Hội quán Lạc Cầm tổ chức kỷ niệm 2 năm


WESTMINSTER (NV) –
Sau chuyến đi show dài ngày tại một số tiểu bang xa, nhạc sĩ Sĩ Dự cho nhật báo Người Việt biết kế hoạch hoạt động của hội quán Lạc Cầm trong thời gian sắp tới.










Ca sĩ Quang Tuấn. (Hình: ca sĩ cung cấp)


“Ðể kỷ niệm đúng hai năm hoạt động của chúng tôi, ngày 24 Tháng Mười này sẽ có một đêm nhạc rất đặc biệt gọi là ‘2 year anniversary of Lac Cam’” anh Sĩ Dự nói thêm buổi nhạc đặc biệt này sẽ quy tụ tất cả những tiếng hát, khuôn mặt đã từng đến chơi, cộng tác với Lạc Cầm trong hai năm qua, dĩ nhiên sẽ có một chương trình văn nghệ đặc sắc không thể nào bỏ qua được.


Theo anh Sĩ Dư,ỳ đêm 24 Tháng Mười chương trình sẽ được bắt đầu từ 8:30 tối, tại địa chỉ 15041 Moran St # 103, Westminster CA.


Anh cho biết chương trình sẽ được “open” cho mọi người đến tham dự, thành phần ca nghệ sĩ đêm ấy hứa hẹn sẽ có nhiều lắm các ca sĩ tên tuổi đến góp mặt.


“Khách đến chơi đêm ấy sẽ chỉ mua nước uống mà thôi” anh Sĩ Dự nhắc nhở.


Một hoạt động khác cũng khá ly kỳ, hấp dẫn đó là nhân dịp hai năm kỷ niệm hội quán Lạc Cầm, một nhóm các anh chị em ca sĩ tên tuổi đã từng tham gia những chương trình tại Lạc Cầm trong suốt thời gian vừa qua sẽ cùng nhau “kéo quân” lên miền Bắc California, thành phố San Jose.


“Hai đêm nhạc ấn tượng sẽ được tổ chức ngày 26 và 27 Tháng Mười tại Paloma Café, 1111 Story Rd., suite 1003, San Jose CA 95102, chương trình bắt đầu lúc 7:00 tối,” anh Sĩ Dự cho biết thêm, đêm nhạc mang chủ đề “Tự Tình” giới thiệu tiếng hát của Quang Tuấn với Hoàng Lan (ca sĩ từ San Jose) và một số tiếng hát từ Lạc Cầm.


Giá vé: $50 VIP, $35 đồng hạng.


Liên lạc: (408) 277-0922. (Ð.T.)

Đêm nhạc ‘Ngọn Nến Yêu Thương’ lần 9


Ðức Tuấn/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) –Cứ mỗi năm Hội Bạn Người Nghèo, Mồ Côi & Khuyết Tật đều tổ chức chương trình nhạc hội “Ngọn Nến Yêu Thương” để gây quỹ giúp người nghèo khuyết tật tại Việt Nam.









Ông Nguyễn Phan đứng bên cạnh chai rượu đỏ do Ðức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận gửi tặng, chai rượu này sẽ được mang bán đấu giá. (Hình: Ðức Tuấn/Người Việt)


Năm nay cũng thế, đêm văn nghệ “Ngọn Nến Yêu Thương” lần thứ 9 sẽ được bắt đầu vào lúc 6:30 chiều ngày Chủ Nhật, 21 Tháng Mười, tại nhà hàng Seafood Palace, 6731 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683.


“Hội Bạn Người Nghèo, Mồ Côi & Khuyết Tật được chính thức thành lập năm 2004, trước đây tôi là thành viên của Board Director của Hội Người Cùi, sau một chuyến đi Việt Nam tôi thấy có nhiều em bé sống sao mà lam lũ, không được đi học, khổ quá, nên đến khi về lại đây tôi và một số anh em quyết định thành lập Hội Bạn Người Nghèo, Mồ Côi & Khuyết Tật,” ông Nguyễn Phan, hội trưởng của hội này nói.


“Hiện nay Hội Bạn Người Nghèo, Mồ Côi & Khuyết Tật có giấy phép hoạt động từ chính phủ liên bang, tiểu bang cấp, chúng tôi cũng có giật Tax ID đầy đủ,” ông Phan chia sẻ.


Cũng vẫn thông tin từ ông Phan cho biết sau mỗi lần tổ chức nhạc hội gây quỹ như thế, thu được bao nhiêu tiền, trừ hết tất cả những số tiền chi tiêu còn lại bao nhiêu là nhóm của ông mang về Việt Nam trao tận tay đồng bào nghèo, cứu giúp những gia đình neo đơn, trẻ em khuyết tật…


“Mỗi chuyến đi chúng tôi đều có chương trình hoạt động như thế nào? Cũng may mắn tại Việt Nam chúng tôi có hai bệnh viện lúc nào cũng sẵn sàng hỗ trợ công tác nhân đạo này, sau khi về đến Việt Nam chúng tôi lập tức mướn hai chiếc xe và có cả xe cứu thương chạy trước mở đường, để cả đoàn gồm rất nhiều các bác sĩ, y sĩ và y tá từ hai bệnh viện nói trên tình nguyện đi giúp đỡ người nghèo ở tỉnh xa xôi,” ông Phan nói thêm tất cả các bác sĩ, y sĩ đi với đoàn cứu trợ, khám bệnh cho đồng bào nghèo như thế đều không nhận tiền thù lao, ngoại trừ những khoản tiền mướn xe, ăn ở tại các khách sạn thì được trích tiền từ hội để chi phí.


“Cứ trung bình mỗi ngày đoàn bác sĩ khám bệnh cho khoảng 1400 bệnh nhân, có chứng kiến tận mắt mới thấy thật ra còn rất nhiều người tại Việt Nam cả đời chưa một lần đi khám bác sĩ hay thậm chí có em bé không biết đến viên kẹo ngậm là gì.” Bởi vậy theo ông Phan đi cứu giúp cho các đồng bào, các em khuyết tật, mồ côi là một hình thức tạ ơn Trời Ðất, Thiên Chúa hay Phật Thích Ca đã cho mình cơ hội sang tới Mỹ sinh sống, con cái ăn học thành đạt, gia đình hạnh phúc.”


Ông Phan kể lại câu chuyện của ông Tống Phước Phúc ở Nha Trang, người đã làm công việc đi nhặt xác các hài nhi chết vất trong các thùng rác bệnh viện suốt từ năm 2001, theo câu chuyện năm 2001 vợ ông Phúc có bầu khó sanh trong bệnh viện, ông Phúc ra đứng giữa Trời cầu xin cho vợ ông được sanh đẻ “Mẹ Tròn Con Vuông” sau đó ông hứa sẽ làm việc thiện trả ơn cho Ðời, chính vì thế từ năm 2001 ông Phúc bắt đầu đi lượm nhặt những thai nhi chết oan, vô thừa nhận về chôn cất đàng hoàng, “Ðôi khi có những xác hài nhi bị vất bỏ lâu quá nên bị chó tha, ăn đứt tay, cụt chân… Ông Phúc mang những thai nhi ấy về rửa lại đàng hoàng và mang đi chôn,” ông Phan kể, còn có những thai nhi còn sống thì anh Phúc mang về nuôi nấng, hiện nay anh nuôi khoảng 100 bé như thế.


Ông Phan cho biết số tiền gây quỹ được năm nay dự định sẽ sớt chia, hỗ trợ cho anh Tống Phước Phúc để anh có thể lo lắng cho các cháu bé được hoàn hảo hơn.


Nhìn vào tờ flyer của nhạc hội gây quỹ “Ngọn Nến Yêu Thương” kỳ 9 năm nay là một số những anh chị em ca nghệ sĩ có lòng, có tâm sẵn sàng cống hiến lời ca tiếng hát của mình để gây quỹ giúp cho Hội Bạn Người Nghèo, Mồ Côi & Khuyết Tật, họ là những khuôn mặt như Diễm Liên, Tâm Ðoan, Tiến Dũng, Hoài Phương, Thúy Anh, Khánh Hoàng và Trần Ngọc.










(Hình: Ca sĩ cung cấp)


Dẫn chương trình là các MC Thụy Trinh, Ngọc Ân, Khánh Hoàng, Ðỗ Tân Khoa.


Ban nhạc Moon Flower Band.


“Cho đến hôm nay chúng tôi bán được khoảng trên 50 bàn tiệc, trong đó có khoảng 20 bàn là VIP,” ông Phan nói chỉ còn lại vài bàn nữa thôi là đêm nhạc “sold out” và đó là điều ban tổ chức mong đợi.


Giá vé: Ðồng hạng $30 (bao gồm ẩm thực/7 món).


Vé bán tại: Tú Quỳnh: (714) 531-4284; Bích Thu Vân: (714) 897-4519.

Cựu ký giả VNCH gặp mặt: ‘Nhậu một bữa tỏ lòng tri ân!’


 


Hà Giang/Người Việt


 


Mỗi cuối tuần Little Saigon và những vùng phụ cận có trung bình khoảng 30 buổi họp mặt, dạ tiệc lớn nhỏ của nhiều tổ chức và hội đoàn người Mỹ gốc Việt, đa số đều được giới báo chí phổ biến, đưa tin rộng rãi.









Cụ Thái Lân, 88 tuổi, cựu tổng thư ký nhật báo Chính Luận, cụng ly với bạn bè làng báo trong buổi họp mặt tại nhà hàng Brodard Chateau một buổi tối Thứ Bẩy cuối Tháng Chín. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Bữa tiệc thân mật trên lầu của nhà hàng Brodard, vào một tối Thứ Bẩy cách đây không lâu, tuy không ai đưa tin, không có thông báo, nhưng được nhiều người cho rằng là một buổi họp mặt rất đặc biệt, hiếm quý, quy tụ những tên tuổi lớn, thuộc nhiều thế hệ của làng báo chí Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) từ thập niên 1960s.


Thập niên sáu mươi! Ðã hơn năm mươi năm rồi à? Có người giật mình hỏi.


Ðúng thế! Ðã hơn nửa thế kỷ. Quanh phòng, những khuôn mặt thân thiết một thời nhìn nhau. Những mái đầu giờ đã bạc, nhưng ánh mắt, nụ cười, đâu đó còn thấp thoáng nét cố hữu của từng người, từng cá tính. Nhìn kỹ hơn mường tượng còn thấy được trước mắt một bài viết đầy “chất lửa,” một cái tít động trời nào đó.


Giới thiệu mục đích buổi họp mặt, ký giả Lê Phú Nhuận cho biết một hôm chuyện trò, ông và ký giả Lê Thiệp chợt nhận ra là mình “có phần thờ ơ với các đàn anh trong làng báo” rồi hỏi nhau “tại sao mình không có một buổi gặp mặt nhỉ?” Thế thôi, rồi sau một vài cuộc điện thoại trao đổi, bữa tiệc thành hình.


“Chẳng có mục đích gì to lớn cả, chỉ gặp nhau, nhậu một bữa tỏ lòng tri ân.” Ông Lê Thiệp khẳng định.


Nhậu một bữa tỏ lòng tri ân. Một người trong cử tọa lập lại câu nói, biểu đồng tình.


“Cụng ly đi!” Một người khác đề nghị.


Thực khách ở mọi bàn giơ cao ly. Chút rượu vang đỏ làm mềm môi và làm kỷ niệm thêm chập chùng.


Nhưng không chỉ nhậu, giữa những lời thăm hỏi, những ánh mắt bao xúc động, ba khuôn mặt được xem là những bậc trưởng thượng đáng kính nhất trong làng báo được vinh danh. Cụ Thái Lân, 88 tuổi, cựu tổng thư ký nhật báo Chính Luận, cụ Thanh Thương Hoàng, trên 80 tuổi, cựu trưởng ban phóng viên báo Chính Luận, chủ tịch Nghiệp Ðoàn Ký Giả VNCH, và nhà văn Trần Phong Vũ. Mỗi người được trao tặng một vòng hoa tím, do chính người thân mình choàng vào cổ.









Chủ nhiệm nhật báo Người Việt Phan Huy Ðạt (trái) tâm sự với cụ Thái Lân, một bậc đàn anh trong làng báo. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Nhận tấm tình của thân hữu bằng cảm xúc ngập giọng, cụ Thái Lân tâm sự bằng lối nói của riêng mình:


“Tôi chỉ là một người nhà nông, ngỡ ngàng cảm động quá! Tưởng hôm nay chỉ đến gặp bạn bè, ăn một bữa cơm, không ngờ nhà hàng to tát, khung cảnh sang trọng quá, lại gặp nhiều tên tuổi lớn trong làng báo. Vinh hạnh thật quá nặng, không gánh nổi.”


“Cụ Thái Lân thì lúc nào cũng khiêm cung thế đấy. Cứ lúc nào cũng chỉ nhận mình là một ông nhà nông, chẳng biết làm báo làm chí gì, cứ làm đại, nhưng không ai chăm chút tờ báo kỹ hơn cụ, hay hơn cụ.” Một người nói.


Bữa cơm thân mật thêm ấm cúng với những lời phát biểu, đúng ra là những lời tâm sự, của những người có mặt.


