Thuyết trình về học giả Phạm Quỳnh và 95 năm Tạp Chí Nam Phong

 


Nguyên Huy/Người Việt


 


Chiều hôm Thứ Bảy ngày 8 Tháng Chín, Viện Việt Học đã tổ chức buổi thuyết trình về Học Giả Phạm Quỳnh và 95 năm Tạp Chí Nam Phong.







Diễn giả Ðàm Trung Pháp đang thuyết trình về Nam Phong qua Internet với người tham dự tại Viện Việt Học. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Ba diễn giả là nhà văn Phạm Phú Minh, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích và Giáo Sư Ðàm Trung Pháp. Hai diễn giả sau, một ở Washington D.C., một ở Texas vì lý do sức khỏe, không về được nhưng đã theo lời mời của Viện Việt Học thuyết trình qua mạng lưới Internet với hình ảnh và âm thanh rất rõ.


Mở đầu nhà văn Phạm Phú Minh nhắc đến tiểu sử Học Giả Phạm Quỳnh và cái chết của học giả sau khi cộng sản cướp được chính quyền từ cuộc Cách Mạng 19 Tháng Tám của toàn dân, đã thủ tiêu một số những nhà trí thức không cùng đường lối với cộng sản trong đó có học giả Phạm Quỳnh. Chỉ sau năm 1956, chính quyền của Ðệ I Cộng Hòa mới được tin tức nơi chốn chôn cất ông Ngô Ðình Khôi, bào huynh của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và học giả Phạm Quỳnh tại một khu rừng thuộc tỉnh Quảng Trị. Gia đình học giả được thông báo đã cùng phái đoàn đi tìm hài cốt và nhận dạng được hài cốt của Học Giả Phạm Quỳnh với chiếc kính còn trên bộ cốt. Gia đình đã đưa về an táng tại chùa Bảo Phước, Huế.







Nhà văn Phạm Phú Minh thuyết trình về Học Giả Phạm Quỳnh và Nam Phong Tạp Chí tại Viện Việt Học. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Nhà văn Phạm Phú Minh cũng kể là có được cái duyên từ bé lúc 6 tuổi đã được thấy cụ Phạm Quỳnh khi cụ đến thăm trường tiểu học mà thân phụ của nhà văn làm hiệu trưởng. Từ đó nhà văn được nghe nói tới học giả Phạm Quỳnh với Nam Phong Tạp Chí. Nhà văn cũng cho biết: “Lớn lên, thế hệ chúng tôi cũng chưa được nghiên cứu kỹ Nam Phong Tạp Chí nay Viện Việt Học đã đại chúng hóa được kho tư liệu rất quý giá và vô cùng hiếm hoi này vì bộ Nam Phong Tạp Chí phải được phổ biến để mọi người Việt Nam được đọc”.


Trong phần lược kể về tiểu sử Phạm Quỳnh, nhà văn Phạm Phú Minh chia làm hai giai đoạn, một là làm văn hóa từ năm 1908 đến 1932, hai là tham chính từ 1932 đến 1945. Nhưng thời gian để cụ Phạm Quỳnh thể hiện được hết tài năng, hoài bão của cụ đó là từ 1917 cho đến 1932 là thời gian cụ làm tờ Nam Phong Tạp Chí.


Nhà văn Phạm Phú Minh nhìn lại trong lịch sử văn học Việt Nam thì thấy vai trò của Nam Phong Tạp Chí đã đóng một vai trò rất lớn. Nhà văn giải thích: “Từ đầu công nguyên, văn học nước ta bị ảnh hưởng của Trung Hoa, tuy có chữ Nôm nhưng vẫn bị coi thường. Ðến thời Phạm Quỳnh, tuy đã có chữ quốc ngữ nhưng vẫn còn hạn chế và thường bị lép vế trước chữ Pháp và chữ Nho. Nhưng cũng vào thời gian này thì báo chí đã là công cụ phổ biến chữ quốc ngữ. Trong Nam có Gia Ðịnh Báo, Nông Cổ Mín Ðàm… ngoài Bắc thì có Ðông Dương Tạp Chí rồi đến Nam Phong Tạp Chí… Tuy hầu hết báo chí đều do người Pháp làm chủ cho mãi tới thập niên 30 mới có người Việt làm chủ nhưng qua Nam Phong Tạp Chí, nay ta nhìn lại thì tờ báo này đã giúp mở mang kiến thức cho người đọc qua những trước tác về khoa học, triết học, lịch sử và văn minh thái tây. Chỉ đến Nam Phong chữ quốc ngữ đã được dùng trong các hình thức nghị luận, nghiên cứu, biên khảo.”


Cuối phần thuyết trình của mình nhà văn Phạm Phú Minh đã nhắc lại lời của học giả Phạm Quỳnh trong một bài viết tâm sự đăng trên Nam Phong “đã làm văn bằng tiếng mình”. Từ đó chữ quốc ngữ ngày một tiến triển để mở đường cho những phong trào văn học mới với Phong Hóa, Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn.


Kế tiếp, ông Nguyễn Minh Lân giới thiệu thuyết trình viên thứ hai là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, một nhân sĩ trí thức quen thuộc của cộng đồng người Việt hải ngoại. Qua Internet, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đã xuất hiện trên màn hình và trực tiếp nói chuyện cùng khoảng 50 người có mặt trong buổi sinh hoạt này. Giáo Sư Bích “chỉ xin đóng góp một số ý kiến nhân buổi chúng ta cùng nhớ về một nhân vật đã đóng góp rất nhiều trong lúc giao thời của đất nước”. Theo Giáo Sư Bích thì cụ Phạm Quỳnh đã cùng Petrus Ký ở trong Nam trước đó và Nguyễn Văn Vĩnh cùng thời ở ngoài Bắc, đã là những nhân vật xuất chúng trong sự nghiệp văn học. Vào thời gian này, văn xuôi trong văn học Việt Nam mới chỉ đi đến viết tiểu thuyết, Phạm Quỳnh đã đưa văn xuôi Việt Nam bước vào các lãnh vực triết học, khoa học, biên khảo. Chỉ tiếc rằng cho đến nay, vẫn chưa có được một luận án nào về hai cụ Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh.


Giáo Sư Bích tiết lộ: “Cụ Phạm Quỳnh thường thích được gọi là nhà báo hơn là các chức tước khác, bởi cụ nhìn thấy rõ tầm quan trọng và to lớn của báo chí. Chỉ qua báo chí người dân Việt lúc ấy mới biết được tin tức các nơi, mới hiểu được thế giới bên ngoài cái cổng làng hay lũy tre làng. Công đóng góp của cụ là qua phần chữ Việt và chữ Hán, cụ đã tương kế tựu kế mà giới thiệu phổ biến được những tác phẩm văn chương, triết học, khoa học thế giới đồng thời cũng tranh đấu cho sự tồn tại của văn hóa Việt Nam”.


Theo Giáo Sư Bích thì một người có công lao đóng góp như thế mà Hà Nội đã loại Phạm Quỳnh ra khỏi chương trình trong nền giáo dục. Chúng ta ngày nay nên cố gắng sưu tập lại những trước tác của cụ cả về thơ lẫn văn để in lại, bổ khuyết cho dòng văn học Việt Nam được toàn vẹn.


Diễn giả sau cùng là Giáo Sư Ðàm Trung Pháp. Cô Doãn Kim Thanh, ái nữ của nhà văn Doãn Quốc Sĩ đã giới thiệu về Giáo Sư Ðàm Trung Pháp, thầy học của mình. Cũng qua Internet, Giáo Sư Ðàm Trung Pháp đã nói chuyện trực tiếp với người tham dự buổi sinh hoạt. Cô Doãn Kim Thanh cho biết Giáo Sư Ðàm Trung Pháp là một nhà giáo dục ngôn ngữ, từng là giáo sư ngữ học tại Ðại Học Sư Phạm Saigon. Sau 1975, tị nạn tại Hoa Kỳ, Giáo Sư Ðàm Trung Pháp dậy tại nhiều đại học ở Texas.


