Ban Vận Ðộng Tranh Cử cho đảng Dân Chủ ở Hạ Viện hãnh diện nói với mọi người ông nhìn thấy “cơ hội lấy lại khối đa số vào Tháng Mười Một tới đây ngày một rõ nét hơn trước.”










Dân Biểu Steve Israel hy vọng đảng Dân Chủ có thể tái kiểm soát Hạ Viện. (Hình: Stan Honda/AFP/GettyImages)


Lý do được ông đưa ra là điều các ủng hộ viên của đảng đang nói tới. Sự xuất hiện của ông Paul Ryan trong liên danh tranh cử tổng thống cho đảng Cộng Hòa khiến người dân Mỹ lo hơn, sợ cánh Cộng Hòa làm chủ cả hành pháp lẫn lập pháp, và khi “cử tri càng lo ngại chừng nào càng có lợi cho chúng tôi chừng nấy.” Ông còn dõng dạc nói mọi người lo ngại chuyện Cộng Hòa thắng Tòa Bạch Ốc, nhất là “từ khi ông Ryan được (ông Mitt Romney) mời đứng chung liên danh, mối lo ngại này càng ngày càng tăng lên,” tới mức ông Israel gọi là “thảm họa” của các ứng viên Cộng Hòa toàn quốc, nhất là những người đang dự cuộc tranh cử Hạ Viện Liên Bang.


Ý kiến Dân Biểu Israel đưa ra ngày hôm qua (Thứ Tư, 13 Tháng Chín) trong cuộc tiếp xúc với báo chí ở trụ sở đảng Dân Chủ là điều một số chiến lược gia độc lập nói tới từ giữa tháng trước. Một trong những người đầu tiên nói đến chuyện này là ông Mike Goebel, cho rằng ông Ryan “giúp định hình cuộc bầu cử, liên danh Cộng Hòa sẽ đánh mạnh vào chuyện kinh tế, việc làm,” nhưng cũng chính ông Ryan “khiến cử tri ở tuổi 50 trở lên lo âu vì ông ta cứ hăm he đòi cải tổ Medicare.” Ðiều khác biệt duy nhất: ông Israel nói có vẻ chắc ăn, ông Goebel chừng mực hơn, nói rằng “không ngạc nhiên lắm nếu phía Dân Chủ lấy thêm 25 ghế ở Hạ Viện để nắm khối đa số.”


Phía Cộng Hòa đương nhiên không đồng ý với những gì đảng Dân Chủ hay các chiến lược gia độc lập đưa ra. Trong buổi tiếp xúc bên lề Ðại Hội Ðảng ở Tampa, Florida, các viên chức điều hành đảng Cộng Hòa vừa nhún vai vừa nói bên Dân Chủ “đang nằm mơ” chuyện sẽ lấy lại khối đa số, bảo đảm với mọi người “chắc chắn chuyện đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra,” lại còn nói đùa sẵn sàng đánh cược với bất cứ ai “muốn thử thời vận vì tin vào lời của đảng Dân Chủ.”


Ông Brad Todd, trưởng Ban Cố Vấn Chiến Lược Tranh Cử Cộng Hòa, phân tích: “Từ Tháng Sáu cho đến giờ, đảng Dân Chủ vất vả ngược xuôi để chống lại những luận cứ chúng tôi đưa ra, trong khi các cuộc thăm dò đều nói cử tri tán thành ý kiến nên sửa đổi lại những điều khoản liên quan đến Medicare được ghi trong đạo luật cải tổ bảo hiểm y tế mà ông Barack Obama và Quốc Hội Dân Chủ thông qua cách đây hai năm để tránh khoản tiền khổng lồ mà chính phủ phải trả cho những điều khoản vô lý này.” Một nhân viên của văn phòng Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner còn bảo dựa theo những dữ kiện được cung cấp từ các đơn vị bầu cử, “phe Dân Chủ làm việc toát mồ hôi cũng chưa chắc lấy thêm được một hay hai ghế, đừng vội nói tới chuyện nắm khối đa số.”


Sự thật thế nào? Có lẽ câu trả lời đúng nhất: Cả hai đảng đang tranh nhau từng ghế một, cả hai đều có cơ hội thành công – tức là lấy thêm ghế ở Hạ Viện – cả hai đang bỏ nhiều triệu bạc để mở cuộc vận động quy mô toàn quốc cho các ứng cử viên của mình, “nhưng không thể đoán biết trước tình hình rồi sẽ ra sao,” theo nhận định của bà Martha Gibson, một trong những nhà phân tích bầu cử rất quen thuộc với báo giới miền Tây.


Từ văn phòng làm việc ở Denver, Colorado, bà Gibson trả lời qua điện thoại, “Giờ này hai năm trước đây mọi người đều nhìn thấy cả một phong trào dấy lên bởi nhóm Tea Party, năm nay chẳng có phong trào nào đủ mạnh để lấy thêm ghế cho đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa, tiếng nói của nhóm Tea Party cũng vắng hẳn, phần lớn chỉ ở những đơn vị người của họ tái ứng cử, gần như họ không có thêm ứng cử viên nào mới.”