Nhà văn Lê Thiệp nhắc lại sự sụp đổ của nền Ðệ Nhất VNCH, năm 1963, đẩy ông và bạn bè, lúc bấy giờ ở tuổi mới lớn, vào những “thay đổi lớn lao” của thời cuộc, và đưa ông vào làng báo.


“Làng báo, tại sao lại gọi là làng báo nhỉ? Nhìn quanh, tôi chẳng thấy lũy tre xanh, cũng chẳng thấy con đê đầu làng, chẳng hiểu hai chữ làng báo ở đâu mà có.” Ông nói.


Làng, một tên gọi thật thân thiết, gần gũi. Chẳng ai có câu trả lời, và có lẽ câu trả lời cũng không mấy quan trọng, vì dường như ai cũng thấy rằng nếu không gọi là “làng báo” thì chẳng có chữ nào nói về sinh hoạt của giới truyền thông hay hơn chữ làng cả.


Cụ Thái Lân tâm sự với một người thân rằng xưa kia nhặt sạn ở Chính Luận, giờ đây thú vui của cụ là đọc báo Việt Ngữ ở hải ngoại để “nhặt sạn.” Chợt ước ao hôm nào được xem hộp sạn của cụ. Chắc nặng lắm.


Ký giả Lê Phú Nhuận bảo yêu nghề thì yêu nghề thật, nhưng đã “dọa người con trai” khiến cậu đổi ý không muốn học Journalism nữa:


“Tôi bảo cháu nó, nếu con có đủ năng lực để làm một công việc cần mình suy nghĩ 24 tiếng một ngày, thì cứ theo đuổi ngành báo. Nghề báo đòi hỏi con lúc nào cũng phải theo dõi, phải để ý, phải bén nhạy, để không thiếu tin, sai tin và nhất là để lỡ một biến cố nào đó.”


Ký giả Vũ Ánh, một thời miệt mài với tờ Chính Luận, nói với các cụ Thái Lân, Thanh Thương Hoàng, và những bậc đàn anh có mặt:


“Những gì quý vị để lại nhiều lắm, lớn lắm, đàn em không thể không chịu ảnh hưởng. Các cụ là những đại thụ để cho cành nhỏ có chỗ trèo lên, vươn ra.”


Nói đến đại thụ và cành nhỏ, tối hôm đó, giới báo được chia thành nhiều thế hệ. Bên cạnh những Thái Lân, Thanh Thương Hoàng của thập niên 1960s là những mái đầu tóc đen còn lác đác như của Lê Thiệp, Ngọc Hoài Phương, Vũ Ánh, Nguyễn Tuyển, Phan Huy Ðạt. Có thế hệ chỉ làm báo ở Việt Nam, có thế hệ bắc cầu, cầm bút từ Việt Nam qua đến bên này. Ban biên tập của nhật báo Người Việt hiện thời, mà đại diện là chủ bút Phạm Phú Thiện Giao, được xem là thế hệ trẻ nhất, chỉ làm báo ở hải ngoại.


Chủ nhiệm nhật báo Người Việt, ông Phan Huy Ðạt cho biết làm báo tiếng Việt ở nước ngoài “có những đặc biệt của nó,” và hân hoan khoe là đã tuyển được một loạt phóng viên trẻ, chẳng hạn như nữ phóng viên Thiên An, ở tuổi 25, thế hệ tiếp nối bước chân các bậc tiền bối.


Phát biểu cảm tưởng, Phạm Phú Thiện Giao nói:


“Ðược ngồi chung một phòng với những cây cổ thụ trong làng báo là một điều vinh hạnh. Và vinh hạnh có nghĩa là trên con đường báo chí, luôn nhớ lại những hình ảnh cha chú để học hỏi và động viên chính mình.”


Một phút xúc động bất ngờ xẩy ra khi hai tờ báo Chính Luận cũ được bọc trong bao nylon do ký giả Ngành Mai, người có công cất giấu và giữ gìn cả một di sản lớn của báo Chính Luận, mang đến, được mọi người bu quanh.


Mọi người chăm chú lật xem từng dòng, đọc từng chữ, thậm chí có người mở bao nylon để lật từng trang báo, khiến “chủ nhân” Ngành Mai nhấp nhỏm, chỉ sợ tờ báo quý bị hư hại.









Ký giả Lê Phú Nhuận (phải) đưa cho đồng nghiệp, cụ Thanh Thương Hoàng, cựu trưởng ban phóng viên báo Chính Luận (trái), và cụ Thái Lân nhìn lại số báo Chính Luận in năm 1964. Ký giả Lê Thiệp điều khiển chương trình đứng phía sau. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Cụ Thái Lân chìm sâu trong kỷ niệm khi được mời đứng trước một số báo Chính Luận phát hành năm 1964. Một tựa đỏ hai hàng chạy ngang suốt tờ báo, có lẽ khiến chính bản thân cụ, giờ đây nhìn lại cũng phải giật mình:


“Chận đứng tình trạng lòng người ly tán, cứu vãn thế nước bấp bênh


PHẢI THAY NGƯỜI TRỊ NƯỚC, PHẢI ÐỔI CÁCH AN DÂN?”


Chắc chắn thực hiện được số báo đó, cụ và ban biên tập đã phải tốn biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, và chắc chắn là tâm huyết.


Vì không có tâm huyết thì người làm báo không cầm bút mà chỉ là người đi kiếm cơm.


Ðêm đã khuya, tiệc tàn rồi, nhưng chưa ai muốn về. Bịn rịn, lưu luyến mãi cho đến giờ nhà hàng đóng cửa.


Biết còn có dịp nào gặp lại được đủ từng ấy khuôn mặt?


 


–––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Ông Phaolo Lục Phương Tiến

Ông Nguyễn Tiến Đức

Ông Antôn Nguyễn Ngọc Hải

Phương Phi Hùng

Ông Nguyễn Tiến Đức

Bà Phạm Thị Hường

Ðại Việt Cách Mạng Ðảng tổ chức lễ giỗ Chủ Tịch Hà Thúc Ký

Nguyên Huy/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Sáng Chủ Nhật, 14 Tháng Mười tới đây, khu bộ Ðại Việt Cách Mạng Ðảng Nam Cali sẽ tổ chức lễ giỗ cố Chủ Tịch Hà Thúc Ký tại chùa Ðiều Ngự, 14472 Chestnut Street, Westminster, CA 92683.










Bàn thờ với di ảnh cụ Hà Thúc Ký trong một buổi lễ tưởng niệm hồi năm 2008. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Ông Nguyên Dzuy, bí thư chi bộ Nam California, cho biết: “Lễ Giỗ là dịp để anh em trong đảng và thân hữu tưởng nhớ đến công lao của một nhà tranh đấu cách mạng trong suốt thời gian đất nước phải qua nhiều giai đoạn từ thực dân Pháp qua thời cách mạng dân tộc 1945 bị cộng sản chiếm đoạt đến thời quốc gia với cựu hoàng Bảo Ðại rồi Ngô Ðình Diệm hạn chế hoạt động của các đảng phái quốc gia và sau cùng là trong nền đệ II Cộng Hòa, lãnh tụ Hà Thúc Ký đã cùng các đảng viên hoạt động tích cực trong các cơ quan công quyền và quân đội của VNCH. Sau 30 Tháng Tư 1975, ra được nước ngoài, Lãnh Tụ Hà Thúc Ký lại hết lòng đi đó đây để vận dụng các đảng viên lưu lạc hầu phục hoạt được hoạt động của đảng là ‘Vì Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền cho Việt Nam.’”


Ðại Việt là tên gọi chung của các hệ phái Quốc Dân Ðảng của Liệt Sĩ Nguyễn Thái Học. Một trong những hệ phái đó được nhà hoạt động cách mạng Trương Tử Anh thành lập vào năm 1939 chủ trương đấu tranh vũ trang có ảnh hưởng lớn trong hoạt động bí mật của các “hội kín” chống lại thực dân Pháp và bị Pháp lùng diệt dữ dội. Vì có ảnh hưởng lớn trong dân chúng nên vào thời gian dân tộc đứng lên làm cuộc Cách Mạng 19 Tháng Tám, lãnh tụ Trương Tử Anh đã mất tích. Nhiều người tin rằng cộng sản đã thủ tiêu khi họ giành được chính quyền từ cuộc cách mạng của toàn dân.


Cái chết của nhà lãnh tụ Trương Tử Anh đã khiến Ðại Việt Cách Mạng Ðảng phân hóa vì mâu thuẫn về cách thức tổ chức và giữa các lãnh đạo trung ương dẫn đến việc ai về sứ bộ ấy hoạt động theo những đường lối riêng rẽ. Ông Hà Thúc Ký gốc miền Trung nên đã trở về xứ ủy miền Trung hoạt động và thay ông Bửu Hiệp làm xứ trưởng. Ðến thời đệ I Cộng Hòa, trong chủ trương hạn chế tối đa các hoạt động đảng phái trừ Cần Lao Nhân Vị Ðảng của ông Ngô Ðình Nhu, Ðại Việt và ông Hà Thúc Ký bị theo dõi khít khao không thể hoạt động được gì nên ông Hà Thúc Ký phải qua Pháp chờ đợi thời cơ. Theo nhiều đảng viên Ðại Việt tiết lộ thì cuộc đảo chánh của Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi năm 1960 và cuộc oanh tạc dinh Ðộc Lập Tháng Hai năm 1962 của phi công Phạm Phú Quốc nơi trú ngụ của gia đình họ Ngô do từ sự chỉ đạo của Ðại Việt và những ý kiến của ông Hà Thúc Ký. Khi chế độ đệ I Cộng Hòa bị lật đổ, sau 3 năm xáo trộn, khủng hoảng lãnh đạo, đệ II Cộng Hòa được thành lập với sự lãnh đạo của các tướng lãnh trong quân đội, đảng Ðại Việt và ông Hà Thúc Ký công khai gia nhập chính quyền và xuất hiện trong quân đội.


Năm 1965 các đảng viên cũ thuộc các khu Quảng Trị và Thừa Thiên đã tập hợp lại ra tuyên cáo thành lập chính đảng với tên mới là Ðảng Ðại Việt Cách Mạng, ông Hà Thúc Ký là chủ tịch kiêm tổng bí thư đảng. Ðảng kỳ vẫn giữ sao trắng trong vòng tròn xanh, nửa trên lá cờ là mầu vàng, nửa dưới mầu đỏ.


Cũng thời gian này một số anh em đảng viên trẻ ở lục tỉnh tập hợp nhau lập một chính đảng mới lấy tên là Tân Ðại Việt với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm tổng thư ký đảng. Hoạt động của Tân Ðại Việt khá mạnh mẽ trong giới công chức chánh quyền VNCH với một tổ chức ngoại vi là Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến do Giáo Sư Nguyễn Văn Bông thuộc Ðại Học Quốc Gia Hành Chánh và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy chủ trương. Hoạt động của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến gây được nhiều ảnh hưởng trong giới sinh viên và tuổi trẻ miền Nam nên cộng sản đã ám sát Giáo Sư Nguyễn Văn Bông để gây nghi vấn tranh chấp chia rẽ giữa chính quyền và đảng phái quốc gia.


Lúc này thì Lãnh Tụ Hà Thúc Ký đã tham chính trong chức vụ tổng trưởng Nội Vụ trong Nội các Phan Huy Quát thuộc nền đệ II Cộng Hòa và sau đó tranh cử vào Thượng Viện của Quốc Hội VNCH.


Sau 30 Tháng Tư năm 1975, tài liệu của đảng cho biết, “ông Hà Thúc Ký đã đi khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, sang Âu Châu, Canada để nỗ lực xây dựng thêm nhiều cơ sở mới cùng phối hợp công tác với nhiều anh em đồng chí cũ.” Sau đó đại hội đảng đã được triệu tập tại nhiều nơi ở hải ngoại để cùng các hệ phái khác thống nhất, nhưng sau cái chết của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy với Phong Trào Liên Minh Dân Chủ VN, thì ý định thống nhất ba đảng Ðại Việt cũng không thành.


Vào Ðại Hội Toàn Ðảng kỳ III họp tại Houston năm 1995, ông Hà Thúc Ký được suy cử làm chủ tịch Ðại Việt Cách Mạng Ðảng.


Ông Hà Thúc Ký cũng như các nhà lãnh tụ trong các hệ phái Quốc Dân Ðảng là những trí thức yêu nước nhiệt thành từ lúc trẻ cho đến cuối đời, không ngần ngại trước những bất trắc hiểm nguy của chính quyền đương đại, độc tài thực dân, độc tài cộng sản hay độc tài gia đình trị mà vẫn miệt mài hoạt động cho sự sinh tồn của đất nước, cho sự ấm no hạnh phúc của dân tộc. Tiếc thay những nhiệt thành đó lại không thống nhất được với nhau, chỉ vì tôn trọng tự do, dân chủ là những điều mọi người đang chiến đấu, khiến cho hàng ngũ cứ phân ly tản lạc cho mãi đến nay, theo tài liệu của tài liệu Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, vẫn còn đến bốn hệ phái là hệ phái Phan Hòa Hiệp ở Virginia, hệ phái Phạm Ðăng Cảnh ở Garden Grove, Nam California, hệ phái Phan Văn Song tại San Jose, Bắc California, và hệ phái Trương Việt Hoàng tại Nam Calfornia.