Ðề cập đến phần thuyết trình của mình, giáo sư cho biết đã vui mừng biết bao khi đọc được những bài viết đề cập đến triết học, khoa học, văn chương trong Nam Phong Tạp Chí. Ðể chứng minh giáo sư đã trích một số bài của Nam Phong đọc lại với niềm thích thú và trân trọng. Giáo sư kết luận “Nam Phong Tạp Chí quả là vô giá, để đời. Nhiều thư viện lớn của Hoa Kỳ cũng chưa có đủ nhưng Viện Việt Học hoàn tất được công trình in lại toàn tập Nam Phong Tạp Chí, thật là điều đáng quí vô cùng”.


Trước khi chấm dứt buổi sinh hoạt, ông Nguyễn Minh Lân đã trình bày về công việc khá là gian nan cùng với gia đình của học giả Phạm Quỳnh để tìm lại được toàn bộ Nam Phong Tạp Chí để rồi được hàng chục bạn trẻ thân hữu của Viện Việt Học đã thực hiện từng trang trong số 35 ngàn trang vào trong các DVD với kỹ thuật hiện nay để tiện tra cứu.


Có mặt trong buổi sinh hoạt này, người con trai út của học giả Phạm Quỳnh là ông Phạm Tuân đã bày tỏ tâm tình: “Người ta nói Phạm Quỳnh là phản quốc thì xin cứ mở Nam Phong ra đọc thì có được cái nhìn đúng đắn”.


Cần biết thêm chi tiết về Nam Phong Tạp Chí, quí độc giả có thể liên lạc (714) 775-2050.


_____


Liên lạc người viết: [email protected]

Nhớ thương Cụ Bà Nguyễn Thị Thu

 





Cụ Bà Nguyễn Thị Thu sinh ngày 15 tháng 9 năm 1931 tại tỉnh Hải Dương, Bắc Việt, Việt Nam. Trong một gia đình có hai chị em.


Bà lập gia đình với Ông Nguyễn Văn Kiểm năm 1949, sanh hạ được 12 người con 4 gái, 8 trai và đến nay có 19 cháu Nội Ngoại và 1 Chắt.


Năm 1954, cuốn theo vận nước, Bà cùng gia đình di cư vào Nam và cư ngụ tại Bàn Cờ Saigon.


Bà đã tỏ ra là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát và tài giỏi để vừa làm tròn nhiệm vụ người vợ, người mẹ với tấm lòng tràn đầy yêu thương và hy sinh. Cụ đã tần tảo làm việc vất vả nuôi dạy 12 người con nên người.


Cụ định cư tại Hoa Kỳ năm 2007. Không những cụ là một người vợ đảm đang, một người mẹ đầy yêu thương và bao dung trong gia đình. Mà ngoài xã hội cụ cũng là một người đầy lòng yêu thương với những người chung quanh. Cụ thường xuyên đi lễ Chùa cũng như tham gia những công việc bác ái phước thiện. Cụ Bà cùng các đạo hữu Chùa Bảo Quang đi phục vụ những bửa ăn Tình Thương cho những người kém may mắn. Cụ thường xuyên hăng hái tham dự những buổi tiệc gây quỹ để xây dựng Chùa chung quanh Orange County.


Cụ Bà đầy bác ái và từ bi, từ đó hình thành một lối sống rất thanh cao và tự tại.


Bài thơ sau đây nói lên đời sống của Cụ:





Sống không giận hờn không oán trách


Sống mỉm cười với thử thách chông gai


Sống vươn lên với ánh sáng ban mai


Sống chan hòa với những người chung sống


Sống là động nhưng lòng luôn bất động


Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương


Sống yên vui nhưng danh lợi chỉ coi thường


Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến


Sống là cho chứ đâu chỉ là nhận


Mà cho đi là đã nhận rất nhiều


Niềm vui chia xẻ cùng người


Niềm vui có được nụ cười nhân đôi


Nhọc công tìm kiếm Đông Tây


Ai hay hạnh phúc ở ngay lòng mình


Hơn thua so với chính mình


Hôm nay mình phải hơn mình hôm qua


Đừng mơ ước những gì ngoài tầm với


Mây của trời hãy để gió mang đi


Học không hành hiểu biết sao thông


Hành không học việc làm sao tiến


Học và hành vượt qua tất cả


Học đến đỉnh cao là học khiêm nhường


Cuộc đời sắc sắc không không


Chỉ còn lưu lại tấm lòng từ bi




Xin Mợ yên giấc Nghìn Thu trong tình thương tiếc của các con, cháu, chắt.


 


 

Chống tham nhũng: Làm sao cho hiệu quả?

Nguyễn Hưng Quốc (VOA)


 


Gần đây, ở Việt Nam báo chí lại làm ồn về phong trào chống tham nhũng.


Thật ra, đó cũng là chuyện… thường ngày ở huyện. Lâu nay vẫn thế. Lâu lâu đảng và chính quyền Việt Nam lại phát động các chiến dịch chống tham nhũng, và nói chung, lần nào họ cũng thành công về… cơ bản; để sau đó, họ lại có dịp tung ra chiến dịch khác và lại có dịp báo cáo là đã thành công, nếu không về “cơ bản” thì cũng “bước đầu”.


Tuy nhiên, lần này thì tiếng ồn về việc chống tham nhũng coi bộ lớn hơn những lần trước. Thứ nhất, nó ồn ở sự kiện ban chấp hành trung ương đảng quyết định thành lập ban chỉ đạo trung ương về phòng và chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính Trị (nhưng người ta lại không giải thích gì về sự tồn tại của một ban chỉ đạo cùng tên đã được Quốc Hội thông qua ngày 29 tháng 10 năm 2005, trong đó ghi rõ ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng là do thủ tướng cầm đầu! Nếu có sự hoán chuyển về cơ quan cầm đầu thì trên nguyên tắc, nó phải được Quốc Hội thông qua, nhưng Quốc Hội, đến nay, hoàn toàn không bàn gì đến chuyện ấy). Thứ hai, nó càng ồn hơn do các vụ bắt bớ các quan chức cao cấp trong ngành ngân hàng với lý do lạm dụng công quỹ và làm việc sai nguyên tắc tài chính. Thứ ba, rải rác trên báo chí, người ta cho đăng tải một số bài liên quan đến việc phòng chống tham nhũng ở… những nơi khác.


Ví dụ, về việc chính phủ Thái Lan kêu gọi dân chúng tham gia chống tham nhũng. Chống bằng cách nào? Bằng cách tích cực tố cáo tham nhũng với chính phủ. Ðể giúp việc tố cáo ấy được nhanh chóng và hiệu quả, chính phủ Thái Lan chủ trương (a) thành lập các dường dây nóng; (b) đặt các thùng thư ở các nơi công cộng; và (c) lập các trang mạng để mọi người đều có thể gửi đơn tố cáo thẳng đến văn phòng thủ tướng. Cần chú ý: Về các biện pháp chống tham nhũng ở Thái Lan, các phóng viên chỉ tường thuật chứ không ai dám đề nghị là nên được áp dụng ở Việt Nam. Còn chính quyền Việt Nam thì im lặng.


Thật ra, không ai bảo đảm hai biện pháp phòng và chống tham nhũng ở Việt Nam và ở Thái Lan đều có hiệu quả hoặc biện pháp nào tốt hơn biện pháp nào. Việt Nam thì chọn biện pháp phòng và chống từ trên xuống. Cái gọi là “trên” ấy, thoạt đầu nằm trong tay thủ tướng; sau, có vẻ như người ta muốn nâng cấp lên Bộ Chính Trị, cao hơn phủ Thủ tướng. Ở Thái Lan, người ta chọn biện pháp từ dưới lên: Chính dân chúng, những người thấp cổ bé miệng, đóng vai trò chủ đạo trong việc tố cáo, qua đó, một mặt, vạch trần; mặt khác, ngăn chặn tham nhũng.


Cả hai biện pháp ấy đều bất cập.