“Theo tôi,” bà Gibson nói tiếp, “sẽ có thay đổi nhưng rất nhỏ, tới mức được xem là không đáng kể,” chẳng hạn như “bên Cộng Hòa hay bên Dân Chủ lấy được hay mất chừng năm ghế.” Ðiều đó nếu xảy ra, “không ảnh hưởng gì đến tình hình chính trường Hoa Kỳ” dựa theo những gì đã xảy ra trong ba năm qua: Cộng Hòa bỏ phiếu theo Cộng Hòa, Dân Chủ bỏ phiếu theo Dân Chủ, chuyện “bên này ủng hộ bên kia quá hiếm, có thể nói hầu như chưa thấy xảy ra” mỗi khi bàn thảo và bỏ phiếu những đạo luật quan trọng. Vì thế, “Dân Chủ hay Cộng Hòa có mất hay lấy thêm vài ba ghế cũng chẳng ảnh hưởng gì,” cho đến khi “lãnh đạo hai đảng tìm được một giải pháp tương nhượng chính trị mà họ thường xuyên nói tới, nhưng chưa hề thấy thực hiện trong những năm gần đây.”

Cưỡng chế ngôn ngữ

 


Nguyễn Hưng Quốc


 


Ở Việt Nam, mấy năm gần đây, có một chữ khá thịnh hành và thường gây xôn xao dư luận: “cưỡng chế đất đai.” Nhưng việc cưỡng chế ấy không phải chỉ giới hạn ở chuyện đất đai. Từ lâu, chính quyền đã có một hình thức khác: cưỡng chế ngôn ngữ.


Hình thức cưỡng chế ấy có nhiều biểu hiện.


Thứ nhất, nhà cầm quyền cộng sản sử dụng ngôn ngữ như những nhãn hiệu để phạm trù hóa kẻ thù. Ngày xưa, thời kháng chiến chống Pháp, đó là những chữ “thực dân,” “Việt gian,” “địa chủ,” “cường hào” và “tư sản”; sau, thời chiến tranh Nam Bắc, đó là những chữ “đế quốc,” “chủ nghĩa thực dân mới,” “Mỹ ngụy,” “bù nhìn,” “tay sai,” “ác ôn,” “phản quốc” và “phản động”; sau năm 1975, “chủ nghĩa bá quyền,” “chủ nghĩa bành trướng,” “tư sản mại bản,” “tàn dư của chủ nghĩa thực dân” và “phản động”; gần đây, thêm hai khái niệm mới: “diễn tiến hòa bình” và “âm mưu của các thế lực thù địch quốc tế.” Ði đôi với các từ ngữ ấy ấy là vô số các ẩn dụ nhằm phi nhân hóa kẻ thù: “sài lang,” “lang sói,” “ác thú,” “quỷ dữ,” v.v…


Những nhãn hiệu ấy có ba chức năng chính: một, để chụp mũ bất cứ người nào đi ngược lại chủ trương của họ; hai, để phi nhân hóa kẻ thù: kẻ thù tồn tại không phải như những con người mà là như những khái niệm, do đó, việc tiêu diệt kẻ thù không còn nằm trong phạm trù đạo đức thông thường nữa; và ba, để dựng lên những con ngáo ộp hầu một mặt, hù dọa dân chúng; mặt khác, biện minh cho những chính sách cứng rắn, thậm chí, có tính chất khủng bố của họ. Chức năng thứ ba là thuộc tính của mọi chế độ độc tài: Họ luôn luôn cần kẻ thù, cần văn hóa chiến tranh. Nếu không có kẻ thù thì họ thêu dệt ra kẻ thù. Bóng ma của kẻ thù là một cách để vừa tập trung quyền lực vừa đánh lạc hướng dư luận. Ðối diện với cái bóng ma đầy đe dọa ấy, dân chúng nói chung dễ dàng gác bỏ mọi sự hoài nghi hay ý hướng phản kháng.


Thứ hai, đặc biệt suốt cả hai cuộc chiến tranh, 1946-54 và 1954-75, là quân sự hóa các hoạt động ngôn ngữ trong đời thường. Văn học nghệ thuật biến thành hoặc “chiến trường” hoặc “mặt trận” hoặc “trận tuyến”; tác phẩm là “vũ khí”; viết lách là “tiến công”; “nhà thơ cũng phải biết xung phong”; “viết bài thơ trên báng súng”; “vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy/bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”; giới cầm bút biến thành “đội ngũ,” hình thành nên cái gọi là “đội quân văn nghệ” hay “lực lượng sáng tác,” ở đó mọi người đều là những “chiến sĩ cầm bút” và đều tuân theo một “cương lĩnh chiến đấu” và cùng nhau “hiệp đồng chiến đấu.” Thơ trào phúng được xem là một “binh chủng đặc biệt” trong khi các bài ký sự thổi sức nóng của đời sống thực được xem là một “mũi xung kích” hoặc “mũi nhọn tiến công” của nền văn học mới. Một nhà thơ hay một nhà văn trung thành với một vùng sáng tác nào đó thì được gọi là “bám trụ”; đi tiên phong trong một lãnh vực nào đó thì biến thành “ngọn cờ”; tập trung vào việc đả kích địch thì được ví với việc “nổ súng”; thường xuyên phê phán địch thì được biểu dương là “nắm thắt lưng địch mà đánh.” Trong thơ, có những “bài thơ rực lửa chiến đấu”; trong âm nhạc, có “tiếng hát át tiếng bom.”