Quí độc giả cần biết thêm chi tiết về lễ tưởng niệm Cố Lãnh Tụ Hà Thúc Ký có thể liên lạc với Nguyên Dzuy (714) 837-1099.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tình sầu


LTS:
Thi ca, âm nhạc thường ở lại trong tâm hồn chúng ta như một kỷ niệm. Có những bài thơ cứ ngỡ bị xóa nhòa trong ký ức. Vậy mà tình cờ đọc lại, hay nghe đâu đó vang lên vần thơ xưa, bỗng dậy lên trong ta cả một trời nhung nhớ, tựa như sự trở lại của một người bạn thân thiết, một chứng nhân thương yêu cho quãng đời mình đã qua. Trong tinh thần đó, trên trang Phụ Nữ hàng tuần, chúng tôi trân trọng gửi tới quý độc giả “Một Bài Thơ Cũ,” và cũng mong đón nhận từ độc giả những bài thơ của một thời.


Thư về [email protected]hoặc [email protected]


 


Nhà thơ Huyền Kiêu tên thật là Bùi Lão Kiều. Ông sinh năm 1915. Nguyên quán ở tỉnh Hà Ðông. Ngoài viết văn, làm thơ ông còn cộng tác với nhiều báo ở Hà Nội.


Những tác phẩm của Huyền Kiêu: Sang xuân (1960), Mùa cây (1965), Bầu trời (1976).


Sau 30 Tháng Tư năm 1975 ông vào Saigon sống. Ông mất ngày 8 tháng 1 năm 1995 (Ất Hợi), hưởng thọ 80 tuổi.


Huyền Kiêu, từ thuở nhỏ là bạn thân với thi sĩ Ðinh Hùng. Nhờ đó mà khi bắt đầu gia nhập làng báo, ông có nhiều cơ hội để thân thiết của Vũ Hoàng Chương, Thạch Lam, Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Tường Bách…


Năm 1954, Ðinh Hùng vào sống ở Sài Gòn, làm báo và phụ trách chương trình “Tao Ðàn trên Ðài phát thanh Sài Gòn.” Trong một lần trò chuyện với bạn (Quốc Nam) về những văn nhân thời tiền chiến, Ðinh Hùng có nhắc đến hai bài thơ của Huyền Kiêu, đó là “Tình sầu” và “Tương biệt dạ.”


Trước năm 1975, nhà văn Viên Linh đã dùng câu “Hạ đỏ vẫn chàng tới hỏi,” (Một câu trong bài thơ Tình Sầu của Huyền Kiêu) làm nhan đề cho quyển tiểu thuyết của mình (Hạ đỏ có chàng tới hỏi). Một tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cũng mang tên “Hạ đỏ.” Một nhà thơ, hiện nay là xướng ngôn viên của một đài truyền hình địa phương cũng lấy bút hiệu là Hạ Ðỏ.


Ngoài ra, bài Tình Sầu cũng đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với tựa đề “Ngày xưa một chuyện tình buồn” và nhạc sĩ Việt Dzũng phổ nhạc với tựa đề “Thu vàng có chàng tới hỏi.”


tp


 


Tình sầu


 


Huyền Kiêu


 


Xuân hồng có chàng tới hỏi


Em thơ, chị đẹp em đâu?


Chị tôi tóc xõa ngang đầu


Ði bắt bướm vàng ngoài nội


 


Hạ đỏ vẫn chàng tới hỏi


Em thơ, chị đẹp em đâu?


Chị tôi hoa trắng cài đầu


Ði giặt tơ vàng bên suối


 


Thu xám cũng chàng tới hỏi


Em thơ, chị đẹp em đâu?


Chị tôi khăn trắng ngang đầu


Ði hát tình sầu trong núi


 


Ðông xám lại chàng tới hỏi


Em thơ, chị đẹp em đâu?


Chị tôi hoa phủ đầy đầu


Ðã ngủ trong lòng mộ tối

Mực nhồi giò sống cá thác lác


Người hướng dẫn: 4ever1nl0ver


 


* Vật liệu:


– 20 con mực ống nhỏ (khoảng 3 lóng tay)



– 1/2 chén cá thác lác


– 1/2 chén giò sống


– 1/2 gói bột chiên xù


– 2 trái trứng gà


– 4 tép tỏi, 2 củ hành tím: lột vỏ, bằm hoặc xay nhỏ


– Vài tép hành lá: xắt nhỏ


– Tiêu, dầu ăn, tương ớt…



 


* Cách làm:


– Mực rửa sạch, lột da, trụng sơ qua nước sôi.


– Quết cá thát lác với giò sống, cho hành, tiêu, tỏi, hành lá vào trộn đều.


– Nhồi hỗn hợp cá vô bụng mực (đừng nhồi quá nhiều, khi chiên nhân sẽ lâu chín và dễ bể bụng)



– Nhồi nhân xong, lấy tăm ghim miệng lại.


– Trứng gà đánh tan, lăn mực qua trứng gà.


– Rồi lăn qua bột chiên xù.



– Bắc chảo nóng, cho dầu vào (dầu phải ngập mặt mực), chờ dầu sôi, thả mực vào chiên vàng (lửa vừa, nhân bên trong mới chín).


– Khi thấy mực vàng và chín, vớt ra. Cắt thàng từng khoanh, xếp ra dĩa, dọn kèm tương ớt.

Tím – sắc Thu 2012

 


Mùa Thu năm nay, màu tím dường như lên ngôi khi mà khắp hang cùng ngõ hẻm của kinh đô thời trang New York đều nhuốm màu tím, với đủ sắc độ, từ tím nhạt, tím đậm đến tím than. Ðiều đặc biệt, tím không chỉ dừng lại trên màu sắc của quần áo mà còn trên cả những gương mặt make-up và phụ kiện đi kèm.


Tuy nhiên, hãy cẩn thận khi chọn màu tím kết hợp cùng những sắc màu khác, nếu không bạn sẽ dễ trở nên “quê quê” hay “sến sến” trong sắc màu này. Nếu bạn đắn đo không biết tím hợp với tone màu nào, an toàn nhất hãy phối hợp chúng với màu trắng và đen.


Với những bạn da trắng, vóc dáng nhỏ nhắn, nên chọn gam màu tím nhạt, không nên sử dụng tone đậm sẽ gây cảm giác người gầy và xanh. Với ai da ngăm đen nên phối hợp tím với tone màu sáng sẽ giúp làn da tươi tắn hơn.


Thử ngắm nhìn sắc tím trong những sự kết hợp dưới đây để có cho mình một sự lựa chọn thích hợp nhất. (NL)



Hình: refinery29.com



Hình:ebagsfull.com



Hình: dailydoseoflies.com



Hình: feedscafe.com



Hình: pattxiong.blogspot.com



Hình: blog.thefind.com

Góp ý về đề tài: ‘Bị bố mẹ người yêu chê xấu’


LTS:
“Biết Tỏ Cùng Ai” do cô Nguyệt Nga và anh Vân Tiên phụ trách, nhằm mục đích góp ý, chia sẻ những ưu tư, vướng mắc về những vấn đề liên quan đến cuộc sống, đời thường mà quý vị không biết tỏ cùng ai.


Thư từ xin gửi về: Người Việt (Biết Tỏ Cùng Ai), 14771 Moran St., Westminster, CA 92683, hay email: [email protected]


 


* Thư của độc giả Diệu Thiện:


Cháu Kh. ơi,


Việt Nam mình có câu “cái nết đánh chết cái đẹp” còn Tây phương thì có câu “beauty is in the eyes of the beholder.” Bạn trai cháu đã nghĩ là “you are beautiful to me” thì cháu cứ vững tin là cháu đẹp.

Ý kiến của bạn trai cháu là quan trọng hơn ý kiến của những người khác. Hơn nữa nhan sắc thì không bền lại dễ thay đổi. Các minh tinh màn bạc, ca sĩ nổi tiếng thời 1950-1960 bây giờ hiếm ai còn đẹp. Các cô dâu ngày cưới đi trang điểm có chút xíu mà trông đẹp hẳn lên. Ðó là chưa kể các người đẹp do “dao kéo” cắt xén.


Nếu theo tướng số thì cái đẹp về tướng khác với cái đẹp theo mắt thường. Vì vậy nên đa số các mệnh phụ phu nhân trông không đẹp như các cô vũ nữ. Nhưng họ là mệnh phụ phu nhân vì họ có tướng tốt.


Hơn nữa cái bên trong như tính nết, lòng thương người, tư cách, sức khỏe, tài năng, v.v… quan trọng hơn cái bề ngoài. Cháu sắp tốt nghiệp RN thì chứng tỏ là cháu hiện tại có nhiều sức khỏe và có nhiều đức tính cần có của người RN chân chính.


Chuyện hôn nhân là do duyên nợ. Nếu cháu có duyên với anh ta thì không ai gièm pha nổi Còn nếu không có duyên với anh ta, thì người như cháu cũng sẽ có gia đình khác, có bà mẹ và cô em quí trọng cháu và biết giá trị của cháu, hơn là cái gia đình này. Trong hôn nhân, hạnh phúc là quan trọng. Nếu họ cứ chê bai gièm pha hoài thì liệu trong tương lai vào nhà họ, cháu có hạnh phúc không?


 


* Thư của độc giả Hồng Nguyễn:


Cô Kh ơi! Xưa nay mẹ chồng nàng dâu mà cô. Dù cô có đẹp mấy đi nữa thì trong mắt mẹ chồng cô cũng xấu à. Còn em chồng thì có gì đâu mà lạ, đương nhiên là họ ghét mình. Cô Kh cứ căn cứ theo người bạn trai của mình, anh ấy bằng lòng thì OK rồi. Nếu tốt đẹp thì làm dâu còn không thì ra riêng. Cô có nghề vững chắc sợ gì không sống một mình được. Mấy lời góp ý cùng cô vậy thôi.


 


* Thư của độc giả Bạch T:


Chào chị Kh, đọc thư chị mà cứ tưởng ai đó viết tâm trạng của em. Vợ chồng em ở chung với cha mẹ chồng. Em làm gì cũng bị mẹ chồng chê, cái gì cũng chê, mà ra riêng thì không có điều kiện. Chị biết không có hôm trước mặt mẹ, chồng em phải làm bộ la mắng em tới tấp cho mẹ vui, và sau đó vào phòng riêng thì hai vợ chồng khóc với nhau. Thấy chồng tội quá mà em bỏ qua chứ nhiều khi em muốn la hét cho đỡ tức. Còn mấy cô em thì tâm địa ác độc, ăn uống lúc nào cũng bày bừa ra đó, chẳng một chút thương người chị dâu đi làm suốt ngày tối về còn dọn rửa đến khuya. Tại sao mấy bà mẹ chồng như vậy, tại sao họ không nghĩ đến con gái họ khi lấy chồng cũng bị hành hạ và ghét bỏ.

Chiếc áo dài Việt Nam

 


LGT: Trong cuộc sống có nhiều chuyện mình muốn nói với ai đó, nhưng lại không thể nói trực tiếp được. Không nói được với nhau thì hãy viết cho nhau. Âu đó cũng là cơ hội để giải tỏa những tâm tư, những nỗi niềm. Mục “Viết Cho Nhau” do phóng viên Ngọc Lan phụ trách.


Thư từ xin gửi về: Người Việt (Viết Cho Nhau), 14771 Moran St., Westminster, CA 92683, hay email: [email protected]


 


Từ Uyên


 


Con yêu quí của mẹ.


Mẹ vừa nhận dược email của con nói con đang phân vân không biết chọn đề tài gì cho một bài luận văn đầu niên học. Mẹ chợt có một ý nghĩ này con xem có thể dùng nó được không. Ðó là con viết về lịch sử chiếc áo dài của người phụ nữ Việt Nam.



Theo mẹ, đề tài này có thể hấp dẫn với thầy cô giáo của con nhất là thầy cô giáo ấy không là người Việt mình.


Con có thể tìm kiếm tài liệu trên mạng, chắc có khá nhiều, nhưng mẹ cũng “gà” cho con chút ít tài liệu như mẹ được biết.


Trước hết con viết về chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam hiện nay đã khá là quen thuộc đối với thế giới và như mẹ hiểu thì nhiều chuyên gia thời trang thế giới cũng đã để ý và ngợi khen chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam.


Kế tiếp con viết về lịch sử của áo dài. Nó có từ bao giờ và theo thời gian nó đã biến đổi như thế nào. Thời trẻ cũng có lần mẹ tìm tòi xem chiếc áo dài có từ bao giờ nhưng không thấy có sách sử nào ghi lại. Chỉ từ khi có nhà họa sĩ thời trang tên là Cát Tường vào năm 1930 đã cải tiến chiếc áo tứ thân của phụ nữ Việt Nam thì chiếc áo dài bỗng trở thành đề tài khen chê của mọi giới cả nam lẫn nữ. Lý do vì Cát Tường đã “đì dai” (design) chiếc áo dài bó theo thân hình, cổ áo mở rộng ra và vai áo thì bồng lên theo như một số kiểu áo của người Tây phương. Sau đó vào năm 1934, một nhà họa sĩ khác cũng ở Hà Nội tên là Lê Phổ “đì dai” (design) lại chiếc áo dài của nhà may Cát Tường, bỏ bớt những rườm rà lai căng chỉ còn giữ cho chiếc áo dài bó vừa vặn tấm thân với hai vạt áo dài buông thả và cổ áo viền thấp hoặc dựng cao. Chiếc áo dài từ đó được giới phụ nữ thành phố nhất là Hà Nội và Sài Gòn chấp nhận dễ dàng vì nó vừa kín đáo lại cũng vừa phô bầy được nét trẻ trung thời đại.