Sự bất cập của biện pháp trên thì đã rõ: Người ta vừa đá bóng vừa thổi còi. Ở Việt Nam, lâu nay nhiều người đã nói nhiều đến sự giàu có một cách bất bình thường của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sự giàu có ấy đến từ đâu? Chắc chắn không phải từ lương hay bất cứ một nguồn thu nhập hợp pháp và chính đáng nào cả. Mà không phải chỉ có Nguyễn Tấn Dũng. Hầu như người nào trong nhóm lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và chính phủ cũng đều cực kỳ giàu có. Hiện tượng tương tự cũng từng được thấy ở Trung Quốc qua vụ án Bạc Hy Lai. Bây giờ, giao cho những người như thế nhiệm vụ chính trong việc phòng và chống tham nhũng, làm sao có tin cậy được? Cuối cùng, như cái điều mọi người đã từng nhìn thấy trong suốt nhiều năm qua: Chỉ có những cán bộ nho nhỏ, cấp phường hay cấp xã, là bị bắt về tội tham nhũng. Còn những cán bộ cao cấp, ngay cả khi bị các công ty và chính phủ ngoại quốc nêu đích danh về việc nhận hối lộ, người ta cũng tảng lờ với lý do “để tìm thêm chứng cứ”. “Chứng cứ” ấy không bao giờ có; thậm chí, việc tìm kiếm cũng không bao giờ thực sự bắt đầu.


Việc tố cáo tham nhũng từ dưới lên, cũng vậy, cũng chỉ thành công với điều kiện: Chính phủ, ở những cấp cao nhất, phải trong sạch. Bởi, nếu đơn tố cáo đến văn phòng thủ tướng, nhưng văn phòng thủ tướng lại bao che cho những con cá mập lớn nhất thì sao? Thì, không những việc tố cáo không có kết quả gì mà người tố cáo có thể mang họa, có khi đến mất mạng không chừng.


Cả hai biện pháp phòng chống tham nhũng nêu trên, muốn có hiệu quả, cần thêm biện pháp thứ ba: Theo chiều ngang, với sự tham gia của Quốc Hội, của tư pháp, của xã hội dân sự và của các cơ quan truyền thông. Các tổ chức này không những đóng vai trò phát hiện và tố cáo tham nhũng mà còn theo dõi việc chống tham nhũng của chính phủ và bảo vệ những người tố cáo tham nhũng.


Tuy nhiên, tất cả các tổ chức này chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh của họ với một điều kiện: Ðộc lập. Ðây chính là mấu chốt của vấn đề. Bởi, không độc lập, họ sẽ chẳng làm được gì cả, ngoài việc vâng lệnh những kẻ có chức quyền, nghĩa là, thành thực mà nói, những người tham nhũng nhất.


Ở Việt Nam, ai cũng biết, tất cả các tổ chức trên đều nằm hết trong tay của đảng. Vậy thì, một, ai sẽ tố cáo tham nhũng; hai, ai sẽ bảo vệ những người tố cáo ấy, nếu có; ba, ai sẽ kiểm tra việc xử lý các vụ tham nhũng? Câu trả lời đã rõ ràng: Không có ai cả.


Không thể không nghĩ đến vụ án nhà báo Hoàng Khương (Nguyễn Văn Khương) vừa mới xảy ra. Là phóng viên báo Tuổi Trẻ, Hoàng Khương viết loạt bài phóng sự về nạn tham nhũng của công an. Ðể có tài liệu và chứng cứ, ông tham gia vào một vụ hối lộ 15 triệu đồng (750 đô la) cho cảnh sát giao thông. Sau đó, ông viết bài đăng trên báo Tuổi Trẻ. Nhưng bài viết ấy lại trở thành chứng cứ để công an bắt ông về tội hối lộ. Ðầu năm 2012, ông bị bắt. Trong phiên tòa diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 9, ông bị kết án 4 năm tù giam. Trong khi đó, hai công an nhận tiền hối lộ của ông chỉ bị 5 năm tù.


Nhân vụ án Hoàng Khương, nhà báo Minh Diện nhớ lại một việc liên quan đến bản thân ông cách đây 14 năm: Năm 1998, ông có bằng chứng cho thấy Ngân hàng Việt Hoa cấu kết với công ty xuất nhập khẩu tổng hợp Long An tham nhũng hàng trăm tỉ đồng và gần 90 triệu đô la Mỹ. Ông muốn xác minh các tài liệu ấy nên đến trụ sở Ngân hàng Việt Hoa, xin gặp ban giám đốc. Không ai tiếp ông cả. Nhưng ngay sau đó, một cán bộ cao cấp trong ủy ban an ninh của Quốc Hội liên lạc với ông và yêu cầu ông từ bỏ ý định điều tra vụ tham nhũng ấy. Chưa hết. Mấy ngày sau, Ðào Duy Quát, phó trưởng ban tư tưởng-văn hóa trung ương kịch liệt lên án ông trong buổi giao ban hàng tuần của báo giới. Rồi tổng biên tập báo Tiền Phong, nơi Minh Diện đang làm việc, khiển trách ông và yêu cầu ông ngưng ngay mọi việc điều tra. Trước những áp lực nặng nề từ trên xuống dưới như vậy, nhà báo Minh Diện không những không thể tiếp tục điều tra vụ tham nhũng mà còn bị “treo bút”.


Từ kinh nghiệm của hai nhà báo Hoàng Khương và Minh Diện, ai còn dám chống tham nhũng nữa?


Và cũng từ đấy, người ta có thể tiên đoán ngay kết quả của các chiến dịch phòng và chống tham nhũng với những ban này ban nọ mà giới lãnh đạo Việt Nam đã hoặc đang thành lập.

Năm công ty lớn sẽ hết làm ăn trong năm 2013

 


HOA KỲMỗi năm 24/7 Wall St. nhận diện 10 thương hiệu quan trọng mà họ tiên đoán sẽ biến mất trong vòng một năm. Trang mạng này tính toán dựa theo những yếu tố quan trọng như: Doanh thu giảm sút nhanh dẫn đến sự thua lỗ, tiết lộ của công ty mẹ cho thấy thương hiệu này sắp dẹp tiệm, chi phí tăng cao, công ty được mời bán, hoặc sắp phá sản, mất khách hàng, và hoạt động trong khi giá trị cổ phiếu trên thị trường co rút lại. Năm công ty hàng đầu trong danh sách 10 công ty sẽ hết làm ăn vì có một hoặc nhiều hơn các yếu tố kể trên như sau:









Smartphone BlackBerry 8707h được giới thiệu ở Tokyo hồi năm 2007. RIM, công ty chế tạo sản phẩm này một thời thống lĩnh thị trường smartphone, nay đang mất dần khách hàng vào tay Apple và các công ty chế tạo smartphone khác. (Hình: Toru Yamanaka/AFP/Getty Images)


Pacific Sunwear of California, bắt đầu làm ăn vào năm 1980 từ một tiệm bán đồ ở Newport Beach dành cho dân chơi trượt sóng, gồm chủ yếu là kiếng mát, giày dép và đồ tắm theo “phong cách dân California”. Công ty nghiên cứu GMI Ratings gần đây đặt Pacific Sunwear vào danh sách các công ty có nguy cơ bị phá sản. Năm năm trước trị giá mỗi cổ phiếu của công ty là $23, nay chỉ còn $1.11. Pacific Sunwear of California sẽ được một công ty khác mua lại hoặc bán tất cả tồn kho cho các tiệm bán lẻ.


Research in Motion, công ty một thời thống lĩnh thị trường smartphone, mà BlackBerry là sản phẩm chủ lực của nó. Công ty của Canada này mất dần khách hàng vào tay Apple và các công ty chế tạo smartphone khác chạy bằng hệ điều hành Android của Google. Thị phần của RIM ở Mỹ từ 44% vào năm 2009, năm ngoái chỉ còn 10%, và đang tiếp tục thu hẹp thêm.


Current TV của ông Al Gore đang trong tình trạng cần tiếp sức để sống còn, ngay cả trước khi cho nghỉ việc bình luận gia sáng giá Keith Olbermann, và thay thế bằng cựu thống đốc New York là Eliot Spitzer. Ðiểm đánh giá ông Spitzer bị giảm gần 70% hồi Tháng Tư từ con số của ông Olbermann hồi Tháng Ba, theo Nielsen, công ty chuyên đo lường khán thính giả truyền hình. Số khách hàng của Current TV giảm đến độ mà Time Warner Cable có quyền để chấm dứt phát kênh của đài này.