Vượt ra ngoài phạm vi văn học, ở các lãnh vực khác, cũng thế. Một đám đông, dù chẳng liên quan gì đến quân sự, cũng được gọi là “đội quân”: “đội quân thất nghiệp.” Làm quang đất đai thì gọi là “giải phóng mặt bằng.” Một chương trình có nhiều người tham gia và được nhà nước cổ vũ thì được gọi là “chiến dịch” (ví dụ: “chiến dịch làm sạch đường phố”). Ngày mở đầu của những chiến dịch như vậy thường được gọi là “ra quân” (“Hà Nội ra quân chống ùn tắc giao thông”). Trấn giữ một địa điểm nào đó để làm nhiệm vụ, cho dù chỉ là nhiệm vụ phòng chống lũ lụt, cũng được gọi là “đóng chốt” hay “trực chiến” (“Chính quyền, các cơ quan chủ quản đã cử người đóng chốt, trực chiến tại những địa điểm nhiều nguy cơ lũ tràn về.”) (1). Cách thức ăn uống đặc biệt cho một loại người nào đó trở thành “chế độ” ăn uống. Tự mình dằn vặt suy nghĩ để đi đến một quyết định quan trọng nào đó thì được gọi là “đấu tranh tư tưởng.” Tố Hữu có hai câu thơ tả một cánh đồng hợp tác xã ở miền Bắc: “Hãy xem! Ðồng ruộng cũng chỉnh tề thế trận/Lúa đứng thẳng hàng quyết tâm năm tấn.” Một nhà thơ nào đó, hình như là Trinh Ðường, có câu thơ tả tình yêu: “Tình yêu anh, em ạ, cũng lên nòng.”


Thứ ba là hành chính hóa ngôn ngữ. Ở xã hội nào cũng có lớp từ vựng hành chính riêng. Xưa, có các từ sớ, tấu, chiếu, chỉ, bẩm, báo, trình, với những “quan,” những “cụ,” những “thầy” các loại. Xã hội ngày nay cũng vậy. Cũng có “cán bộ,” có “đồng chí,” có “báo cáo,” có “phương án giải quyết,” có “đăng ký” và “quản lý,” v.v… Chỉ có vấn đề là, khác với các nơi và thời khác, dưới chế độ cộng sản, lớp từ hành chính ấy cứ tràn ra đời sống hàng ngày. Ở mọi nơi. Kể cả những nơi quan hệ giữa người và người không có chút hành chính gì cả.


Cũng có khi đó là chủ trương chung của nhà cầm quyền: Ðể xây dựng một xã hội mới với những con người mới, và đặc biệt, những quan hệ mới, người ta cổ vũ việc sử dụng lớp từ hành chính trong mọi trường hợp. Bạn bè là “đồng chí” của nhau. Những người “đồng chí” ấy không chuyện trò với nhau: Họ “trao đổi” hoặc “báo cáo” cho nhau, rồi “tự phê” và “phê bình” nhau. Sau những “báo cáo” và những “phê bình” ấy, người ta không cần hiểu rõ: Người ta chỉ cần “quán triệt.” Nếu một người còn hoang mang, người khác sẽ tiếp tục giúp “đả thông tư tưởng.” Con trai và con gái không gặp nhau: họ “phát hiện” ra nhau; họ không yêu nhau: họ có “quan hệ tình cảm” với nhau; họ không làm đám cưới với nhau, họ chỉ “đăng ký kết hôn.” Ngày xưa, chỉ có các nhà tư tưởng mới “tư duy” (Tôi tư duy vậy tôi hiện hữu, “Cogito ergo sum,” Descartes), bây giờ, trong quần chúng, ai cũng “tư duy” nên mặt mày ai cũng “khẩn trương” và cũng đầy “bức xúc,” nhất là khi gặp một “sự cố” gì đó mà người ta chưa có “phương án giải quyết.”


Việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy làm xóa mờ ranh giới giữa cái riêng và cái chung, tính chất cá nhân và tính chất tập thể, kích thước xã hội và kích thước chính trị trong đời sống con người. Từ cái nhìn bên ngoài, chúng ta dễ thấy việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy là một sự hài hước, thậm chí, lố bịch, do đó, nó trở thành đề tài của các truyện cười nhạo báng chế độ, kiểu nói chuyện với bố mẹ hay anh em bạn bè mà dùng chữ “báo cáo”; xin kết hôn mà dùng những chữ to tát như “đăng ký” hay “quản lý đời em”; hối thúc một người nào đó mà dùng chữ “hãy khẩn trương lên”… Tuy nhiên, từ cái nhìn trong cuộc, với việc phổ cập của lớp từ vựng hành chính trong đời sống hàng ngày như vậy, nhà cầm quyền đã thành công trong việc nhồi sọ quần chúng, biến mọi người thành một thứ công cụ như được đúc ra từ một cái khuôn duy nhất: người ta không còn sự riêng tư và sự độc đáo nữa.