Cho mãi tới sau khi đất nước bị chia đôi, thì ở miền Nam vào khoảng đầu thập niên 60, có hai nhà may lớn là nhà may Dung ở Ða Kao và nhà may Lê Phát trên đường Phan Ðình Phùng đã cải tiến cách may là ráp hai ống tay áo trên vai theo đường chéo (raglan). Cách may này đã hoàn toàn xóa bỏ được những nếp nhăn ở hai bên nách trước và sau theo lối may cũ. Ðồng thời vạt áo cũng phải may sao cho ôm lấy cặp đùi và chỉ còn dài hơn đầu gối một chút. Ðồng thời hai bên eo áo cũng để cho rộng hơn không bó ghì như kiểu áo cũ được cải tiến vào những năm 50. Trong khi đó cổ áo không cần phải mở rộng mà chỉ là một cái cổ dựng không cao chỉ bằng 1/3 kiểu cổ áo cũ. Cải cách này đã làm cho chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam bỗng dưng trở thành một nét đẹp vô cùng quyến rũ vì nó vừa thanh nhã, lịch sự, trẻ trung lại kín đáo vừa phải đủ quyến rũ một cách tinh khiết cho người mặc.


Cho đến nay, dù có hàng trăm các nhà kiểu mẫu thời trang “biến tấu” chiếc áo dài ra đủ mọi cách nhưng mẹ thấy chưa có kiểu áo nào có thể sánh nổi với chiếc áo dài, tay raglan, cổ dựng ngắn và vạt áo chỉ quá đầu gối một chút vào thời thập niên 60.


Qua phần lịch sử chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam hiện nay, con cũng có thể viết thêm một phần nhận định của mình về y phục của phụ nữ thời cổ theo suy đoán của mình. Trải qua gần 5 ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã có một nền văn hiến riêng biệt cho dù đã bị Bắc thuộc đến 1 ngàn năm, phụ nữ ắt hẳn phải có một lối trang phục trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong lễ lạt. Dấu tích sau cùng còn lại là những bộ áo tứ thân ở miền bắc và chiếc áo bà ba ở miền Nam. Gọi là áo tứ thân vì chiếc áo được ráp bởi 4 miếng vải, hai sau, hai trước. Hai miếng trước thì để rời và thắt lại trước bụng cho gọn nghĩa là không có vạt trước. Nhưng nơi các phụ nữ quyền quí thì vạt trước vẫn có nhưng chiếc áo được may rộng để cho thật kín những đường nét trên thân thể người phụ nữ.


Bàn rộng hơn nữa, con cũng có thể viết thêm rằng sự cải cách chiếc áo dài từ chiếc áo tứ thân cho đến những chiếc áo kiểu cọ lung tung bây giờ, nó cũng phản ảnh cái nếp sống của phụ nữ Việt. Nó vừa muốn vượt thoát ra khỏi khuôn nếp cũ là tinh thần “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” của xã hội phong kiến nhưng nó vẫn còn giữ được cái nền nếp mà không buông thả của người phụ nữ đã được đồng hóa với cái Ðẹp.


Mẹ chúc con viết được một bài luận văn xuất sắc theo đề tài này để sau này khi con lập gia đình có con rồi, lại sẽ chỉ dẫn cho nó.

Phụ nữ không mê đàn ông thấp

 


Thiên An/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV)“Phụ nữ” ở đây là phụ nữ nói chung, xin không kể đến các cô có sở thích đặc biệt, và “đàn ông thấp” không để chỉ các anh không cao lắm hay chỉ hơi hơi thấp, mà ở đây xin nói tới các anh từ thấp tới rất thấp.










Thổng thống Pháp và phu nhân tại cuộc họp mặt thượng đỉnh G8. (Hình minh họa: Pool/Getty Images)


Với các anh cao “khoang khoảng” trung bình, khó mà phân định rạch ròi được chiều cao bao nhiêu sẽ là “chỉ hơi hơi thấp” và bao nhiêu sẽ là “thấp.” Xin được đưa ra một vài con số thống kê để các anh tự nhận định. Chiều cao trung bình của đàn ông Việt là 1m65, theo thống kê của Trung Tâm Dinh Dưỡng tại Sài Gòn. Trong khi đó, chiều cao trung bình của đàn ông Mỹ là 1m77 (5ft10) Thiết nghĩ việc sống ở Mỹ cũng là một yếu tố lớn làm hạ giá chiều cao của đàn ông gốc Việt. Chiều cao trung bình của phụ nữ tại Mỹ là 1m60 (5ft3).


“Phụ nữ không quan trọng đàn ông cao hay thấp, mà chỉ quan tâm xem người đó có giỏi hay không, có biết quan tâm lo lắng tới gia đình hay không thôi” – một bạn xưng tên là Nắng Hạ nói. Chắc hẳn cũng như Nắng Hạ, nhiều người sẽ lên tiếng bênh vực các quý anh, quý ông với chiều cao khiêm tốn.


Quả thật, đàn ông thấp, thành công, có “đào đẹp,” không phải không có. Ông Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy với cô ca sĩ kiêm người mẫu chân dài Carla Bruni là một ví dụ. Hay như tài tử Tom Cruise, dù không cao nhưng chàng vẫn làm tan chảy trái tim của phụ nữ khắp thế giới. Cả ba cô vợ của Tom Cruise đều là những bóng hồng bậc nhất Hollywood và cao hơn chàng.


Thế nhưng cũng vì trong một nửa của số 7 tỉ người trên trái đất này, không có bao nhiêu anh là tổng thống Pháp hay tài tử Hollywood, nên xin được bắt đầu để tập trung vào số nam giới còn lại.


Cuộc đời khá là bất công cho đàn ông có chiều cao khiêm tốn. Trong lịch sử Hoa Kỳ với 25 lần bầu cử tổng thống, 22 chiến thắng thuộc về người cao hơn. Các thống kê việc làm cũng cho thấy trong hai đàn ông có cùng khả năng làm việc, người thấp hơn mất nhiều công sức hơn để kiếm việc hay đòi tăng lương.


Cuộc đời không công bằng với con người và con người cũng không công bằng với nhau. Người ta làm một cuộc thí nghiệm nhỏ về tỉ lệ hẹn hò thành công của đàn ông trên trang Match.com. Ở trên trang mạng chuyên để hẹn hò này, mỗi người chơi lập một profile (hồ sơ cá nhân) để miêu tả về các đặc điểm của bản thân. Trong cuộc thí nghiệm, ông Tom Pandofol tạo ra hai profile giống hệt nhau về tính tình, công việc, sở thích… nhưng khác nhau một điểm duy nhất là chiều cao, một cao 1.60m (5ft 3) và một cao 1.77m (5ft10) Sau 1 tháng, profile thấp hơn không có được một tin nhắn nào trong khi profile kia có gần 60 cuộc hẹn. Khi được hỏi lý do không chọn anh 1.60m, hầu hết các nàng bảo “tính tình không hợp.”


Tuy người đời thường nói “đàn ông yêu bằng mắt đàn bà yêu bằng tai,” nhưng đàn bà cũng yêu bằng mắt nữa. Trong cuộc phỏng vấn, nhiều chị em đã thật lòng tâm sự những lý do họ không thích đàn ông thấp. Chị Yula Phạm nói, “Thực sự mình cũng là người yêu cái đẹp. mình không thích con trai thấp mặc dù mình cũng không cao cho lắm.” Nhiều cô tiết lộ rằng họ thích đi bên cạnh người đàn ông cao lớn để thấy mình nhỏ bé hơn. “Mình không thích người yêu mình ốm quá hay thấp quá. Khi đi chung, trông mình sẽ mập ra”- bạn An Nguyễn nói. Ngoại hình ít nhiều vẫn là một trong các yếu tố để lựa chọn người yêu.


Tuy rõ ràng là thiếu chiều cao đồng nghĩa với sự kém thu hút, phụ nữ vẫn sẵn sàng hẹn hò và cưới những người đàn ông có chiều cao khiêm tốn. Phụ nữ không thích đàn ông thấp, nhưng rất có thể họ say mê một người đàn ông thấp vì những ưu điểm của anh ta.


Một chị tên Phúc, dân gốc Bắc, kể chuyện, “Mình không thích con trai thấp hơn con gái lắm, nhưng mình đã hẹn hò và yêu 1 anh chàng cao 1m65 đó thôi, vì mình yêu tích cách của anh ấy. Tóm lại, chiều cao chỉ là vẻ ngoài, quan trọng là bạn biết làm nổi bật bên trong, chẳng hạn như người yêu cũ người Hà Nội của mình, mình đã chết đừ vì giọng nói ấm áp của anh ấy.”


Khi đủ tự tin, các ưu điểm có thể được đàn ông dùng để áp đi các khuyết điểm. Dân gian cũng nói “ốm đẹp, cao sang, mập dễ thương, lùn quý phái” đó thôi. Dù sao thì không có ai là hoàn hảo. Nếu vẫn chưa đủ tự tin, các anh hãy trau dồi các ưu điểm của mình và, có lẽ, đừng hy vọng vào các trang hẹn hò trên mạng.

Bẻ khóa mã số PIN: dễ như đếm 1-2-3-4

 


Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Sống trên đất Mỹ, hầu như ai cũng có một thẻ ngân hàng ATM, và ai cũng ít nhất một lần trong đời phải lựa chọn cho mình một số PIN.










Hình: itthing.com


Số PIN đó được lựa chọn theo phương pháp nào, cách thức nào? Dĩ nhiên mỗi người có một sự cân nhắc, tính toán trong đầu làm sao để con số mình chọn mình phải có thể nhớ được.


Tuy nhiên, phân tích của ông Nick Berry, một khoa học gia chuyên về dữ liệu, là người sáng lập công ty Data Genetics, và là một nhà tư vấn công nghệ ở Seattle, về việc người ta đã chọn số PIN như thế nào đưa đến những kết quả khá bất ngờ và thú vị.


Kết quả này cũng là điều khiến mọi người cần ngẫm nghĩ lại một chút trước khi quyết định chọn cho mình một số PIN để làm sao nếu lỡ đánh rơi mất thẻ ATM trên đường thì kẻ gian không thể truy cập được vào tài khoản của mình để mà dọn sạch số tiền mình dành dụm lâu nay.


Người ta sẽ lựa 4 số từ 0 đến 9 để làm thành một số mật mã cho tài khoản của mình. Có 10,000 khả năng kết hợp các con số từ 0 đến 9 để làm thành một số PIN. Ông Berry phân tích những số PIN đã được người ta chọn và sử dụng.


Và điều mà chuyên gia về dữ liệu này khám phá ra, theo lời ông nói là “thật không thể tưởng tưởng được” trong cách mà người ta chọn mật mã số PIN. Bởi trong số 3.4 triệu số PIN mà ông phân tích thì có đến 11% người chọn số PIN là 1234; 6% người chọn số PIN là 1111, và 2% chọn số 0000.


Ông Berry nói rằng 26.83% trong các mật mã mà ông phân tích có thể đoán được bằng cách cố gắng sắp xếp 20 sự kết hợp của bốn chữ số như sau: 1234; 1111; 0000; 1212; 7777; 1004; 2000; 4444; 2222; 6969; 9999; 3333; 5555; 6666; 1122; 1313; 8888; 4321; 2001; 1010.


Như vậy, khi một kẻ gian nhặt được thẻ ATM của ai đánh rơi, chỉ cần hắn thử 5 số PIN được chọn nhiều nhất là 1234; 1111; 0000; 1212; 7777 thì hắn đã có thể có được 20% khả năng cuỗm được một số tiền nào đó.


“Thật ngạc nhiên trước cách người ta chọn số PIN,” ông Berry thốt lên.


Việc lựa chọn những con số như vậy, theo chuyên gia về dữ liệu này là do “chả ai thích nhớ những con số khó nhớ, và cũng không ai nghĩ là ví họ lại bị đánh cắp.”


 


Chọn ngày, tháng, năm làm số PIN


 


Rất nhiều người thích dùng ngày tháng làm số mật mã, từ ngày sinh nhật đến ngày kỷ niệm, rồi năm mình được sinh ra,… Thật vậy, với việc dùng năm, bắt đầu bằng con số 19_ giúp người ta nhớ mật mã của mình, nhưng nó cũng làm tăng khả năng dự đoán cho kẻ gian. Phân tích của Berry cho thấy rằng mật mã bắt đầu bằng số 19_ đứng trong top 20% của tập dữ liệu mà ông nghiên cứu.