Talbots, công ty bán lẻ đồ dùng của phụ nữ, nằm gần đầu danh sách các cửa hàng bán lẻ bị te tua vì cơn suy thoái kinh tế. Sự xuống dốc một phần vì công ty không cung ứng đủ sản phẩm thu hút được khách hàng. Sycamore Partners dự trù mua lại Talbots với giá $190 triệu nhưng rồi hoãn lại, có thể vì thấy rằng sau đó không thể làm cho Talbots vực dậy được. Talbots loan báo sẽ đóng cửa bớt 110 tiệm.


American Airlines. AMR, công ty mẹ của American Airlines nộp đơn khai phá sản theo Chapter 11 hồi Tháng Mười Một năm ngoái. Hiện công ty vẫn hoạt động như trước khi khai phá sản nhưng được sự che chở của luật phá sản này. AMR nói họ dự trù sẽ vươn lên trở lại từ Chapter 11. Nhưng US Airways Group khẳng định là họ sẽ mua lại hết tài sản của American Airlines. Một số nghiệp đoàn lớn nhất nói rằng họ hậu thuẫn kế hoạch này vì đó là cách bảo vệ việc làm tốt nhất. (T.P.)

Làng hoa Gò Vấp hoàn toàn mất dấu

Nguyễn Ðạt/Người Việt


 


Sài Gòn, thành phố lớn nhất nước, lại đặc biệt lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống trong đó có Làng Hoa Gò Vấp. Nhưng ngày nay làng hoa này đã hoàn toàn mất dấu, chỉ còn lại trong trí nhớ, trong tâm tưởng của người Sài Gòn mà thôi.







Ðường Cây Trâm hiện nay vốn từng là khu trung tâm của Làng Hoa Gò Vấp một thời. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Gò Vấp, có lẽ được đặt tên như vậy, vì vùng đất quận nội thành này vốn là một vùng gò cao. Nhà máy sản xuất nước tinh khiết nổi tiếng hiện nay, Sapuwa, được thiết lập tại quận Gò Vấp. Người dân cư ngụ tại đây từ lâu đời xác nhận vùng đất này có nguồn nước trong lành, thích hợp với việc trồng hoa; vừa là để thực hiện thú vui tao nhã, vừa trở thành một nghề có thu nhập cao cho nhiều gia đình ở địa phương. Và Làng Hoa Gò Vấp đã hình thành, phát triển hàng trăm năm nay.


Theo nhiều người trồng hoa trước đây cho biết, Làng Hoa Gò Vấp đã làm nên danh tiếng từ lâu đời; tuy không đồng thời nhưng cũng chẳng sinh sau đẻ muộn bao nhiêu, so với “làng trầu cau” của Mười Tám Thôn Vườn Trầu ở Bà Ðiểm, vùng ngoại ô Sài Gòn.


Là cư dân lâu năm của Sài Gòn, chúng tôi từng được thưởng ngoạn muôn sắc hương của hoa trồng tại Làng Hoa Gò Vấp.


Thông thường, chỉ vào Mùa Xuân, nhất là dịp Tết, mới thấy được được các loài hoa trổ phô hương sắc.


Ở Làng Hoa Gò Vấp, hoa nở quanh năm, mùa nào hoa nấy; loài hoa nào cũng trồng được, với hàng trăm gia đình trồng hoa; tổng diện tích trồng hoa tại Làng Hoa Gò Vấp lên tới hàng trăm héc-ta.


Tại khắp miền Nam, nơi được vinh danh “vương quốc hoa kiểng” là Cái Mơn, vùng Chợ Lách-Bến Tre, thì vào mùa trồng hoa Tết, người trồng hoa của “vương quốc” ấy cũng tìm tới Làng Hoa Gò Vấp để mua giống hoa về trồng.


Chúng tôi tìm gặp những người từng trồng hoa lâu năm tại Làng Hoa Gò Vấp để tỏ tường.


Ông Trần Hồng, với khu vườn rộng hơn 2,000m2 của ông ở đường Phan Huy Ích, phường 14, quận Gò Vấp, nay đã chuyển sang nuôi trồng cây kiểng (bon-sai). Kể: “Tui nghe cha tui nói, tuy sanh sau đẻ muộn hơn ‘làng trầu Bà Ðiểm’ ở huyện Hóc Môn, nhưng Làng Hoa Gò Vấp nổi danh từ lâu, không thua chi tăm tiếng ‘làng trầu.’”


Ông Trần Hồng kể tiếp, “Tui nhớ rõ vào khoảng năm 1960, khi tui mới hơn mười tuổi, đã thấy ở Gò Vấp nhà nhà trồng hoa rực rỡ cả một vùng rộng rinh bát ngát. Rồi cứ tới dịp cận Tết, thương lái từ khắp nơi đổ xô về đây đông nghẹt. Trên các ngả đường của Gò Vấp, vó ngựa lóc cóc ngày đêm, kéo dài cả một tháng trời, kéo miết tới đêm giao thừa, không khí sôi động ở đây mới lắng dịu…”


Bên cạnh vườn trồng hoa nay chỉ còn nuôi trồng cây kiểng của ông Trần Hồng, là vườn hoa của ông Huỳnh Mai, một nghệ nhân nổi tiếng của Làng Hoa Gò Vấp, nay cũng chỉ nuôi trồng cây kiểng.


Cũng như ông Hồng, ông Mai kể chuyện ngày trước của Làng Hoa Gò Vấp; tha thiết nhớ lại những ngày gắn bó với những luống hoa cúc, hoa hướng dương, hoa vạn thọ, hoa mào gà, hoa hồng, hoa mai…


Chúng tôi lắng nghe ông Mai nói chuyện, câu chuyện hào hứng nhưng kèm theo một nỗi luyến tiếc; mà cảm nghĩ chẳng phải là ngẫu nhiên, tên người nuôi trồng hoa với tên loài hoa đã là một, từ thuở khai sinh ra đời. Những ông Mai, ông Hồng… những tên tuổi được đặt như định mệnh. Ðịnh mệnh ấy, một thời gian dài dặc, gắn bó với bao nhiêu thế hệ đời người; lo lắng chăm chút, vui buồn cùng hàng trăm loài hoa của Làng Hoa Gò Vấp.


Ông Mười Tới, hiện cũng đã chuyển sang nuôi trồng cây kiểng ở đường Cây Trâm, nơi được xem là trung tâm Làng Hoa Gò Vấp thuở trước, cho chúng tôi biết: Từ năm 2000, tức là từ 12 năm trước đây, Làng Hoa Gò Vấp bắt đầu có dấu hiệu đi vào tàn lụi. Lúc đó, Làng Hoa Gò Vấp chịu nhiều khó khăn, như phải san sẻ thị phần cho các nguồn hoa từ Sa Ðéc, Cái Mơn đưa lên, và đặc biệt nguồn hoa dồi dào từ Ðà Lạt xứ hoa tràn xuống. Phải cạnh tranh gay gắt như thế, hiển nhiên mức thu nhập của người trồng hoa tại Làng Hoa Gò Vấp giảm xuống rõ rệt. Vào đúng lúc ấy cơn sốt đất đai tại thành phố bắt đầu dấy lên.


Những người trồng hoa trước đây biết rất rõ, chỉ cắt bán một phần rất nhỏ diện tích đất đai, họ sẽ có được số tiền lớn bằng tiền thu nhập của cả mười năm trồng hoa cộng lại. Một số nghệ nhân hoa kiểng, như các ông Trần Hồng, Huỳnh Mai, Mười Tới… chuyển sang nuôi trồng cây kiểng.


Nuôi trồng cây kiểng không cần thiết diện tích lớn như trồng hoa trước đây, thu nhập lại rất cao, không thua kém, mà có thể còn cao hơn thu nhập của những vườn hoa bát ngát trước đây. Nhưng đấy là chuyện khác, nó khác hẳn chuyện Làng Hoa Gò Vấp, một làng nghề truyền thống bị xóa sổ.


Dần dần, tại những khu vực có vườn hoa bát ngát như khu vực đường Phan Huy Vịnh, đường Lê Văn Thọ, nhất là tại khu vực đường Cây Trâm, người ta chỉ thấy chi chít nhà hàng tiệm ăn quán nước mọc lên, nhà nghỉ, khách sạn được xây dựng. Hoàn toàn mất dấu Làng Hoa Gò Vấp.


Người ta biết rằng, phải là những “đại gia thời nay”, những nhà “tư sản đỏ”, mới có khả năng mua đất mua vườn ở Làng Hoa Gò Vấp.