Thứ tư là tạo nên những từ mới hoặc áp đặt lên các từ cũ một nội dung mới hoàn toàn trái ngược hẳn với hiện thực vốn có. Ví dụ cho loại này nhiều vô cùng: thay cho chữ “trại tù,” họ gọi là “trại học tập” hay “trung tâm phục hồi nhân phẩm”; thay cho chữ “nhồi sọ,” họ gọi là “cải tạo tư tưởng”; thay vì gọi thẳng là tịch thu đất đai của địa chủ, họ dùng chữ “cải cách ruộng đất”; thay vì gọi thẳng tịch thu tài sản của người giàu, họ gọi là “đánh tư sản”; thay cho chữ “làm quan,” họ tự xưng là “đầy tớ nhân dân”; thay cho chữ “độc tài,” họ lại gọi là “làm chủ tập thể”; cán bộ đồi trụy, thay vì nói đồi trụy, họ dùng chữ “hủ hóa”; đối với hiện tượng tham nhũng hay thoái hóa của đảng viên, thay vì dùng chữ “nhiều,” họ dùng chữ “không ít” hoặc “một bộ phận”; thay vì thừa nhận thất bại trước các thử thách, họ dùng cách nói “từng bước khắc phục”; thay vì “bắt lính,” họ gọi là “đi nghĩa vụ quân sự”; thay vì nói đánh chiếm Cambodia, họ nói họ đang làm “nghĩa vụ quốc tế”; thay vì nói “bế tắc,” họ dùng chữ “hạn chế tất yếu”; những gì họ thích thì họ gọi là “bản chất” và “khách quan”; những gì không thích thì họ gọi là “hiện tượng” và “chủ quan.”


Gọi như thế, người ta bất chấp cả sự thật. Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới và những mặt trái của nó đã được vạch trần và đã trở thành hiển nhiên với mọi người, họ vẫn tiếp tục gọi nó là “tiến bộ,” là “đỉnh cao,” là “ưu việt” và là “quy luật phát triển” của lịch sử. Không có tự do bầu cử và cũng không có bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý nào, người ta vẫn khăng khăng nhân danh “ý nguyện của toàn dân” để duy trì sự độc quyền lãnh đạo của mình. Suy nghĩ cũ mèm mà vẫn cứ ba hoa là “đổi mới tư duy.” Gần đây, họ gọi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn là các cuộc “tụ tập tự phát” của quần chúng; tàu Trung Quốc đâm nát tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam ngoài Biển Ðông được gọi là “tàu lạ”; những vấn đề nhà cầm quyền không muốn nghe thì gọi là “nhạy cảm,” v.v…


Có thể nói, với những cách dùng từ hoặc định nghĩa từ ngang ngược như vậy, người ta tiến hành một cách quy mô, kiên trì và có hệ thống một cuộc cưỡng chế trong lãnh vực ngôn ngữ. Hậu quả là nó làm thay đổi hẳn ý nghĩa của rất nhiều từ quen thuộc hoặc làm cho chúng trở thành rỗng tuếch, không còn mang một ý nghĩa gì cả. Những chữ như “cách mạng,” “giải phóng,” “công bằng,” “tự do,” “dân chủ,” “nhân quyền,” “tiến bộ,” “phát triển,” “đỉnh cao trí tuệ,” “làm chủ tập thể,” “quần chúng,” “nhân dân,” thậm chí, cả chữ “yêu nước”… đều nằm trong trường hợp như thế. Ngay cả những chữ đơn giản như “đúng” và “sai,” “thật” và “giả,” “tiến bộ” và “lạc hậu,” “tốt” và “xấu”… cũng không còn nguyên nghĩa của chúng nữa. Trong các cặp đối lập ấy, khái niệm thứ nhất bao giờ cũng được sử dụng cho đảng, hoặc rộng hơn chút, cho “phe ta”; còn khái niệm sau bao giờ cũng thuộc về phe địch. Không có ngoại lệ. Ðã là địch thì phải sai, phải giả, phải xấu và phải lạc hậu. “Ta” thì, ngược lại.


Trong cuốn phim tài liệu “Chuyện Tử Tế,” Trần Văn Thủy đi hỏi ý nghĩa hai chữ “tử tế” và “vĩ đại,” hầu như ai cũng lúng túng. Bây giờ thử hỏi những người Việt Nam bình thường những từ như “tình hữu nghị” hay “láng giềng tốt” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thực sự có nghĩa là gì, hẳn ai cũng thấy hoang mang. Khi những người yêu nước, vì công phẫn trước những thái độ uy hiếp ngang ngược và trắng trợn của Trung Quốc xuống đường biểu tình, bị chính quyền, cũng nhân danh lòng yêu nước, trấn áp, đánh đập, bắt bớ, sỉ nhục và bị xem như một “thế lực thù địch,” người ta không còn thấy đâu là ranh giới giữa yêu nước và bán nước nữa. Bài thơ “Lẫn Lộn Lung Tung” của Bùi Giáng, làm trước năm 1975, có giá trị như một sự tiên tri:


Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ


Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay


Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng


Gọi người sương phụ gái thơ ngây.


 


Chú thích:


(1) Ví dụ này và ví dụ trên được dẫn lại từ bài “Dấu Vết Chiến Tranh Trong Tiếng Việt” của Nguyễn Ðức Dân trên báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 2 tháng 9, 2012.

Nông dân gì thế này?