“Không gì dại dột hơn chuyện dùng ngày tháng năm sinh để làm mật mã, bởi vì khi bạn bị mất ví thì bằng lái xe nằm trong đó, nghĩa là kẻ gian có ngay được ngày tháng năm sinh của bạn để mà dò ra mật mã. Nếu muốn dùng ngày tháng năm sinh thì ít ra là nên dùng ngày của cha mẹ chẳng hạn.” Ông Berry nhận xét.


Lời khuyên của ông Berry cũng là lời khuyên của một nhân viên Chase Bank ở thành phố Westminster, “Ðừng nên lấy ngày tháng sinh của mình làm mật mã. Có thể lấy ngày của con cái, hay của người bạn thân thiết nào đó, nhưng không nên là ngày tháng có xuất hiện trong bằng lái xe nằm trong ví của mình.” Bên cạnh đó, một số ngân hàng hiện nay cũng không chấp nhận mật mã bắt đầu bằng số 19_.


Cũng theo lời người nhân viên ngân hàng không muốn nêu tên này thì nhiều người lớn tuổi cảm thấy khó khăn trong việc nhớ số PIN nên phải hướng dẫn họ cách chọn số mật mã sao cho dễ nhớ với họ, nhưng không dễ với kẻ gian. Ðó có thể là ngày tháng họ tới Mỹ, hay ngày họ đứng ra dựng vợ gả chồng cho con cái, hoặc là một ngày trọng đại nào mà họ khó quên.


“Nhưng lúc nào chúng tôi cũng phải nhắc nhở là KHÔNG được ghi số PIN vào tờ giấy bỏ ngay trong ví, hay ghi số vào ngay tấm thẻ debit, ATM.” Cô nói thêm.


 


Chọn dãy số trên bàn phím điện thoại, hay ATM


 


Thật ngạc nhiên khi nằm ở vị trí 22 trong danh sách những mật mã được chọn nhiều nhất là con số 2580.


Thoạt nhìn, người ta có thể tưởng đó là những con số bất kỳ. Nhưng hãy thử nhìn vào bàn phím điện thoại hoặc bàn phím trên máy ATM thử xem? Ðó là dãy số thẳng hàng chính giữa của bàn phím. Ðây cũng là dấu hiệu của những người làm biếng tạo nên một mật mã riêng biệt cho mình.


Ðể có thể tạo ra một số PIN cho riêng mình, nhiều người có những lựa chọn khá thú vị. Chị Jenny Phạm, đang làm việc cho một văn phòng khai thuế ở thành phố Stanton, cho biết, “Tôi chọn số PIN là 4 số cuối trong số nhà tôi ở khi vừa mới sang Mỹ.”


Anh Son Nguyễn, một cư dân ở Westminster thì chọn số PIN là “giờ máy bay cất cánh chở tôi rời khỏi Việt Nam cách đây 20 năm.” Hỏi lúc đó là mấy giờ thì anh Son chỉ cười không nói!


Có người lại chọn số PIN là ngày đầu tiên gặp gỡ với người yêu. “Tôi đổi số PIN từ sau ngày lập gia đình. Và mật mã đó là ngày tôi gặp bà nhà tôi.” Ðó là chọn lựa của ông Hoàng Nguyễn ở thành phố Cerritos.


 


Các mật mã ít được nghĩ tới


 


8068 là số PIN ít được chọn nhất, theo sự phân tích của Berry, số PIN này chỉ xuất hiện có 25 lần trong số 3.4 triệu số PIN mà ông quan sát, nghĩa là nó chỉ chiếm có 0.000744%.


Tại sao chọn số này? Berry đoán rằng, “Nó không có lặp lại hình ảnh, nó không phải là ngày sinh nhật, nó cũng chẳng phải là năm Columbus khám phá ra Châu Mỹ, nó cũng chẳng phải là năm khai sinh ra nước Mỹ 1776.” Những số này nằm ngoài mọi khả năng dự đoán của người ta.


Tương tự như vậy, các mật mã 7637; 6835; 9629; 8093 cũng có ít người chọn nhất.


Một vài điều thú vị khác từ phân tích của Nick Berry:


-Số PIN được dùng nhiều nhất là 1234.


-Nếu phải chọn mã số có 5 chữ số, thì có đến 28% người chọn mật mã là 12345.


-Người ta thích dùng những cặp số cho số PIN của mình như 4545, 1313,… Và vì lý do gì đó, người ta lại không thích những cặp số có khoảng cách khá xa. Ví dụ như người ta thích 45, 46 hơn là thích dùng cặp số 29 hay 37.


-Nếu phải chọn mật mã 10 chữ số, thì mật mã 3141592654 được xếp hạng 17. Lý do? Những ai thích toán học đều nhận ngay ra đây là những chữ số đầu tiên của hằng số Pi!


Ðiều cuối cùng, lời khuyên chung của nhân viên nhân hàng: Ðừng bao giờ ghi mật mã, số PIN vào ngay tấm thẻ ATM.

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


(Disabled Veterans and Widows Relief Association)


A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492


P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799


Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967


Email: [email protected]; [email protected]


Website: http://www.camonanhtb.com


Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ


Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


 


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:


(Tính đến ngày 30 tháng 9, 2012)


 


Hadley Hiệp Lê, Santa Ana, CA $200


Michael Phước Lê & Diệp T. Lê c/o Stacey Le O.D. (Stanton Optometry), Stanton, CA $300 (để hồi hướng công đức cho chồng là ân nhân ẩn danh thường giúp TPB)


Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Georgia, Norcross, GA $5,724


Thuan Thai (Thu Ha Le Thai), Winston Salem, NC $100


Thanh Nga T. Ðoàn, San Jose, CA $100


Chánh Võ, Hermiston, OR $125 (nhờ giúp TPB Võ Trọng Lập, Ninh Thuận)


Hoa & Thuyen Hoàng, Redondo Beach, CA $100


Hien Ngọc, Oklahoma City, OK $140 (gồm Hien Ngọc $20, Vu M.Le $20, ẩn danh $100)


Dung T. Nguyễn, Piscataway, NJ $100


Lynn Sương Huỳnh (Nhật Liên), Quincy, MA $100


Nghi Nguyễn, Fort Smith, AR $200


Hoàng Thị Cần, Morrow, GA $100


Nguyễn Hoàng Nguyên, Morrow, GA $100


Nguyễn Hoàng Quí, Morrow, GA $100


Lang Nguyễn, Holland, MI $50


Châu Nguyễn, Springfield, WA $50


Chiêu H. Liên, Miami, FL $50


Tuyển Trần, San Jose, CA $50 (kèm hồ sơ TPB Nguyễn Văn Út)


 


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” kỳ 6:


 


Vũ Hải, Saint Louis, MO $100


Ðức Hữu Nguyễn, Hawthorne, CA $100


Canh Cao & Anh Banh, Oklahoma City, OK $100


Tong Ho, Berwick, PA $120


Anh Hong To, Berwick, PA $120


Thoai Ðỗ & Tuyết Trần, San Jose, CA $100


Hien Le (Lan Ðặng), San Jose, CA $40


Vang Nguyễn, Seattle, WA $30


Nghĩa Trần, Monterey Park, CA $50


Chau Lê, Columbia, MO $50


Hien Phạm, Escondido, CA $50


Khanh Ðinh, Canoga Park, CA $50


Thanh Trần, Canoga Park, CA $50


Võ Sinh & Tuyết Trần, Broomfield, CO $50


Annie Nguyễn, Tustin, CA $20


Anh Vien, Garland, TX $50


Lưu Trang, Madison, WI $50


Ban Nguyễn, El Dorado Hills, CA $50


Lê Lộc, Sacramento, CA $50


Phat Phùng, Houston, TX $50


Lan Nghiêm, Westminster, CA $50


Kim Hoan & Xuân Nguyễn , Sun Valley, CA $50


Tinh Ngo, Houston, TX $50


Dung Kim Nguyễn, Westminster, CA $20


Ngai Trần, Orlando, FL $50


Ung Văn Nguyễn, El Cajon, CA $60


Tri Hữu Hoàng, Huntington Beach, CA $40


Quan Nguyễn, Medford, MA $50


Richard Nguyễn, Santa Ana, CA $10


Tien Trần, Costa Mesa, CA $50


Sang Phạm, Santa Ana, CA $50


Long Thanh Trần, Westminster, CA $20


Thien Trần, Haltom City, TX $50


Nam Nguyễn, Portland, OR $60


Long Ðinh, Fremont, CA $55 ($20+$55)


Nga Bùi, Ontario, CA $50


Sau Văn & Ðai Nguyễn, Phoenix, AZ $50


Thanh Phạm, Redland, CA $25


Thai Khanh & Văn Thị Lê, Philadelphia, PA $50


Nguyễn Văn Hiêu (Kim Chi Ðặng), North Hills, GA $20


Johnny Dai, Minneapolis, MN $50


Thach Bùi, Bloomington, MN $50


Bach Thuy Ngô, Danville, CA $50


Loi Vũ, Succasunna, NJ $50


Nguyễn Thanh Nga, Davenport, IA $50


Que Nguyễn (Cựu SVSQ K.20 TÐ), Centerville, VA $50


Song Le Lac, Bay Shore, NY $50


Ðinh Nguyễn, Virginia Beach, VA $50


Hoàng Lê, Fountain Valley, CA $50


An Hoàng, Midlothian, VA $50


Hoan Nguyễn, Westminster, CA $100


Phương Hoàng, San Jose, CA $100


Tân Hữu Phạm, Sunnyvale, CA $100


Quy Văn Nguyễn, Tulsa, OK $100


Lien V. Trần, Fairfax, VA $200


Dep Văn Nguyễn, Gainesville, GA $100


Sơn Thái Nguyễn, Lawrenceville, GA $100


Sinh Nguyễn & Dan Phan, Seattle, WA $100


Ngọc Dzung Nguyễn, Nashville, TN $100


Ngọc Châu Nguyễn, Nashville, TN $100


Tuat Nguyễn (Peter Nguyễn ), Lynnwood, WA $100


James Dương, West Hills, CA $200


Vinh Trần, Buena Vista, CA $100


Tien Nguyễn, Fountain Valley, CA $100


Trung Trương, Roseville, CA $100


Phi Trương, Roseville, CA $50


Muoi, San Diego, CA $10


Andrew Nguyễn, Fountain Valley, CA $200


Ngô Bay (Tu Phan), Marrero, LA $100


Mung Hoàng, Garland, TX $200


Hai Nguyễn, Watauga, TX $100


Hieu Nguyễn, Frisco, TX $100


Hue Nguyễn & Hue Chung, Raleigh, NC $100


Toan Văn Kim, Gretna, LA $100


Dai Văn Nguyễn, Palacios, TX $100


Thuy Nguyễn & Toan Nguyễn, Hayward, CA $100


Tri Nguyễn, Tulsa, OK $100


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Nguyễn Tương Hồng, Khánh Hòa, HS CLQ Sq:117.805. Bị thương ở sọ,


Trương Nhơn, Thừa Thiên, B2 CLQ Sq:201.625. Cụt tay phải.


Nguyễn Ðức Hối, Quảng Trị, HS TQLC Sq:203.570. Cụt chân trái.


Phan Dường, Thừa Thiên. NQ 11 108.671. Cụt chân phải.


Phan Sơn, Thừa Thiên, TS BÐQ Sq:209.804. Bị thương ở 2 chân. Liệt bán thân trái.


Hồ Ðắc Thái, Thừa Thiên, TU CLQ Sq:210.121. Gãy 2 tay. Bị thương ở mặt.


Huỳnh Ðông, Thừa Thiên, HS CLQ Sq:290.920. Mù mắt phải, mờ mắt trái.


Nguyễn Cửu Ty, Thừa Thiên, NQ Sq:216.029. Cụt tay trái. Bị thương ở bụng.


Nguyễn Hữu Quả, Quảng Trị, NQ Sq:124.374. Cụt chân trái.


Nguyễn Ninh, Thừa Thiên, HS CLQ Sq:200.625. Cụt chân phải.


Dương Tiến, Quảng Trị, TS1 CLQ Sq:202.062. Cụt chân trái.


Võ Thông, Quảng Trị, Sq:141.921. Cụt chân phải.


Ðào Phấn, Thừa Thiên, HS ÐPQ Sq:372.476. Mù mắt phải. Bị thương ở đầu.


Lưu Viện, Thừa Thiên, TS1 CLQ Sq:209.380. Bị thương ở đầu, ngực.


Hoàng Hòa, Thừa Thiên, HS1 CLQ Sq:213.017. Cụt chân trái.


Nguyễn Giáo, Thừa Thiên, Sq:154.253. Bị thương ở bụng.


Phan Hạnh, Thừa Thiên, HS CLQ Sq:400.917. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Sắc, Thừa Thiên, CLQ Sq:201.721. Bị thương ở đầu, ngực, chân phải.


Nguyễn Văn Hiếu, Thừa Thiên, TS CLQ Sq:204.175. Cụt chân trái.


Lê Ngọc Hàng, Thừa Thiên, B1 CLQ Sq:203.228. Cụt chân trái.


Mai Văn Bin, Thừa Thiên, B2 ÐPQ Sq:443.104. Cụt bàn tay phải.