Một hiện tượng phải chú ý, là rất nhiều căn nhà có vị trí đúng góc hai đường phố tại khắp nơi ở Sài Gòn, là những tiệm kinh doanh mắt kính, thường mang biển hiệu Mắt Kính Sài Gòn. Trong khi người ta biết rằng, mắt kính không phải là mặt hàng bán chạy, tiêu thụ nhanh được.


Tại góc hai đường Lê Văn Thọ-Cây Trâm hiện nay, cũng là tiệm kinh doanh mắt kính. Gần đó, trên đường Lê Văn Thọ, chính quyền quận Gò Vấp cho lập một công viên nhỏ: Công viên Làng Hoa Gò Vấp. Thưa thớt mấy cây dừa kiểng trồng ngay hàng thẳng lối, Làng Hoa Gò Vấp ngàn sắc muôn hương thuở nào, nay để lại dấu vết khiêm nhường và buồn tẻ.

Quả trứng và con gà

 


Nguyễn-Xuân Nghĩa


 


Một ngày sau khi đại hội toàn quốc của đảng Dân Chủ kết thúc trong niềm hoan lạc thì thống kê của Bộ Lao Ðộng lại như xối nước lạnh với một cái tin rất nóng. Trong Tháng Tám, thất nghiệp giảm 0.2% nhưng kinh tế chỉ tạo thêm có 96 ngàn việc làm.


Người lạc quan thì mừng là thất nghiệp hạ dần và coi đó là ly nước đã đầy một nửa. Bi quan thì nói rằng số 96 ngàn việc ngoài canh nông còn thấp hơn dự đoán khá bi quan của giới kinh tế là 125 ngàn. Câu chuyện nó rắc rối hơn vậy!


Thống kê lao động được công bố vào lúc 8:30 sáng ở miền Ðông. Sau đó, thị trường chứng khoán không tuột dốc như đầu Tháng Năm khi có tin xấu về nhân dụng mà xập xình rồi lại lên. Chỉ vì từ tin kém vui mà thiên hạ đoán tiếp là Ngân Hàng Trung Ương đành tung bửu bối cấp cứu “quantitative easing” lần thứ ba! Ðâm ra tin xấu mà đưa đến kết luận tốt, làm sao mà người bình thường hiểu ra?


Nhưng vấn đề nào chỉ có vậy, vì còn chuyện… trái trứng nở ra con gà hay con gà đẻ ra quả trứng? Là tương quan nhân quả của thất nghiệp. Hoặc cái vòng luẩn quẩn như sợi dây thun.


Kinh tế Mỹ tùy thuộc đến hơn 70% vào tiêu thụ, nhà tiêu thụ mới là vua là chúa. Nếu giới tiêu thụ lại là Chúa Chổm vì mắc nợ hoặc thất nghiệp thì kinh tế khó tăng trưởng: Doanh nghiệp sợ ế, ngại đầu tư và tuyển người. Chưa kể là cứ ló đầu lên là sợ bị gọt tóc vì lưỡi hái thuế vụ đang lơ lửng trên đầu. Nghĩa là làm sao?


Kinh tế tăng trưởng thấp vì thất nghiệp và thất nghiệp cao càng làm giảm mức tiêu thụ nên càng cản đà tăng trưởng trong vòng u ám khôn nguôi. Vì xâu chuỗi nhân quả như vậy, các chính khách tha hồ rao bán liều thuốc cứu nguy kinh tế mà người dân bình thường khó kiểm được lẽ đúng sai.


Muốn nhìn cho ra lẽ, ta phải trở lại thống kê nhân dụng – và thấy ra một nghịch lý khác trong phương pháp thống kê. Số là hàng tháng, Bộ Lao Ðộng tiến hành hai loại khảo sát tại ngọn và tại gốc về tình hình lao động trong tháng, với những dữ kiện sơ lược còn phải điều chỉnh.


Loại một là cuộc khảo sát một dân số mẫu là sáu vạn hộ gia đình, gọi là “Household Survey” để xem là trong tháng qua, có bao nhiêu người khai báo là đã thất nghiệp trong vòng bốn tuần trước. Kết quả khảo sát vừa công bố là tỷ lệ thất nghiệp 8.1% với số thất nghiệp chính thức là 12 triệu rưỡi. Nhưng kết quả này còn sai trệch do định nghĩa của chữ “thất nghiệp”.


Ðịnh nghĩa ấy loại bỏ thành phần nhân lực đông đảo bị khiếm dụng. Ðó là tám triệu người phải làm việc bán thời dù muốn làm toàn thời, thêm hai triệu sáu những người dật dờ khi làm khi nghỉ, đôi khi có tìm việc trong 12 tháng qua. Trong số hai triệu sáu này có 84 vạn người nản chí khỏi đi kiếm việc nữa vì tìm mãi không ra…


Nếu cộng cả số chính thức (12.5 triệu) và khiếm dụng (tám triệu bán thời và hai triệu sáu “dính sơ vào thị trường lao động” – marginally attached) thì có 23 triệu người đang khốn đốn nên phải chi tiêu dè sẻn và càng làm kinh tế khó tăng trưởng.


Trong Ðại Hội Cộng Hòa, bài ứng khẩu của Clint Eastwood trong vai danh hài đối thoại với cái ghế trống của Tổng Thống Obama là một tuyệt chiêu – mà nói không sai về con số 23 triệu người thiếu việc. Nhiều nhà bình luận lại bảo rằng ông ta nói láo và báo chí cứ thế mà nói theo.


Làm sao báo chí còn hiểu ra một chi tiết khác về tiêu chuẩn tính toán?


Xưa nay, được coi là thuộc thị trường lao động những ai đã có lúc tìm việc trong bốn năm trước. Từ năm 1994, chính quyền Bill Clinton cho sửa định nghĩa “lực lượng lao động” khi ra tiêu chuẩn mới là “có tìm việc trong 12 tháng qua”. Nếu áp dụng tiêu chuẩn cũ (bốn năm) thì mức thất nghiệp có thể còn cao hơn ít nhất là 1%.


Mà lực lượng này không kể đến chín triệu người lãnh bảo hiểm vì khuyết tật – disability insurance. Xưa nay họ vẫn có khả năng đi làm nếu thấy hưng phấn và có cơ hội, nhưng nay thì đành ngồi nhà lãnh lương hàm. Hai chục năm trước, cứ 35 người lao động là có một người khuyết tật, ngày nay, tỷ số đó là 16/1: Công quỹ thêm hao tốn mà mức khiếm dụng thật lại còn cao hơn một hai phần trăm!


Nói rằng nước Mỹ chưa khai thác hết tiềm năng nhân lực thì hơi trừu tượng. Chỉ xin nhớ tỷ lệ tham dự vào lực lượng lao động hiện nay của Hoa Kỳ ở khoảng 63.5%, mức thấp nhất kể từ hơn ba chục năm qua.


Cuộc khảo sát thứ hai đi vào gốc, nơi tuyển người, gọi là “Establishment Survey”.


Người ta thăm dò ý kiến 160 ngàn cơ sở tư doanh và công quyền, là dân số đại diện cho 400 ngàn nơi tuyển dụng thành phần công nhân viên ngoài nông nghiệp, loại thừa hành, không thuộc lớp đốc công hay chỉ huy. Kết quả khảo sát là số việc làm ăn lương của khu vực dân sự, với chi tiết về mức lương, giờ lao động của các ngành nghề trong tháng qua. Thống kê vừa công bố hôm Thứ Sáu là một sự thất vọng khác.


Tháng Tám chỉ có thêm 96 ngàn việc, trong số này có 28 ngàn việc hầu bàn và rót rượu. Xin hiểu cho là lương thấp, việc khó bền – đôi khi là của cử nhân bị khiếm dụng nên lấy chỗ của sinh viên, học sinh. Ðấy là tiểu tiết để nhắc nhở bà con nhớ cho tiền “tip” khi vào nhà hàng! Chi tiết khác: Việc làm trong khu vực biến chế lại giảm (15 ngàn) khi các hãng xe thải thợ để tu bổ cơ xưởng mà tuyển lại còn ít hơn trước! Còn lại, các khu vực kia thì chẳng nhúc nhích.