 


Về “Nông dân Việt Nam gởi thư cho thủ tướng Thái Lan”



Người nông dân VN nầy quả thật có nhiều ý kiến hay, tuy nhiên giữa Thái Lan và VN là hai thể chế chính trị khác nhau nên điều hành quốc gia theo khuynh hướng khác nhau. Thái Lan theo quân chủ lập hiến, dân chúng Thái Lan được hưởng nền dân chủ theo kiểu Tây phương còn VN theo thể chế của Trung cộng nên dân chúng phải chịu luật lệ theo Trung cộng. Cái luật lệ Trung cộng đó là làm cho 1 tỉ 3 triệu dân nghèo đói. May nhờ tư bản phương Tây, tư bản Nhật, tư bản Nam Hàn vì tham nhân công rẻ, lợi nhuận nhiều nên đổ tiền của vào Trung cộng đầu tư, tạo nên khí thế cho Trung cộng để rồi tư bản Mỹ đang sợ Trung cộng xanh mặt.


Kimhoangnguyen


 


Nông dân Ðồng Tháp mà viết hay thế, nông dân gì thế này? Dễ hiểu thôi, người dân nghèo VN khiếu nại bị cướp đất, tống tiền, bị công an đánh chết, bị lừa đi nước ngoài mắc nợ, bị bỏ rơi bên nước khác; tổng lãnh sự VN không giúp đỡ, đi khiếu nại tại tòa án và công an thành phố không trả lời… và bị bắt. Cho nên người dân nghèo tưởng mấy ông cán bộ chính quyền VN không hiểu tiếng Việt, cho nên họ phải gửi thư khiếu nại tới thủ tướng nước Thái Lan (vì nghe đâu thủ tướng Thái Lan biết tiếng Việt rành hơn thủ tướng VN).


hung



Anh ‘giai’ ơi, nông dân nước CHXHCNVN đấy à!!! Ở đấy, thạc sĩ, tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ, v.v. chạy đầy đường…


No question, chỉ cần ‘quét sân’ làm lại từ đầu.


Phạm


 

Bị mất việc vì tố cáo vụ hối lộ cho Lương Ngọc Anh

MELBOURNE (NV) –Người tố cáo công ty thầu in tiền Securency và công ty in tiền của chính phủ Úc (NPA) giao dịch và hối lộ cho một đại tá tình báo của công an CSVN, đã bị yêu cầu im lặng rồi cho nghỉ việc.









Ông Brian Hood, một cựu giám đốc của Securency bị mất việc vì đã chống đối vụ hối lộ quan chức ngoại quốc để giành thầu in tiền giấy nhựa polymer cho Việt Nam và một số nước khác. (Hình: Sydney Morning Herald)


Những lời khai của ông Brian Hood, một giám đốc của Securency, với Cảnh Sát Liên Bang Úc trong cuộc điều tra đặt ra nghi vấn là có phải các viên chức của Quỹ Dự Trữ Liên Bang Úc (RBA) đã có phạm luật không khi nói dối Quốc Hội (trong các buổi điều trần), bao che tham nhũng hay đã trừng phạt kẻ đã đứng ra tố cáo sự sai trái.


Tám viên chức của Securency và NPA đang ra tòa để trả lời cho các cáo buộc liên quan tới hối lộ viên chức ngoại quốc để giành thầu in tiền giấy nhựa polymer. Tại Việt Nam, người bị tố cáo đứng bình phong cầm $20 triệu Úc kim chia lại cho sếp lớn ở Ngân Hàng Nhà Nước CSVN và có thể các cấp cao hơn, là Lương Ngọc Anh, tổng giám đốc Công ty Phát triển Công nghệ AFTD ở Hà Nội.


Theo bản tin của báo The Age nêu ra hôm Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012, ông Hood đã khai với cảnh sát rằng năm 2008 ông đã nêu vấn đề quan ngại về tham nhũng nhưng phó thống đốc RBA là Bob Rankin lại báo cho ông biết là việc làm của ông không còn nữa.


Một cựu phó thống đốc khác, Ric Battellino, tức người mà ông Hood báo động về các người môi giới tham nhũng, đã nói với ông rằng đừng bao giờ nêu vấn đề hối lộ. Sau đó, khi ông Rankin trở thành chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của cả Securency và NPA thì thông báo cho ông Hood nghỉ việc vì “thừa người.”


Những lời khai báo của ông Hood trái ngược với những lời điều trần ở Quốc Hội của ông Thống Ðốc Glenn Stevens rằng các chức sắc cao cấp của RBA không biết gì về chuyện hối lộ quan chức ngoại quốc.


Lời khai của ông Hood cho biết không những vậy, ông đã nêu sự quan ngại với Phó Thống Ðốc Frank Campbell năm 2007 về những vụ hối lộ liên quan đến cả hai công ty NPA và Securency. Ông nói cả với ông Phó Thống Ðốc Mattellino, kiểm toán chính của RBA là ông Paul Apps và bà Helen Brown, luật sư nội bộ của RBA.


Qua lời khai của ông Hood thì từ trên xuống dưới, dấu hiệu cho thấy cả các cấp cao nhất của RBA đã biết vụ việc từ lâu nhưng cố tình ém nhẹm để giữ mối thầu in tiền cho Việt Nam và các nước khác.


Một ngày trước, báo chí Úc đưa tin Cựu Thủ Tướng Úc Paul Keating khi làm tư vấn cho một công ty Úc (Armaguard) được Cục Xúc Tiến Thương Mại Úc (Austrade) giới thiệu với Lương Ngọc Anh năm 2008 để nhờ tay này giới thiệu với các quan chức cao cấp của Việt Nam, nhắm mối thầu tư vấn về quản trị tài chính. Tuy nhiên, công ty Armaguard không tiến tới.