Nguyễn Học, Thừa Thiên, B2 CLQ Sq:212.880. Cụt bàn chân phải.


Lê Viết Cường, Huế, TU CLQ Sq:143.181. Tàn phế 60%.


Nguyễn Thanh Thuế, Thừa Thiên, NQ Sq:203.215. Cụt chân phải.


Kiều Trí, Khánh Hòa, HS1 ÐPQ Sq:339.113. Gãy tay trái.


Nguyễn Dơ, Khánh Hòa, HS CLQ Sq:413.841. Cụt chân phải.


Mai Văn Trương, Ninh Thuận, HS CLQ Sq:400.010. MDVV 70%.


Trần Thí, Khánh Hòa, B2 CLQ Sq:411.724. Gãy chân phải.


Mai Mọi, Bình Thuận, NQ Sq:215.900. Mù mắt trái. Gãy chân phải.


Nguyễn Hữu Chi, Bình Ðịnh, ÐPQ Sq:293.158. Liệt chân trái.


Nguyễn Ngọc Bích, Bình Ðịnh, NQ Sq:244.020. Mù mắt phải.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trần Thị Nhuốt, Bến Tre, Quả phụ Cố Nguyễn Văn Triêm. Tử trận năm 1971.


Lê Thị Chẳng, Bến Tre, Quả phụ Cố B2 Nguyễn Văn Nơi. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Ngọc Phương, Cần Thơ, Quả phụ Cố TS Hà Ly Mê. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Vòng, Huế, Quả phụ Cố HS Trương Nhựt. Tử trận năm 1971.


Ngô Thị Yến, Phú Yên, Quả phụ Cố ThTá Nguyễn Ðông Quang. Tử trận năm 1971.


Võ Thị Chánh, Quảng Nam, Quả phụ Cố Nguyễn Chữu. Tử trận năm 1967.


Ngô Thị Nhan, Tiền Giang, Quả phụ Cố B1 Ðặng Văn Khương, Tử trận năm 1961.


Phạm Thị Khôi, Huế, Quả phụ Cố TS Hồ Công Si. Tử trận năm 1967.


Huỳnh Thị Ðào, Thừa Thiên, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Ðưa. Tử trận năm 1974.


Lê Thị Hồng, Quảng Trị, Quả phụ Cố XDNT Trần Văn Nhỏ. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Bé, Huế, Quả phụ Cố B1 Lê So. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Hòa, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố TS Lê Văn Bốn. Tử trận năm 19??


Huỳnh Thị Dung, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố HS1 Trần Văn Hát. Tử trận năm 1968.


Võ Thị Ðiếu, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Văn Ðủ. Tử trận năm 1968.


Ðoàn Thị Quý, Quảng Trị, Quả phụ Cố TS1 Hoàng Ly. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Rệm, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS Phạm Văn Ri. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Lựu, Ninh Thuận, Quả phụ Cố CB Nguyễn Ngọc Ðỉnh. Tử trận năm 1967.


Hồ Thị Cúc, Saigon, Quả phụ Cố B2 Nguyễn Văn Thành. Tử trận năm 1972.


Ðỗ Thị Xuân, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS Phạm Duy Liên. Tử trận năm 1970.


Phạm Thị Tương, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS Trần Văn Sáu. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Ða, Ðồng Nai, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Phúc. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Nho, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS1 Trần Hiệu. Tử trận năm 1968.


Võ Thị Trưng, Phú Yên, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Tất Sắt. Tử trận năm 1971.


Dương Thị Trinh, Saigon, Quả phụ Cố TS Nguyễn Văn Muông. Tử trận năm 1969.


Ðoàn Thị Liên, Bạc Liêu, Quả phụ Cố HS Thái Thành Kính. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Nở, Bến Tre, Quả phụ Cố NQ Võ Văn Cay. Tử trận năm 1971.


Phạm Thị Cúc, Ðồng Nai, Quả phụ Cố CSQG Trần Ðông Hải. Tử trận năm 1965.


Ðặng Thị Mùi. Lâm Ðồng, Quả phụ Cố HS Ðinh Văn Hóa. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Hòe, Ðà Nẵng, Quả phụ Cố ÐU KQ Hoàng Bội. Tử trận năm 1975.


Bùi Thị Tuệ, Thừa Thiên, Quả phụ Cố HS Trương Em. Tử trận năm 1969.


Ðỗ Thị Pháp, Thừa Thiên, Quả phụ Cố HS Lê Ðịnh. Tử trận năm 1972.


Trần Thị Vân, Vĩnh Long, Quả phụ Cố HS Dương Văn Thành. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Lan, Quảng Trị, Quả phụ Cố NQ Hồ Phố. Tử trận năm 1967.


Lê Thị Gái, Quảng Trị, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Tường. Tử trận năm 1969.

Lạc loài trên đất mẹ

Truyện ngắn:


 


Nguyên Huy


 


Một


Trời mờ sáng. Duy cúi nhìn đồng hồ tay. Chiếc đồng hồ hiệu Seiko Năm Bơ Phai “chặt góc” mới mua để “làm của” nhân dịp sắp sang Mỹ định cư, lóng lánh lên nước men i nốc. Mới có 5 giờ 15 sáng. Chàng đứng dậy vươn vai, làm vài động tác cho giãn gân cốt.


 Thúy nhìn theo, giọng săn sóc:


– Anh uống thêm ly cà phê cho tỉnh táo.


Chàng nhẹ lắc đầu. Gần trắng một đêm xuân thao thức, chờ đợi. Người chàng muốn rũ ra. Hai hốc mắt cay sè. Hơi thuốc thơm ba số đắng nghét. Cái thú một ngụm cà phê, một hơi thuốc thơm buổi sáng tinh sương là nỗi ước mơ thần tiên suốt thời gian trong các nhà tù tập trung cải tạo, với Duy, lúc này chẳng còn ý nghĩa gì cả. Bây giờ trong tâm trí chàng dầy đặc nỗi háo hức, hồi hộp sắp được phỏng vấn. Nghĩ đến phỏng vấn, một nỗi hoan lạc lại miên du khắp châu thân. Duy thấy rõ, nó như những làn sóng sinh động lắm, dập dờn theo máu luân lưu trong huyết quản. Chàng không nén nổi nụ cười kín đáo. Thúy bắt gặp nụ cười ấy, cũng kín đáo cười lại. Một cảm thông sâu sắc giữa hai người.


Hơn 10 năm nuôi chồng trong tù cải tạo. Cũng hơn 10 lần lặn lội, băng suối xuyên rừng quên cả những Xuân, những Hạ, những Thu, những Ðông nơi các rừng sâu núi thẳm ở miền Bắc để đưa đến cho chồng từng nắm muối to hạt, từng gói đồ ăn chắt chiu dành dụm của ba mẹ con nàng. Và đặc biệt là những câu chuyện, những tin tức để cho chàng giữ vững được tinh thần, vượt thoát được hoàn cảnh, để sống cho một tương lai.


Tương lai ấy mở đầu là ngày hôm nay như một mùa Xuân sắp trở về.


Quanh chàng bây giờ là hàng trăm người đứng, ngồi nôn nóng. Ai cũng hướng mắt về phía cửa sắt lớn rộng còn đóng. Ở nơi đó có một cái bàn gỗ cáu bẩn. Trên bàn không có cái gì khác ngoài một chồng giấy báo tin được chặn bằng một hòn đá. Ðó là giấy báo tin của những người được gọi đi phỏng vấn sáng nay. Họ đã đến từ 3, 4 giờ sáng và để chắc ăn, họ cứ nộp trước, dù chưa có ai nhận. Duy có được nghe nói đến cảnh này nhiều lần khi đến nghe ngóng tin tức ra đi ở nơi “Vườn Tao Ngộ” trước Bộ Ngoại Giao cũ, nay là Sở Ngoại Vụ của chế độ mới.


Với những người này, cũng như chàng, ngày được gọi phỏng vấn là cao điểm của nỗi đợi chờ dài đặc tháng năm. Nỗi đợi chờ tưởng như không tưởng và cũng từng là đề tài châm biếm cho những người bạc nhược, bi quan hoặc không có đủ điều kiện để ra đi, để hy vọng.


Trời đã sáng rõ. Khắp các quán cà phê lề đường dọc theo hai bên hè trước căn nhà được dùng làm nơi phỏng vấn này, người ngồi đông kín. Những khuôn mặt xác xơ, những hố mắt sâu trũng, nhưng không vì thế mà che giấu được niềm hân hoan, kiêu hãnh sắp được ra nước ngoài. Những bộ áo quần lành lặn, có hơi diêm dúa của các bà, các cô trong khi cánh đàn ông thì cổ cồn cà vạt, có người còn đóng cả bộ com lê còn thơm mùi vải. Hầu hết nữ giới, già cũng như trẻ đều trịnh trọng trong những bộ áo dài quốc phục của phụ nữ VN. Những tà áo diêm dúa, hình vẽ hoa lá, rồng phượng kể cũng khá lạc lõng trong cái thành phố mà ai cũng phải bôn ba đầu đường xó chợ để kiếm miếng ăn này.


Tiếng cửa sắt bỗng rít lên. Mọi người đứng cả dậy, nhốn nháo, hướng cả mắt về nơi đó. Một nhân viên của Sở Ngoại Vụ ra nhìn đống giấy trên bàn. Anh ta lắc đầu rồi nhìn đám đông đang vây quanh dưới bực thềm, dõng dạc hỏi:


– Những giấy báo này của ai?


Tiếng ồn vỡ tung ra. Người nhân viên sở Ngoại Vụ lắc đầu cương quyết:


– Của ai thì lấy về đi.


Nhiều tiếng nói lớn:


– Chúng tôi đến trước nên để trước, có thứ tự mà.


Nhân viên sở Ngoại Vụ vênh mặt:


– Bây giờ mới là giờ nhận giấy. Tôi bắt đầu thu.


Một may mắn tình cờ, anh ta với tay cầm ngay tấm giấy báo tin mà Duy vừa giơ lên. Mọi người xô nhau đến. Lớp thì lấy lại giấy để trên bàn, lớp thì cố chen vào đưa cho người nhân viên tạo nên một cảnh chen lấn thật hỗn độn. Duy lách khỏi đám đông gặp ngay Thúy đứng ở vòng ngoài nhớn nhác hỏi:


– Anh nộp được chưa?


– Rồi. Số một.


Thúy vẫn còn ngơ ngác:


– Sao? Số một gì?


– Thì số một là số một, là đầu tiên.


Vẫn chưa hết thắc mắc, Thúy hỏi:


– Người ta đã nộp cả chồng, để trên bàn trước rồi mà.


Duy kéo cánh tay vợ, vừa đi vừa giải thích. Thấy Bố cười vui, hai đứa con Duy cũng hớn hở. Ðứa nhỏ 7 tuổi, ngây thơ hỏi:


– Chốc nữa mình đi Mỹ hở Mẹ?


Thằng anh đánh vào đầu em:


– Mày không biết cái gì, đừng có hỏi.


Duy ôm hai đứa con vào lòng. Lòng thương con tràn ngập. Ðứa con nhỏ như vẫn muốn xô chàng ra. Ðã ba năm ra khỏi tù, sống bên con nhưng Duy vẫn cảm thấy có cái gì chưa hẳn thân thuộc với đứa nhỏ. Nó ra đời và lớn lên chỉ thấy hình ảnh mẹ. Trong sự hình thành trí tưởng của nó, đã thiếu hẳn hình bóng người cha. Phải mất bao lâu nữa để Duy xây dựng được tình cha con thắm thiết như thường lệ! Duy nhìn con, muốn khóc. Chàng với tay, kéo nó vào lòng, ôn tồn hỏi:


– Con ăn gì nữa không?


Nó nhìn Duy, lắc đầu không nói, chuồi ra khỏi vòng tay chàng, hỏi Thúy:


– Mỹ có xa đây không hả Mẹ.


Duy cười, xoa đầu nó:


– Xa lắm, con à.


Thúy chợt hốt hoảng:


– Kìa anh. Họ đang cho vào phòng đợi.


Duy vội vã đứng dậy cùng vợ con bước lên những bậc thềm tiến vào. Những hàng ghế gỗ dài đã kín người ngồi. Tiếng gọi nhau, tiếng thăm hỏi ồn ào cả căn phòng lớn. Một không khí chợt như khác hẳn. Duy có cảm giác đang đi vào một đời sống khác. Chỉ lát nữa đây, qua khỏi tấm rào gỗ, lọt qua một trong 6 tấm cửa, vào một căn phòng lạnh nào đó, rồi trở ra, bỗng nhiên trở thành người nước ngoài sống trên đất nước Việt Nam. Phải, luật lệ của nhà cầm quyền hiện tại là kể từ ngày được chấp thuận ra đi, những người được phỏng vấn trở thành người nước ngoài sống trên đất nước VN và phải chịu cảnh sinh hoạt đắt đỏ theo ấn định của nhà nước so với người dân khác. Chàng cũng không cần biết điều ấy có hợp lý không, có đúng với quốc tế công pháp hay không. Hãy quên tất cả để chỉ có nhớ một điều là đừng vi phạm gì để họ có cớ giữ lại như chàng đã từng bị biết bao nhiêu lần trong suốt thời gian bị tập trung cải tạo.