Chuyện bi đát hơn vậy là thù lao nói chung chỉ thêm 1.7% trong cả năm – thấp hơn mức lạm phát – tức là lợi tức thật còn bị giảm. Và số giờ làm việc hụt mất 10% của một giờ. Sáu phút nhỏ nhoi ấy mà nhân với số giờ lao động trên toàn quốc thì có nghĩa là vài trăm ngàn việc đã bị mất. “Cái được dễ thấy, cái mất khó tìm và dễ che giấu” là một quy luật kinh tế. Làm ít, lương nghèo thì tiêu thụ phải giảm. Ðâm ra trứng lép nở ra gà còi.


Nhìn trên trục thời gian thì còn ngán ngẩm hơn.


Mọi cuộc khảo sát hàng tháng đều chỉ là sơ khởi và cần điều chỉnh. Thống kê Tháng Tám điều chỉnh và hạ thấp kết quả của hai tháng trước: Mỗi tháng số việc làm bị giảm thêm hai vạn. Y như năm ngoái, tình hình nhân dụng có vẻ khả quan trong ba tháng đầu năm rồi lại tuột dốc.


Khi kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm, chính thức là từ Tháng Mười Hai năm 2007 đến Tháng Bảy năm 2009 thì thất nghiệp tất nhiên phải tăng. Nhưng vẫn chưa giảm sau giai đoạn hồi phục èo uột từ ba năm nay. So với đỉnh điểm suy trầm thì kinh tế mất thêm bốn triệu bảy việc, vì thế nếu mỗi tháng mà chỉ tạo thêm mươi vạn công việc thì bốn năm nữa ta mới trở về mức thất nghiệp cũ! Trong khi ấy dân số đến tuổi lao động vẫn thêm hơn ba triệu, riêng trong Tháng Tám thì tăng 213 ngàn người.


Thống kê lao động là một tài liệu 38 trang khó nhá chứ không hấp dẫn bằng truyện võ hiệp hay trinh thám. Người viết vẫn phải ngốn để vẽ ra bức tranh nhân dụng trong một bài ngắn với một số giải thích về phương pháp thu thập và khai thác thống kê.


Chuyện đáng nhớ nhất là số người Mỹ đang có việc làm chỉ bằng mức Tháng Tư năm 2000, dù rằng từ đó đến nay dân số đã thêm 31 triệu. Và 45 triệu người đang lãnh phiếu lương thực, một tỷ lệ dân số là 15%, gần gấp đôi con số trung bình của 30 năm cuối của thế kỷ 20, 1970-2000.


Khung cảnh u ám chưa từng thấy từ một thế hệ khiến ta biết được khó khăn trước mắt và nên hoài nghi phép lạ kinh tế mà các ứng cử viên đang hứa hẹn với cử tri. Và nên e chừng liều thuốc đổ bệnh đã từng thấy.


Cái chuyện gà què ăn quẩn và nuốt phải dây thun như vậy thì xin để kỳ khác…

Vu Lan, Mẹ và các anh em tôi

 


Việt Nguyên
Bút ký mùa Vu Lan


 


LTS: Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.


 


***


 


Một mùa Vu Lan lại đến. Với tôi, Vu Lan là “Ngày Mẹ” chứ không phải là ngày Mother’s day ồn ào có tính cách thương mại. Vu Lan với trăng rằm Tháng Bảy, với mùa báo hiếu, với những bông hồng đỏ thắm của những ngày còn mẹ và mùi hương thoang thoảng của những bông hồng trắng ngày mẹ đã mất. Vu Lan với ánh trăng rằm dịu dàng đi theo tôi từ ngày còn nhỏ theo mẹ lên chùa. Vu Lan với ánh trăng bàng bạc không đổi, dù con người đã đặt chân lên cung Hằng thám hiểm nhưng ánh trăng rằm Tháng Bảy vẫn nhiệm màu. Vu Lan, một lần tôi đã ngước nhìn lên bầu trời trong đầy trăng sao và ước được cắt một khoảng trời trong đó có những hình ảnh của cha mẹ tôi và những người thân đã mất cất vào trong khung kỷ niệm.


Vầng trăng Tháng Bảy đã theo tôi suốt con đường lên chùa Phật Quang nơi cha mẹ tôi nằm nghỉ trong nhiều năm qua không khác vầng trăng đã theo tôi ở quê nhà trong nhiều mùa Vu Lan khi đi với mẹ đến thăm những ngôi chùa ở Sàigòn của những năm xưa. Những ngôi chùa nhỏ ở trên đồi giờ đây chỉ còn nằm trong ký ức. Những ngôi chùa lớn đã mọc lên nhiều nơi ở Houston kể cả ngôi chùa Phật Quang đã làm tôi nhớ đến những ngôi chùa trong sách ở Ấn Ðộ vào thời kỳ Phật Giáo hưng thịnh, thời của đại đế A Dục (Asoka, thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch). Phật Giáo phát triển nhưng vẫn khiêm cung không bao giờ được đặt thành quốc giáo. Ðại Ðế A Dục với lời khuyên: “Không được tôn vinh tôn giáo riêng của mình và lên án tôn giáo của người khác mà trái lại còn phải tôn vinh tôn giáo khác”, cái khiêm tốn ấy, tôi đã học được từ mẹ tôi, một người đàn bà giản dị thường đi chùa vào những ngày rằm để tâm hồn được yên tĩnh. Bà không biết chữ, không đọc sách nhưng nghe giảng ở chùa riết rồi bà cũng thấm những lời Phật dạy, đến chùa để bà cảm thấy “lòng yêu thương rộng khắp, thấy lòng êm ả, muốn hòa bình phải tự mình chuyên cần, ngay thẳng, dễ bảo, hiền lành, khiêm nhượng, không kiêu căng, không chỉ cầu cho mình mà còn cầu cho mọi người vui vẻ, hạnh phúc”.


Tôi hay theo mẹ lên chùa, lẽo đẽo đi sau bà hay ngồi trên chiếc xe thổ mộ từ nhà, trên đường Lê Văn Duyệt vào ngã ba Ông Tạ, đến ngôi chùa của hội Trung Việt ái hữu, ngôi chùa cạnh nghĩa trang của hội. Ngày Vu Lan lại là ngày mẹ tôi đi thăm chị tôi. Tôi đã theo bà vào chùa, nghe tiếng chuông, còn nhỏ tôi không hiểu hai chữ “vô thường”, nhưng theo bà vào chùa rồi ra ngoài nghĩa trang phụ bà lặt cỏ trên mộ với các anh, tôi học được chữ: “Không”.


Mẹ tôi có sáu người con trai, bà chia đều lòng yêu thương và lo lắng cho anh em tôi. Bà hay dạy chúng tôi bằng những ngọn roi kèm với những lời dạy dỗ nhưng bà lại bênh ông anh thứ nhì, khi anh bị ba tôi đánh, bà đưa tay chịu đòn, được mẹ yêu như vậy nhưng hình như tình yêu của bà không “chuyển hóa” được anh tôi! Sống trong thời chinh chiến, cũng giống như các bà mẹ khác, mẹ tôi lúc nào cũng lo lắng cho các anh tôi vào những ngày phục vụ trong quân đội. Khi nghe tin anh cả của tôi được đưa về Quân Y Viện Cộng Hòa để chữa vết thương ở chân bà lo lắng mất ăn mất ngủ, đợi sáng dẫn tôi vào bệnh viện thăm con. Bà may mắn hơn các bà mẹ khác, bà không phải khóc cậu con trai nào trong thời chiến, bà chỉ khóc hai chị tôi mất sớm. Theo mẹ nhiều lần thăm mộ chị, tôi biết bà yêu chị tôi hơn các cậu con trai ngỗ nghịch. Các cậu con trai phá phách luôn làm phiền lòng mẹ sống đúng như câu tục ngữ “anh em như thể tay chân” thích dùng vũ lực để giải quyết vấn đề! Nhưng “Huynh đệ như thủ túc” dù giận nhau anh em chúng tôi cũng không thể “ly dị” như vợ chồng vì chẳng những đã cùng chia sẻ những kỷ niệm củ mà lại còn chia sẻ cùng “di thể”.