Cựu Thủ Tướng Úc Paul Keating. (Hình: The Age)


Việc này diễn ra dù một năm trước cơ quan Austrade đã gửi một bức thư “tuyệt mật” gửi Securency cho biết tòa Ðại Sứ Úc ở Hà Nội đã điều tra và nói “Lương Ngọc Anh có thể là một viên chức cao cấp ở Bộ Công An hoặc một cơ quan trực thuộc.”


Tuần trước, báo chí Úc tường thuật phiên tòa ngày 6 tháng 9, 2012 cũng cho biết một phái đoàn của Ngân Hàng Nhà Nước CSVN sang Úc cuối năm 2007 đã được cung cấp gái điếm mà chi phí do Securency trả. Trong đó một viên chức trong phái đoàn CSVN còn đòi cung cấp gái “tóc vàng.” (TN)

Người bị công an đạp vào mặt tuyên bố ‘bỏ đảng’

‘Không được sống thật với lương tâm mình’


 


HÀ NỘI (NV) – Ông Nguyễn Chí Ðức, người bị công an đạp vào mặt hồi tháng 7 năm ngoái khi bị bắt trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, vừa tuyên bố ra khỏi đảng cộng sản Việt Nam.









Ðảng viên Nguyễn Chí Ðức bị đại úy công an tên Minh đạp vào mặt khi bị khiêng lên xe ngày 17 tháng 7, 2011 lúc đi biểu tình chống Trung Quốc. (Hình: Dân Làm Báo)


Ông Ðức năm nay 36 tuổi, vào đảng cộng sản Việt Nam từ năm 24 tuổi, tức cách đây 12 năm khi ông còn là sinh viên của Ðại Học Bách Khoa Hà Nội.


Hôm 13 tháng 9 năm 2012, ông Nguyễn Chí Ðức nộp đơn cho Chi Bộ Phòng Ðiều Hành thuộc Trung Tâm Dịch Vụ Khách Hàng-Viễn Thông Hà Nội, thông báo quyết định ra khỏi đảng với lý do “không còn phù hợp để đứng trong hàng ngũ của đảng cộng sản Việt Nam.”


Ông Ðức nói trong lá đơn về việc ra khỏi đảng là sau “một quá trình dài suy nghĩ nghiêm túc trước khi quyết định.”


Ông Nguyễn Chí Ðức là người đột nhiên nổi tiếng hồi năm ngoái khi đi biểu tình chống Trung Quốc ở trung tâm thành phố Hà Nội cùng với nhiều người khác vào ngày 17 tháng 7.


Khi đàn áp người biểu tình, ông Ðức bị một nhóm công an mặc thường phục bắt giữ, khiêng và ném lên xe buýt. Ðồng thời ông bị một đại úy an ninh tên Minh dùng chân đạp vào mặt.


Hình ảnh cùng video clip của cảnh này ngay sau đó được phổ biến nhanh chóng và rộng rãi trên mạng Internet toàn cầu khiến dư luận vô cùng phẫn nộ vì hành xử hung bạo của công an đối với những người biểu tình chống bá quyền Trung Quốc.


“Dùng từ ‘đánh’ trong ngoặc là còn nhẹ đấy. Em là thằng trong bức hình đó đây, em đã bị khống chế như con lợn… nhưng mấy đồng chí công an này còn đạp (sút) tổng cộng 4 phát. Ðạp từ trên đạp xuống trong lúc mình đang còng queo.” Nguyễn Chí Ðức trả lời trên blog Nguyễn Xuân Diện sau vụ việc.


Trong thư thông báo bỏ đảng, Nguyễn Chí Ðức gián tiếp cho hiểu, qua một số câu hỏi tự đặt ra, ông bất bình trước đường lối độc tài của đảng khiến các đảng viên phải giả dối.


Không muốn tiếp tục như vậy, ông đã “có những hành động, phát ngôn, bài viết, gặp gỡ một số đối tượng trái với cương lĩnh, điều lệ đảng.”


Vì vậy, “Mặc dù đã được đảng ủy, chi bộ ‘giáo dục’ và chiếu cố nhưng tôi cảm thấy thực sự mình không còn phù hợp để đứng trong hàng ngũ của ÐCSVN nữa. Nếu sự việc còn tiếp tục kéo dài thì điều đầu tiên tôi tự làm khổ và không sống thành thật với lương tâm của chính mình.”


Ông Ðức cho hay, ông không muốn góp ý xây dựng, chỉnh đốn đảng làm gì vì “trong quá khứ đã có nhiều cựu tướng lãnh, lão thành cách mạng, trí thức tên tuổi có nhiều cống hiến cho chế độ đã viết thư ngỏ/phát biểu nhằm bày tỏ thiện chí xây dựng đảng nhưng đều hoài công vô ích thì ý kiến của một đảng viên tầm thường như tôi chỉ tổ lố bịch thêm.”