Thúy đã dắt hai con vào một cửa hàng ăn được tổ chức ngay trong phòng đợi. Vào những ngày gần đây, chàng thấy rõ sự ăn tiêu rộng rãi của Thúy. Nó thể hiện nỗi vui mừng kín đáo, lúc nào cũng chỉ muốn ào ra, vỡ tung kể từ lúc vợ chồng chàng nhận được giấy báo phỏng vấn. Trong nỗi vui chan hòa ấy, đôi lúc Duy chợt thấy vướng mắc một cái gì. Những câu chuyện về phỏng vấn được các bạn tù kể lại đã ảnh hưởng đến vợ chồng Duy không ít. Một người ở Ðà Nẵng, cựu sĩ quan không quân, ra tù vì quá cẩn thận đem cất giữ giấy tờ quá kỹ. Khi được phỏng vấn, phái đoàn Mỹ không tin rằng ra tù đã 7 năm mà sao giấy ra trại còn mới tinh. Họ nghi là giấy giả. Cuộc phỏng vấn được gác lại. Chờ!


Chuyện kể một bà vợ người tù được phỏng vấn thì từ ngày CS vào “giải phóng” chỉ còn biết lam lũ với những bộ đồ bà ba đen sờn rách, nay đi phỏng vấn là dịp quan trọng, bà đã mặc một bộ đồ bộ mới may bằng hàng “suýt” bóng đang là thời trang của phụ nữ Saigon. Phái đoàn phỏng vấn cho là bà mặc đồ ngủ tới làm việc. Hồ sơ bị từ chối!


Chuyện cũng còn kể hai vợ chồng người cựu tù có một đứa con sinh ra trong thời gian chồng còn ở tù. Phái đoàn không hiểu là đôi vợ chồng ấy đã được thăm nuôi 24 giờ và người vợ trẻ đã mang thai sau buổi thăm nuôi ấy. Phái đoàn vặn hỏi mãi, không ai tin là một người đang bị tù mà lại có con với vợ ở ngoài được. Sau cùng, hồ sơ bị từ chối.


Những câu chuyện ấy làm vợ chồng Duy mất ăn mất ngủ bởi vì cũng chính là trường hợp của vợ chồng Duy. Ngày chàng bị giải từ Bắc vào, Thúy nghe lời bạn bè cùng thăm nuôi đã chạy chọt sao đó mà được thăm 24 giờ. Sau ngày thăm nuôi ấy, Thúy có mang và sanh thằng Vọng, nay nó đã được 7 tuổi.


Duy thầm cầu mong gặp được phái đoàn dễ tính, cảm thông với những kẻ khốn cùng này. Chàng liếc nhìn lên phía lầu, nơi có 6 phòng phỏng vấn. Lúc này cửa các phòng vẫn đóng im ỉm và suốt dọc hành lang không có một bóng người. Cái vẻ vắng lặng ấy càng làm tăng thêm phần nghiêm trọng của phút giờ phỏng vấn. Nó như chứa chất những cửa ngõ mở vào cõi Thiên Ðường, nơi có một mùa Xuân.


Quái lạ! Cùng trên khoảng đất này, chỉ ngoài kia thôi là cảnh sống mà ai cũng muốn từ bỏ. Và, ở trong này, nhất là trong những căn buồng kia, không khí đã được lạnh hóa bằng những cỗ máy lạnh, ai cũng muốn được vào thở cái không khí ấy. Duy nhớ lại, biết bao nhiêu ngày qua, có dịp đi ngang qua khu nhà này, bao giờ Duy cũng ghé mắt nhìn vào đám đông đứng lô nhô trong căn phòng đợi này, lòng lại dội lên sự thèm khát một ngày đặt chân trong đó. Và có lẽ tất cả mọi người dân Saigon đều có tâm trạng như chàng.


Bây giờ chàng cùng vợ con đang ngồi trong căn phòng chờ-đợi-nửa-đời-người này. Bất giác chàng quay nhìn ra cửa. Con phố trong một chiều xuân ơ thờ của mọi người ngoài kia vẫn là cảnh người và xe cộ ngược xuôi tấp nập. Những chiếc xe gắn máy còm cõi nổ đinh tai nhức óc. Những chiếc xích lô mà cái phần để chân được cải tiến hất cao lên cho nhẹ khi đạp, vẫn nhẫn nại lướt qua khuôn cửa này. Những đôi mắt thèm thuồng vẫn đổ vào đám người nơi phòng đợi. Một nỗi nôn nao khó tả, day dứt trong lòng. Vẫn như có một cái gì vướng mắc. Duy lại nghĩ về đứa nhỏ đã sanh ra khi chàng còn trong tù. Câu chuyện chàng được nghe sao bây giờ nó hiện hình ra cứ rõ mồn một, trở thành một ám ảnh khôn cùng. Duy còn mường tượng được cả nét mặt của những người trong phái đoàn Mỹ lúc ấy nữa. Khinh khỉnh. Lắc đầu. Cười nửa miệng. Chụm đầu thì thào với nhau. Rồi, một câu tuyên bố. Mở ra hay chấm dứt một Hy Vọng Nửa Ðời Người.


Thúy cùng hai con đã trở lại ngồi bên chàng. Ðưa cho Duy tấm bánh đậu xanh, Thúy nhỏ nhẹ:


– Anh thích bánh đậu xanh, ăn đi kẻo mai mốt qua bển rồi lại thèm.


Duy lắc đầu, dặn dò nhỏ bên tai Thúy:


– Em nhớ đấy. Nếu họ có hỏi thằng Vọng thì em kể rõ tình trạng đi thăm nuôi, ở lại đêm. Ngắn gọn, nhưng phải rõ ràng đấy.


– Sao anh không giải thích?


– Họ hỏi ai người ấy nói. Nói tranh, họ ghét.


Thúy im lặng, đưa mắt nhìn đứa con nhỏ đang gặm nốt khúc bánh mì cặp chả. Duy không hiểu Thúy nghĩ gì lúc này. Hình như nàng có vẻ khó chịu mỗi khi hai vợ chồng phải đề cập đến thằng Vọng. Có phải nàng đã hiểu nhầm Duy không. Có thể nàng đang bực bội, tủi thân tưởng chồng có đôi chút nghi ngờ về tình trạng mang thai thằng Vọng. Duy nắm lấy bàn tay chai và thô của nàng mong truyền được sự cảm thông sâu sắc. Thúy ngước nhìn chàng không nói, hơi có vẻ ngạc nhiên vì cái nắm tay ấy. Lòng Duy lại trào dâng tình cảm với vợ con. Ôi, những con người sống trung thực, ẩn nhẫn, thủy chung quá. Ðến lúc quốc phá gia vong rồi, con người ta mới tỏ lộ ra được hết cái giá trị của mình.


 


Hai


Duy mừng lắm. Bây giờ thì gia đình chàng đang ngồi trên cái ghế gỗ ngay trước cửa phòng số 6. Con số 6 xinh xinh gắn trên cánh cửa gỗ sẫm mầu trông thật dễ thương. Lúc ở dưới phòng đợi, người ta đã kháo nhau rằng ai được vô phòng số 6 là hên lắm. Cái ông Mỹ già này rất tốt, thường không hỏi gì nhiều mà cho qua cả, không như cái bà Mỹ mập ở phòng số 3, khó khăn mà lại hay hỏi vớ vẩn. Duy đưa mắt nhìn về phía phòng số 3. Một người bạn tù mới quen nhìn chàng lắc đầu, ý nói ông ta phải vào phòng số 3. Duy cố cười thật tươi để an ủi ông ta, nhưng không biết ông ta có hiểu ý chàng không.


Cửa phòng số 6 hé mở. Khuôn mặt một cô gái Việt ló ra. Cô mở rộng cánh cửa. Toàn thân cô trong bộ áo dài Việt Nam nhã nhặn. Cô cầm một xấp hồ sơ trên tay, khẽ hất đầu:


– Anh là Võ Duy?


Duy đứng ngay dậy:


– Thưa vâng.


Cô ta dở hồ sơ quay nhìn Thúy:


– Chị là Lê thị Thúy?


Thúy chắp hai tay phía trước, gật đầu. Duy bực tức khi thấy Thúy vô tình đã chắp hai bàn tay lại, tỏ vẻ cung kính trước một cô gái chỉ đáng tuổi em út.


– Hai cháu bé đây là Hùng và Vọng?


Thúy vẫn chắp tay:


– Thưa cô vâng.


Cô gái đứng lui vào trong, khẽ dang tay:


– Mời anh chị và gia đình vào.


Cô gái đóng ngay cửa lại. Không khí thật tĩnh. Cuối phòng là một người Mỹ không phải lả một ông Mỹ già như chàng tưởng mà là một ông Mỹ còn trẻ đang dở một chồng hồ sơ. Ông ta nhìn vợ chồng con cái chàng. Cô gái đưa mọi người tới 4 chiếc ghế đệm ngay trước mặt người Mỹ. Không khí nén hơi thở Duy ngột ngạt. Căn phòng rì rầm tiếng máy lạnh. Ðã lâu lắm rồi, Duy mới lại được nghe cái âm thanh rì rầm tĩnh lặng này. Ðầu óc Duy bây giờ trống không, không còn một ý nghĩ gì.


Cô gái cúi xuống nói với người Mỹ. Ông ta chậm rãi gấp tập hồ sơ lại. Cô gái nói:


– Anh chị nói bằng tiếng Việt. Chúng tôi sẽ dịch lại.


Người Mỹ gật đầu chào mọi người. Câu hỏi đầu tiên. Câu hỏi thứ hai. Lý lịch của Duy. Câu hỏi thứ ba. Thằng Vọng mấy tuổi. Câu hỏi thứ tư. Ngày ra tù của Duy. Cũng vẫn câu hỏi thứ tư, nhưng cho Thúy…


Người Mỹ giở hồ sơ, đọc lại, đối chiếu một giấy tờ gì đó trong một tập hồ sơ khác. Ông ta nói gì đó với cô gái. Cô gái chống hai tay trên bàn cạnh ông ta, hỏi lại. Ông ta nhắc lại, Duy chỉ thoáng nghe được tiếng “over.” Cô gái quay qua nhìn Duy, rồi Thúy, đoạn chậm rãi nói:


– Phái đoàn không chấp thuận hồ sơ của anh chị.


Một dòng nước lạnh buốt xối xả lên người Duy, khởi từ tâm trí rồi khắp châu thân. Duy nghe thấy tiếng Thúy bật khóc. Duy còn chợt nhìn thấy thằng Vọng ngước nhìn ông Mỹ và cười. Một phản ứng tự nhiên, Duy mạnh bạo:


– Cô hỏi hộ xem có thể cho biết lý do.


Cô gái thản nhiên:


– Có sự gian dối trong hồ sơ.


Duy vẫn tiếp tục:


– Cô có thể nói rõ hơn. Cô cho tôi nói với phái đoàn.


Người Mỹ chợt nói bằng tiếng Việt khá rõ:


– Ông bà không khai thực về tình trạng người con thứ hai.


Căng thẳng thần kinh, nhưng Duy cũng vẫn cố trấn tĩnh để tìm lời nói ngắn gọn, khúc chiết để giải thích. Nhưng người Mỹ đã khoát tay và cô gái tiến đến:


– Anh chị có thể làm đơn khiếu nại lên phái đoàn. Giờ đã hết giờ phỏng vấn.


Không còn biết nói gì hơn, Duy đành dắt vợ con ra cửa. Chàng hỏi lại cô gái:


– Chúng tôi xin khiếu nại ở đâu, cô?


– Anh chị xuống liên hệ ở dưới nhà hoặc có thể ra dịch vụ.


Cánh cửa đóng lại. Duy không còn được đứng trong cái không khí được lạnh hóa. Chàng đang ở không khí của Saigon, của quê mẹ. Thúy vẫn còn chùi nước mắt. Hai đứa con chàng thản nhiên kéo nhau đi về phía cầu thang. Một lúc sau, Thúy mới giục:


– Anh thử xuống dưới nhà hỏi xem thủ tục khiếu nại thế nào.


Duy đi. Hồn chàng ở đâu bây giờ.


 


Ba


Chiếc xe Lam đầu ngày chạy về phía ngã ba Cát Lái đã phá vỡ cái không khí yên tĩnh của buổi sáng mùa xuân đồng quê. Duy nhớ ra là mọi ngày khi chuyến xe Lam này chạy qua là chàng đã vun gốc xong vườn bắp đang trổ hoa. Thế mà hôm nay còn trầy trật mới xong được già nửa. Chàng thấy ê ẩm hai vai và những bắp tay sớm mỏi. Bất giác chàng nghĩ đến tuổi tác. Gần 50 rồi còn gì. Sức chàng đã mòn mỏi sau 10 năm 9 tháng trong ngục tù của cộng sản, bây giờ lại phải miệt mài với những luống bắp vồng khoai. Cuộc sống thì không còn một nỗi đợi chờ nào nữa. Ngày mai không là niềm hy vọng. Ðời chàng đã rũ xuống, không còn gượng dậy được nữa.