Phải chi các chị tôi còn sống với mẹ thì chắc bà cũng đỡ khổ với sáu cậu con trai và các anh em tôi có chị em gái thì tính tình cũng hiền hơn? Hồi nhỏ, nhìn mẹ ngậm ngùi bên mộ chị tôi, tôi nhớ Phật Giáo Miến Ðiện có tích cho những người có con mất sớm như mẹ tôi: “Họ được gọi về trời vì bị đầy xuống trần lầm sổ”. Năm nay, mùa Vu Lan, nếu mẹ tôi còn sống, tôi sẽ ngồi bên cạnh mẹ và kể cho bà nghe một chuyện cổ tích chắc bà sẽ bớt buồn: “Một bà mẹ có cậu con trai 7 tuổi rất thông minh và dễ thương, không ai nhìn cậu mà không mến. Bà yêu cậu hơn mọi sự trên đời, nhưng cậu bé đột nhiên qua đời, từ đó bà không nguôi buồn. Bà khóc, khóc hoài: “Mẹ muốn nghe con nói chuyện với mẹ”. Mấy ngày sau đám tang, cậu bé bắt đầu hiện ra mỗi đêm nơi cậu chơi đùa mỗi ngày, khi mẹ cậu khóc cậu cũng khóc, đến khi trời sáng cậu biến mất. Bà mẹ không thể nào ngừng khóc. Một đêm cậu bé lại hiện về trong tấm vải trắng quấn quanh người cậu ngày chôn cất với vòng hoa nguyệt quế vấn trên đầu. Cậu ngồi xuống giường bên chân mẹ và nói: “Mẹ ơi, xin mẹ đừng khóc nữa nếu không con sẽ không ngủ yên trong quan tài vì tấm vải liệm ướt bởi những dòng lệ của mẹ cứ mãi nhỏ xuống”. Bà mẹ nghe con nói giật mình nín khóc. Ðêm hôm sau, cậu bé lại về, trên tay cầm một cây đèn lồng và nói: “Mẹ thấy không, áo con sắp khô hết rồi, con sẽ nằm ngủ yên trong mồ của con”. Bà mẹ từ đó không còn khóc, bà hiểu rõ luật Trời và cuộc đời và con bà nằm ngủ yên trong chiếc giường nhỏ dưới lòng đất”.


Nếu mẹ tôi còn sống, tôi sẽ kể cho bà nghe những câu chuyện hay như ngày còn bé mẹ tôi thường dạy tôi những câu ca dao tục ngữ và văn chương bình dân, nhưng tôi biết nếu có mẹ tôi ngồi cạnh thì cũng giống như ngày xưa, tôi chỉ có ít lời với bà vì chúng tôi là con trai chứ nào phải là… con gái mà suốt ngày thủ thỉ với mẹ. Nhân loại hàng ngàn năm vẫn không đổi. Mẹ yêu con trai và con trai yêu mẹ nhưng giữa các bà mẹ và các cậu con trai là những cuộc đối thoại âm thầm. Về sau khi gia đình khá hơn trước, các anh lớn đã đi làm, mẹ tôi đỡ vất vả, chúng tôi hay cằn nhằn với mẹ là vì muốn bà thay đổi cuộc sống nhưng mẹ tôi, một người đàn bà giản dị vẫn sống không thay đổi cho đến cuối đời. Tôi đã học được bài học của mẹ: “Ðối với một người sống với nội tâm không đi ra ngoài xã hội thì sự giản dị chính là sự sang trọng trong tâm hồn”.


Năm dự bị Y khoa, tôi được học môn tâm lý từ giáo sư Bùi Quốc Hương về “mặc cảm Oedipus”, con trai yêu mẹ và giết cha. Tôi vẫn thắc mắc về Bác Sĩ Signmund Freud với mặc cảm Oedipus. Yêu mẹ đến đâu con cũng không thể ngủ với mẹ và giết cha. Tìm về huyền thoại Hy Lạp, câu chuyện Oedipus có khác với ẩn dụ của Bác Sĩ Freud:


“Vua Laius nước Thebes lấy bà Iocast đã lâu mà không có con nối dõi, ông bí mật đi đến đền Delphi để hỏi nhà tiên tri. Vua được nhà tiên tri cho biết bất cứ đứa con nào của ông với bà Iocast sẽ là kẻ sát nhân giết ông vì vậy nhà vua gởi bà Iocast đi ở nơi xa nhưng 9 tháng sau bà Iocast lại sinh ra một bé trai. Vua Laius giằng đứa bé từ tay bà vú, đóng đinh vào hai bàn chân của cậu và bỏ cậu bé trên đỉnh núi Cithaeron. Ông thần Ðịnh Mệnh lại phán rằng: Cậu bé này sẽ sống đến già. Những người chăn cừu tìm thấy cậu bé đem về nuôi, đặt tên là Oedipus (chân què) vì hai bàn chân bị tật sau khi bị đóng đinh. Cậu bé được đưa về xứ Corinth, Vua Polybus nuôi cậu đến lớn. Một ngày Oedipus bị bạn bè chọc ghẹo vì không giống bố mẹ nuôi, Oedipus đến Delphi hỏi nhà tiên tri, nhà tiên tri phán ‘mày sẽ giết cha và lấy mẹ!’ nghe vậy, yêu ông bà Polysus, cậu bỏ đi không về lại Corinth vì sợ cậu sẽ giết hai ông bà.


Trên con đường hẻm qua núi giữa Delphi và Daulis, Oedipus gặp vua Laius ngồi trên chiến xa ra lệnh Oedipus phải tránh đường cho xe đi. Oedipus giận dữ trả lời: ‘Ta không nghe lịnh ai ngoài cha mẹ và Thượng Ðế’. Vua Laius nổi giận la lớn ra lệnh cho lính phóng chiến xa đi tới, bánh xe cán lên chân Oedipus khiến anh chàng nổi giận phóng lao giết lính lái xe, chiến xa ngã kéo lê Vua Laius, giết chết ông. Oedipus đi đến xứ Thebes gặp con Sphinx (mặt người thân sư tử) trả lời được câu hỏi của Sphinx: ‘Con gì có một giọng nói nhưng có khi 2 chân, có khi 3 chân, có khi 4 chân, khi 4 chân là lúc yếu nhất’. Oedipus trả lời: Ðó là con người. Con Sphinx nhảy xuống thung lũng từ trên núi Phicium tự vẫn tan thành mảnh vụn (Sphinx giao hẹn nếu không trả lời được câu hỏi nó sẽ giết, nếu trả lời được nó sẽ tự vẫn). Oedipus đến Thebes, vì trả lời được câu hỏi của con Sphinx nên được dân tôn làm vua, lấy bà góa phụ hoàng hậu Iocaste mà không biết bà là mẹ mình. Về sau Trời phạt dân Thebes bằng cơn dịch hạch”.


Hiển nhiên là mặc cảm Oedipus do Bác Sĩ Sigmund Freud đặt ra hoặc vì ông không đọc kỹ huyền thoại Hy Lạp, Oedipus giết cha lấy mẹ vì tình cờ, hoặc là vì ông muốn mọi người chú ý đến thuyết bịnh tâm thần xảy ra do sự dồn nén tình dục.


Con yêu mẹ không có ẩn ý tình dục nhưng trên phương diện y học con giết mẹ. Họa sĩ nổi tiếng Gustar Klimt vẽ hình 3 giai đoạn của đời người đàn bà theo thần thoại Hy Lạp, từ lúc trẻ qua tuổi trung niên đến khi già, bà Cronus lưng còng tóc bạc. Ở thế hệ của mẹ tôi, đàn bà Việt Nam lấy chồng nuôi con đi thẳng từ trẻ đến già bỏ qua giai đoạn giữa, vui với chồng con, không vui với cuộc đời. Con càng đông mẹ càng già, mỗi lần sinh con là mỗi lần tổn thọ. Ðọc lại chuyện Phật, tôi thấy may mắn hơn Phật. Bảy ngày sau khi sinh đức Phật bà Màya (mẹ Phật) mất. Mohammed xem các bà mẹ chết trong khi sinh là Thánh tử Ðạo của Hồi Giáo.