Cuối cùng Nguyễn Chí Ðức viết trong thư là những người trẻ tuổi của Việt Nam ngày nay “tuổi trẻ của họ rất can đảm dấn thân không hề vụ lợi, sợ hãi ngục tù, phần lớn cuối cuộc đời họ vẫn giữ được đức tính trong sạch, giản dị. Ðó là những yếu tố căn bản cho người thanh niên có ý định góp phần cải tạo xã hội, tham gia các hoạt động chính trị nói chung.”


Con số đích thực đảng viên đảng CSVN hiện nay là bao nhiêu, không có con số thống kê đáng tin cậy nào được công bố. Số đảng viên gia nhập đảng hay bỏ đảng hàng năm, hiếm hoi thấy đưa tin nhưng cũng không mấy ai tin đó là những con số thật.


Tháng 4 vừa qua, Nguyễn Chí Ðức gửi một bức thư ngỏ đến Bộ Chính Trị (nói rõ là ngoại ‘trừ Nguyễn Tấn Dũng’) phổ biến trên Blog Ðông Hải Long Vương “yêu cầu lưu tâm đến uy tín của đảng đối với quần chúng.”


Bức thư ngỏ phản ứng về một loạt những bài viết trên báo “lề phải” đả kích, dựng đứng để bêu xấu bà Bùi Minh Hằng, một thành viên tích cực đi biểu tình chống Trung Quốc bá quyền rồi bị nhốt ở cơ sở “giáo dục” Thanh Hà ở tỉnh Vĩnh Phúc, thực chất là một nhà tù của công an.


Ông Ðức cảnh cáo rằng, “Khi người ta vượt qua nỗi sợ hãi, vượt qua sự đau thương, vượt qua sự u mê ngu tối thì người ta không còn sợ nữa khi đó một cuộc cách mạng về tư tưởng sẽ diễn ra. Ban đầu, tự thân mỗi người dân tự giác ngộ, trong ÐCSVN thì các đảng viên tự diễn biến đến một lúc chín muồi, đủ lượng thì cái gì đến nó sẽ phải đến.”


Nay thì Nguyễn Chí Ðức dứt khoát chọn lấy đường đi cho mình. (TN)


 

Phở Gà Nhân Sâm – Món ăn mới tại Philadelphia


Người Việt Ðông Bắc


PHILADELPHIA (NVĐB) – Tiệm Phở Hà Sài Gòn trong khu siêu thị Bến Thành (Oregon Supermarket) vừa cho lên thực đơn một món ăn lạ kết hợp giữa hương liệu Sâm Hoa Kỳ và thịt gà tươi, đặc hữu tại Philadelphia.










Chủ tiệm Long Gà-Woodland đang nói về giống gà “ngon nhất thế giới” – Gà Trĩ Trân Châu.


Sau những ngày tháng tìm tòi chế biến, chị Hà chủ tiệm đã tìm ra công thức Phở Gà Nhân Sâm (Nhân Sâm Kê Phấn) được các giới thưởng thức khen là một sự sáng tạo độc đáo, hương vị tỏa ngát thơm ngon không thể nào bỏ qua được trong mùa Thu này.


Hương vị Nhân Sâm Hoa Kỳ kết hợp với món gà hầm là một khoa ẩm thực rất phổ biến trong Trung Y. Gà hầm nhân sâm chính ra là một vị thuốc có tính chất bồi bổ thể trạng. Khi kết hợp này xảy ra trong món phở gà là một sự thích ứng nguyên liệu cao cấp đã sẵn có trên đất Hoa Kỳ. Nhân Sâm Hoa Kỳ trồng ở Wisconsin có hương vị nồng hậu, đặc biệt là không tạo màu sắc để phá hỏng màu trong sáng của nước phở gà.









Ca sĩ Bằng Kiều trước tiệm phở Thanh Thanh khi đến diễn ở Philadelphia. Thanh Thanh được xem là một trong những tiệm phở gà tươi đặc sắc nhất trong thành phố.


Theo chị Hà, hương vị nấu phở thường dùng từ quế và thảo quả nhưng hai thứ này đều tạo nên màu đen hoặc vàng do đó rất khó để tạo nên hương vị và màu sắc hoàn hảo. Bí quyết “khử màu” của chị Hà đã gói trọn trong gói hương liệu “Quả Cầu Bà Hà” mà nhiều tiệm phở khác đang mua dùng. Tuy nhiên, khử phở bằng Sâm Hoa Kỳ mới là một nét ẩm thực mới, có thể biến Phở Sâm thành một món ngon, đưa văn hóa Phở lên một giai điệu mới.


Pennsylvania là một tiểu bang cho bán gà vịt tươi, giết mổ ngay tại tiệm. Nhiều tiệm phở ở Philadelphia bán phở Gà Tươi như là món chánh. Ðặc sản này đã biến nhiều du khách Việt Nam đi xuyên bang trên I-95 dừng chân tại Philadelphia chỉ ăn món phở gà rồi đi tiếp. Nhiều tiệm phở gà Philadephia, thực khách phải đứng sắp hàng vì “thực sự nó ngon” hơn phở gà California. Có những tiệm phở cố tình mọc ngay sát bên tiệm gà sống để ghi lại ấn tượng với thực khách rằng là gà ở đây là tươi nhất vì có tiệm gà nằm bên cạnh. Thực khách ăn phở xong lại sang tiệm mua gà vịt sống coi như là hai tiệm bổ sung thương vụ cho nhau. Sức cạnh tranh của các tiệm phở, tiệm gà sau này vì thế càng tăng mạnh.