Sau lần phỏng vấn và bị từ chối, chàng đã ba lần gửi đơn xin khiếu nại, từ Sở Ngoại Vụ, đến sang tận Tòa Ðại Sứ Mỹ bên Thái Lan rồi lại qua tay dịch vụ xuất ngoại nữa mà cũng chẳng được kết quả gì. Hai vợ chồng đành dắt díu con cái về quê ngoại để tiếp tục cuộc sống không bao giờ có mùa Xuân kể cả Hy Vọng và Nỗi Ðợi Chờ.


Duy không còn buồn khổ. Những thất bại đắng cay từ ngày đổi đời đã ào ạt kéo đến làm Duy chai cứng tâm hồn. Ðã cả năm rồi, chàng không bén mảng tới thành phố. Chàng coi ở đó như là một cuộc sống khác, không phải là của chàng. Chàng thờ ơ với tất cả.


Tất cả, kể cả cái tàn tạ của Thúy. Người đàn bà bên chàng như một cái bóng, âm thầm chịu đựng, héo hắt. Mới chưa đầy 40 mà đã như bà cụ 60, từ tâm hồn đến thể xác. Hai đứa con chàng thì miệt mài cùng đám con trẻ trong vùng đi mò cua bắt tép suốt ngày để có thêm chất protein. Chúng lớn lên, cằn khô, Duy cũng không ý thức được rõ rệt. Bởi vì chính chàng, Duy cũng đang lạc loài trên vùng đất Mẹ.

Ðọc lại bài viết của một hậu duệ QLVNCH: Chỉ một ước mong


 


Trà Khan


 


Cuộc chiến Nam Bắc giữa người Quốc Gia và Quốc Cộng, chúng tôi đứng ngoài cuộc chiến vì tuổi đời còn nhỏ, khi cuộc chiến chấm dứt, thời gian khá lâu theo ba mẹ ra đi theo diện H.O. Thời gian trôi qua, chúng tôi đã trưởng thành trên đất khách, là một người con sống trong gia đình, cha mẹ là nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam, và nhận thức học hỏi thêm đến các chú bác, ông bà, cũng như khi đọc qua báo chí điện đài, nhất là hằng năm khi 30 Tháng Tư lại về, cho dầu tuổi trẻ chúng tôi cũng cảm thấy một niềm đau bất tận, khi cộng sản chiếm trọn miền Nam.


Hằng năm, mỗi lần Tháng Tư lại đến, đã nhắc nhở đến những người bỏ nước ra đi, cho dù phải trốn thoát theo con đường nào, diện nào, để đến quốc gia cưu mang xin được tạm dung, cũng phải cảm nhận rằng, mọi người chúng ta cùng đi chung trên tuyến đường tỵ nạn CSVN, kẻ trước người sau, cho đến nay đã 35 năm qua, thời gian khá dài đã chiếm trọn một nửa đời người, và cũng từ 35 năm đó người Việt tỵ nạn tại miền Nam Cali đã trưởng thành vững mạnh, về thương mại, chính trị, cũng như các chính giới truyền thanh, truyền hình, đến các nhật báo, tuần báo v.v… cả đến từng cá nhân đến cá nhân, tất cả cho 30 Tháng Tư, ngày đau thương nhất lịch sử dân tộc Việt.


Ðược nghe, được đọc, qua nhiều hình thức khác nhau, chúng tôi còn xem trên Internet trên Online, 35 năm nhìn lại, trả lại sự thật cho lịch sử, Nguyễn Thị Ngãi vị thánh của những đứa trẻ mồ côi hay hành trình tìm lại dấu tích thuyền nhân v.v… và còn nhiều nữa nữa, đã làm cho tim tôi se thắt không ít.


Dầu trời đã về khuya, song cũng ráng thức tỉnh ngồi vào bàn computer, dùng đôi bàn tay gõ đều trên từng chữ alphabet của keyboard, tiếng kêu lốp đốp như tiếng lòng thổn thức từ con tim của chính mình, mong góp tiếng nói vào ngày lịch sử đau thương nhất của dân tộc Việt Nam 30 Tháng Tư.


Dù thiển ý nầy, chúng tôi xem như hạt muối mặn giữa trùng dương, và một ước mong nếu có, chỉ là tiếng kêu lạc lõng trên một bãi sa mạc rộng mênh mông. Ðôi lúc, chúng tôi cảm thấy chùn lòng, là mình có đạt được như ý hay không, hay chỉ là một giấc Nam Kha


Nhưng! Chúng tôi cũng tiếp tục viết theo ước vọng và an ủi của chính mình, cho dù chẳng đạt được như ý.


Chúng tôi, xin có một thiển ý gởi đến các hội đoàn, các hội đồng hương, các mạnh thường quân người Việt tỵ nạn khắp năm châu bốn bể.


Ngày đau buồn nhất, cũng là đêm đen không bao giờ sáng cho miền Nam nước Việt mến yêu của chúng ta, VNCH bị xóa sổ. Ngày của 5 vị tướng trong QLVNCH tuẫn tiết không hàng giặc như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai và Phạm Văn Phú. Chúng tôi không đủ chữ để diễn tả hết nỗi lòng trong niềm thương nỗi nhớ, và hết lòng khâm phục đến cái chết đầy bất khuất của các ngài đã chọn sẵn. Tổ Quốc VNCH vấn khăn tang từ dạo ấy.


30 Tháng Tư, dù trăng, sao, trời đêm, có tắt lịm, thì những cánh sao vàng của năm vị tướng miền Nam cũng đủ sọi sáng khắp muôn phương, cho muôn dân miền Nam VN nhận thấy cái khí tiết hào hùng của 5 vị tướng nêu trên. Tên các ngài sẽ được đời lưu danh thiên cổ. Các ngài đã theo bước tiền nhân của một Hoàng Diệu, của Nguyễn Tri Phương, của Phan Thanh Giản. Các ngài đã xác định được thế đứng của một vị tướng lãnh, chết vinh hơn sống nhục lấy sự tận trung để đền đáp ơn sơn hà xã tắc, lấy sự tận hiếu để bồi tình thê nhi gia tộc. Các ngài thật xứng đáng với câu nói của tiền nhân ta để lại “sống vi tướng, tử vi thần, anh hùng tử khí thiên bất tử.”


Các ngài chọn cái chết uy dũng không để lọt vào tay kẻ thù, là một điểm son sáng ngời, tô thắm cho sắc áo màu cờ của quân dân cán chính VNCH, cái chết năm vị tướng đã viết lên trang sử cận đại thật hào hùng của quân dân miền Nam ở thế kỷ 20.


Các ngài xứng đáng để cho QLVNCH nói riêng và muôn dân miền Nam VN nói chung, vinh danh các ngài là những vị thánh.


Dầu chúng ta là kẻ chiến bại, nhưng chúng ta vẫn có quyền hãnh diện, là trong QLVNCH còn có những người con của tổ quốc, biết sống trọn thủy trọn chung đến giờ thứ 25 khi đất nước rơi vào tay giặc. Các thế hệ mai sau, khi đọc đến những trang sử nầy, phải kính cẩn nghiêng mình mà bái phục.


Cuộc chiến chấm dứt, nhà miền Nam tang thương đổ vỡ, ai chết để chúng ta được sống, chúng ta cần phải biết ơn đến những người lính nằm xuống, bằng lời nói cũng chưa đủ, phải thể hiện bằng hành động và việc làm.


30 Tháng Tư mỗi năm lại về, năm nào trên các nhật báo, cũng có dành mỗi đầu trang của một tờ báo, hay các đài truyền thanh, truyền hình ở mỗi đầu giờ, đọc qua từng tiểu sử tên tuổi các ngài, thêm vào đó là những khúc nhạc buồn, chiêu hồn tử sĩ, kéo dài đến cả tuần lễ hay nhiều hơn nữa, làm cho kẻ bỏ nước ra đi phải rơi lệ. Không ngoài mục đích là nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quên những chiến sĩ vì nước quên mình, phải luôn luôn nhớ ơn đến họ.


Những việc làm của giới truyền thanh báo chí nói trên, chúng tôi muôn vàn biết ơn đến các người lãnh đạo và các nhân viên điều hành, trong các tòa soạn, trong các đài phát thanh, truyền hình, đã góp tiếng nói vô cùng quan trọng cho 30 Tháng Tư ngày đau buồn nhất của quân dân cán chính VNCH.


Song chúng tôi vẫn thấy chưa đủ, cần phải thể hiện cung cách to lớn nghiêm trang hơn nữa, là cần nên thành lập một đền thờ 5 vị tướng không thể thiếu trên đất khách, nơi mà người Việt Nam tỵ nạn đang sống, nhất là tại Little Sài Gòn còn cần thiết hơn nữa.


Chúng ta không thể trở về nơi quê hương thực thu, để lập lăng miếu đền thờ mà thờ cúng các ngài, vì nơi đó kẻ thắng còn đang ngự trị. Song, chúng ta đã từng nói, bỏ nước ra đi là mang theo cả quê hương. Vậy thì, chúng ta chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai, thì chờ đợi gì mà không lập được đền thờ cho các ngài. Nhất là nơi miền Nam Cali, nơi có trên 300 ngàn người Việt tỵ nạn, được mang cái tên khá hãnh diện cho những người VN sống lưu vong nơi đây “thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn.” Nơi đây, chúng ta đã có tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, có đền thờ Hùng Vương, có Thư Viện Việt Nam, thì sao lại thiếu đền thờ của các vị tướng lãnh tuẫn tiết.


Khi còn đối diện với kẻ thù, chúng ta là người lính, không ít thì nhiều, hoặc gián tiếp hay trực tiếp nằm cùng một trướng, nhận cùng một lời hịch từ tay các ngài ban xuống. Nay! chúng ta còn có nơi đây, cả trăm nghìn gia đình HO đang sống trên một đất nước có nhiều cơ hội không làm được điều nói trên ư?


Thưa các bậc nhân hào! Các bậc cao niên! Các bậc đàn anh! và những anh em cùng chung chiến tuyến!


Chúng tôi không dám múa rìu qua mắt thợ vì cạn hẹp kiến thức, và cạn hẹp mọi thứ mọi điều, chúng tôi như là những người đang dùng tay tát nước biển, thì sẽ không bao giờ cạn. Nhưng chúng tôi chỉ có tấm lòng chân thành, và mong rằng, chúng ta cùng chung nhau góp một bàn tay thì vỗ nên kêu. Nơi đây, chúng ta đã có nhiều hội đoàn, có nhiều tổ chức, có nhiều trung tâm băng nhạc ca kịch múa hát, đã từng gây quỹ, gây tiệc thành công, từng làm thiện nguyện viên đi quyên góp, giúp đỡ nạn nhân Katrina, Tsunami, Haiti, giúp đỡ nạn nhân bão lụt quê nhà v.v… Chúng tôi xin tôn vinh và luôn biết ơn những việc làm từ tâm, đến các vị lãnh đạo đoàn thể, đến các tổ chức bất vụ lợi, đến các mạnh thường quân, cứu giúp đến những nạn nhân bất hạnh, trong tiếng kêu than “một đồng lúc túng cũng so bằng nghìn.”


Nếu việc gây quỹ giống như thế này, chúng tôi tin chắc rằng, đền thờ các vị tướng vì quốc vong thân, không sớm thì muộn cũng sẽ thành công và xây dựng được tại Little Sài Gòn, Thủ Ðô Tinh Thần của người Việt tỵ nạn tại Nam Cali.


Rồi mai kia, đền thờ nếu được thành công như ý muốn, đều đó chứng minh rằng người Việt bỏ nước ra đi sẽ không bao giờ quên ơn các ngài, đó cũng là nguồn an ủi to lớn đến các gia đình vợ con, và người thân tộc có liên hệ đến các ngài hiện đang sống còn. Rồi nơi đây, Little Sài Gòn sẽ tạo thêm cuộc sống hùng, sống mạnh, làm tăng thêm sức mạnh về tinh thần, hồn thiên sông núi sẽ phù hộ cho chúng ta, đầy đủ sức khỏe, biết đoàn kết và thương yêu nhau hơn.


Khách du lịch nào từ tiểu bang khác trên nước Mỹ, hay từ Âu Châu, Úc Châu đến Nam Cali, chắc chắn rằng họ không quên đến Bolsa viếng thăm đền thờ các ngài cũng như họ đã từng viếng thăm tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ trong mấy năm qua.


Nếu được như ý muốn, chúng ta sẽ chiêu mộ các điêu khắc gia Việt Nam đang tỵ nạn trên đất Mỹ, tạc tượng hay đúc tượng bán thân cho các ngài (chỉ ý kiến thôi) và nơi đó, có để một cuốn sổ vàng lưu niệm vài trăm trang giấy, và còn nhiều dự thảo khác nữa, khách viếng thăm đền thờ có thể viết vào đó vài lời, để nói lên cảm tưởng của chính mình.


Ðoạn kết của bài viết nầy, chúng tôi chỉ có thiện ý trong kiến thức cạn hẹp, chắc chắn rằng có nhiều lỗi lầm sơ sót, chúng tôi mong sự bao dung tha thứ từ người đọc. Và ước mong việc xây dựng đền thờ sẽ có thật, và đừng để ước mong của chúng tôi nó trở thành một giấc Nam Kha.

Tin mới cập nhật