Gà trĩ Trân Châu


Nhiều thực khách cho rằng phở gà ở Philadelphia còn ngon hơn bất cứ tiệm phở gà nào ở Việt Nam. Ca sĩ Bằng Kiều trong một chuyến lưu diễn ở Philadelphia nhất định phải đi ăn Phở Gà Thanh Thanh dưới gầm cầu chứ không ăn món nào khác và cũng thừa nhận điều này phở gà ở Philadelphia là ngon nhất thế giới vì điều kiện nguyên liệu của nó.


Ngoài ra Philadelphia còn có bán một loại gà sao mà các chủ tiệm thường gọi tên là Gà Trĩ Trân Châu. Ðây là một chủng loại gà rừng (bán thuần hóa) được nông trại đem về nuôi thả giới hạn để ăn. Ðặc sản này không phổ thông trong văn hóa ẩm thực của Hoa Kỳ. Theo chị Bảnh, chủ tiệm gà sống ở đường Woodland cho biết, đây mới là loại gà ngon nhất thế giới, Việt Nam không có. Trong loại gà này có hương thơm ngọt ngào như mùi của gà rừng, nhưng các thớ thịt mềm và dai một cách đặc biệt. Cũng theo bà chủ tiệm gà sống thì bí quyết để có hương vị gà như thế này là do nông trại để gà trĩ phối giống với gà nhà đã được thuần hóa lâu đời hơn. Ðến đời “Gà Trân Châu” nó vẫn còn biết bay cho nên chăn nuôi loại này rất khó. Tuy nhiên, thịt Gà Trân Châu này là “Thiên Hạ Ðệ Nhất Kê” rất phổ biến trong cộng đồng người Việt tại Philadelphia. Nhiều khi đi xuyên bang, tặng bà con bạn bè món gà Trân Châu thực sự là một cử chỉ quý hóa tình cảm.


Thế rồi, đặc sản sẵn có, Phở Gà Nhân Sâm như là một khai phá tầm cao của phở, chắc chắn sẽ trở thành trào lưu. Cũng theo chị Hà, nhiều người tìm cách nấu phở bằng các hương liệu cao lương mỹ vị như bằng bò Kobe của Nhật Bản. Theo chị, nguyên liệu như thế này là không thực chất. Nếu hầm bằng bò Kobe là một sự lãng phí ghê gớm, còn tái bằm tái nạm bằng bò Kobe thì không đúng cách ăn. Ngoài ra, chưa nói đến thứ thịt bò cao cấp này là sản phẩm mang tính huyền thoại trên thị trường ngoài Nhật Bản.









Chủ tiệm Phở Hà Sài Gòn đang nói về bí quyết Phở Gà Nhân Sâm (Nhân Sâm Kê Phấn) theo sự điều chỉnh hương liệu đặc biệt, điều vị theo cao lương mỹ vị của thuốc Bắc. Chị Hà là người Việt gốc Hoa từng mở năm tiệm phở tại Philadelphia.


Cũng theo chị Hà, nhân sâm Hoa Kỳ cũng là một đặc sản tối quý trong hàng tứ quý “Sâm-Nhung-Quế-Phụ.” Sâm Hoa Kỳ trồng tại Hoa Kỳ của bang Wisconsin có hương vị đặc biệt của mùi bạch sâm nhẹ nhàng thanh thoát. Tuy nhiên, nếu điều chỉnh lệch nồng độ là hỏng ngay tô phở.


Chị Hà tin rằng Phở Gà Nhân Sâm sẽ là sức cạnh tranh mới trong văn hóa nấu phở. Phở Việt Nam sang tới California đã thành danh. Nhiều người Việt không biết rằng trong phố Tàu thường có các tiệm xưng Phở Vua California (Gia Châu Phấn Vương) do người Hoa làm chủ, chính là một phát triển vượt xa khỏi ẩm thực Việt Nam.


Chị cũng tin rằng, Phở Gà Nhân Sâm dùng sâm Wisconsin đặc hữu có USDA bảo chứng sẽ đưa “Quả Cầu Bà Hà” trở thành một thương hiệu mới cho các cửa tiệm sau này.


 

Thăm lại tuyến đầu

 


 Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Bài thơ Tháng Sáu tặng riêng anh


Tâm sự ngàn phương trải quách thành


Ngắm mãi bình minh soi dĩ vãng


Ðường xưa, tưởng nhớ khúc quân hành


 


Quốc quân kỳ rực rỡ hồn mơ


Sinh nhật anh, đơn vị ngóng chờ


Mười chín, âm vang hồi trống lệnh


Phút “khai quân hiệu” đẹp lòng thơ


 


Thành đang rêu phủ khói sương bay


Em đã về ư, chứng tích này


Doanh trại Nguyễn Tri Phương uất hận


Tóc anh trắng bạch tựa bè mây


 


Mồ hôi, nước mắt, ướt vai nhau


Thấp thoáng bên sông ở tuyến đầu


Những dấu chân buồn tan nát cũ


Người đi, kẻ ở, vẫn cùng đau


 


Mấy mươi năm gởi lại quê hương


Trận mạc mênh mông lắm đoạn trường


Lửa đạn buồn tênh hiu hắt khói


Nơi nào đất nước cũng tang thương.

Tin mới cập nhật