Tóc bạc, lưng còng, da nhăn nheo, xương mất chất vôi, chất kích thích tố giảm vì mẹ nuôi con, cho con bú, mẹ chết dần mòn theo số đứa con ra đời và cũng như Thần Ðịnh Mệnh phán trong câu chuyện cổ tích Hy Lạp về Oedipus, con giết mẹ vô tình, đứng trên phương diện y khoa. Không biết thì không có tội, và dòng đời vẫn vô tình trôi đi…


Hồi Tháng Năm, vào Ngày Mẹ, tôi một mình ở trong căn nhà lớn, căn nhà trong bao nhiêu năm qua lúc nào cũng đông người nay trở nên vắng vẻ. Căn nhà với tấm hình lớn ở phòng khách với 6 con chim sáo đậu trên cành. Bức hình thêu trên lụa của người bạn ngày tân gia tình cờ thành bức hình gia đình tôi Hai con chim nhỏ bay rời tổ ngày trưởng thành rồi mấy năm gần đây cặp chim già (ông bà nhạc) cũng bay đi. Hôm ấy tôi cô đơn nghĩ đến mẹ tôi vào những ngày sau 30 Tháng Tư năm 1975. Hai năm bà nằm cô đơn trên giường trong phòng sau khi cha tôi mất, một anh đã đi Mỹ và hai anh bị đi học tập cải tạo. Tôi vẫn cố thử nghĩ xem mẹ tôi đã nghĩ gì về cuộc đời khi cả nước và gia đình ở trong tình trạng bi thảm sau 30 Tháng Tư 1975. Sàigòn của bà đã mất. Cái Sàigòn thu rất nhỏ của bà đi từ nhà ra chợ Vườn Chuối mỗi ngày. Sàigòn với hạnh phúc với con cháu, một hạnh phúc giản dị. Sàigòn của bà đã đóng lại sau ngày các anh tôi vắng mặt. Sàigòn lạ lùng với bà sau những thay đổi lớn lao như một Sàigòn khi tôi về thăm năm 1995, Sàigòn xa lạ của một người khách lạ. Sàigòn, như một người bạn thân cùng lớp y khoa của tôi trở về sau 20 năm, được hỏi: “Bạn nhớ gì nhất ở Sàigòn khi bạn về Sàigòn”. Câu trả lời của bạn tôi đau như vết dao chém: “Tôi nhớ Sàigòn!”


Bao mùa Vu Lan đã qua, tôi đã viết nhiều bài Vu Lan, về Mẹ. Tôi đã viết thay cho các anh em tôi về mẹ, về những ngày tháng chúng tôi đã bỏ quên mẹ, viết về mẹ những đêm những ngày đã lo lắng cho các con, viết về mẹ như bồ tát hy sinh cho chồng con, viết về mẹ và những ngày cực khổ nhưng vẫn vui và hãnh diện vì các con. Con vẫn biết mẹ có những niềm vui và những nỗi buồn giấu kín như các bà mẹ khác. Con vẫn biết mẹ yêu các con mà không được các con lo cho mẹ vào những ngày mẹ cần các con.


Con đã thay cho các anh em viết về mẹ vào những ngày Vu Lan nhưng có một điều mà con chưa viết (vì con là con trai không nói được như con gái!): Trong hơn 35 năm qua từ ngày mẹ mất, chúng con không bao giờ ngừng yêu mẹ và quên mẹ.


Vu Lan 2012

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 40)

 






Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.

 


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969. – Nguyễn Hữu Hiệu






40


 


Hodja đến kiếm tôi: “Nghe đây, tên Cơ Ðốc Giáo trẻ tuổi, lão bảo tôi, đi với lão. Tôi không đi, tôi trả lời. Lão muốn dẫn tôi đi đâu? Có con gái của một Thổ quan tựa nước suối mát đợi cậu trong phòng, cậu bé Cơ Ðốc Giáo, đi!”


 Nhưng tôi biết rằng, ban đêm, họ giết dân Cơ Ðốc Giáo trong những khu Thổ. “Không, tôi không đi, tôi nói – Mi không sợ Thượng Ðế sao, Giaour? Tại sao tôi phải sợ? Bởi vì, chú bé Cơ Ðốc Giáo ơi, kẻ nào có thể ngủ với một người đàn bà và không làm, phạm một tội trọng. Khi một người đàn bà gọi mi đến để chung chăn gối mà mi không đến, con ơi, con sẽ mất linh hồn! Người đàn bà đó sẽ thở dài trước mặt Thượng Ðế vào ngày phán xét cuối cùng, và tiếng thở dài của người đàn bà đó sẽ xô mi xuống Ðịa Ngục, dù mi là ai và bất kể tất cả những nghĩa cử đẹp đẽ mà mi đã thực hiện!


Zorba thở dài.


– Nếu Ðịa Ngục có thật, hắn nói, tôi sẽ xuống Ðịa Ngục chính vì lý do đó. Không phải vì tôi đã trộm cắp, giết người hay ngủ với vợ những kẻ khác, không, không! Tất cả những điều đó không có nghĩa lý gì hết, Thượng Ðế chí tôn sẽ tha thứ tất những điều đó. Nhưng tôi sẽ sa Ðịa Ngục bởi vì, đêm đó, một người đàn bà chờ đợi tôi trong giường mà tôi không đến…


Hắn đứng dậy, nhóm lửa và sửa soạn làm bếp. Hắn liếc nhìn tôi bằng nửa con mắt và mỉm cười khinh bỉ:


– Không có kẻ điếc nào tệ cho bằng kẻ không muốn nghe.


Và cúi xuống, hắn bắt đầu thổi gỗ ẩm một cách giận dữ.


 


9


 


Ngày thâu ngắn dần, ánh sáng sụp xuống rất nhanh, tinh thần trở nên bứt rứt vào mỗi buổi xế chiều. Nỗi sợ hãi cổ sơ xâm chiếm chúng tôi – nỗi sợ hãi của tổ tiên thấy trong những tháng mùa đông mặt trời mỗi ngày tắt một sớm hơn vào mỗi buổi chiều. “Ngày mai, nó sẽ lặn mãi mãi mãi,” họ tuyệt vọng nghĩ, và suốt đêm trên những đỉnh cao họ sống trong tuyệt vọng hãi hùng.


Zorba cảm thấy nỗi lo âu này sâu xa hơn và cổ sơ hơn tôi. Ðể trốn thoát nỗi bứt rứt đó, hắn chỉ ra khỏi hầm mỏ lúc sao đã thắp sáng ở trên trời.


Hắn đã vớ được một mạch than non không thải ra nhiều tàn, không ướt, giầu nhiệt lượng. Hắn hài lòng lắm. Bởi vì, trong chốc lát, lời lãi đã chịu nhiều biến thái kỳ diệu trong trí tưởng tượng của hắn: Nó trở thành những cuộc du lịch, đàn bà và những phiêu lưu mới. Hắn bất nhẫn chờ đợi ngày hắn kiếm được một gia tài, ngày đôi cánh của hắn đủ lớn – “đôi cánh” là danh từ hắn dùng để gọi tiền – để xa bay. Do đó qua nhiều đêm ròng hắn thí nghiệm máy cáp chở đồ nhỏ xíu của hắn, tìm độ dốc đúng nhất, để những thân cây hạ xuống êm ái, hắn nói, như được chuyên chở bởi những thiên thần.


Một hôm hắn lấy một tờ giấy dài, bút chì mầu và vẽ núi rừng, đường sắt treo và những thân cây treo trên dây cáp đi xuống, mỗi thân cây có hai cánh lớn màu xanh da trời. Trong cái vịnh tròn nhỏ, hắn vẽ những con thuyền đen với những thủy thủ xanh như những con két và những thương đoàn chở những thân cây màu vàng. Bốn tu sĩ đứng ở bốn góc, và từ miệng họ bay lên những giải băng hồng chữ đen viết hoa: “Ôi Chúa cao cả thay và kỳ diệu thay những công trình của Chúa!”


Từ mấy hôm nay, Zorba nhúm lửa một cách vội vã, hắn sửa soạn bữa ăn, ăn xong hắn chuồn gấp tới con đường về làng. Lát sau hắn cau có trở về.


– Bác lại đi đâu nữa đó, Zorba? Tôi hỏi hắn.


– Ông chủ đừng quan tâm, hắn nói và lảng sang chuyện khác.


Một buổi tối trở về, hắn lo âu hỏi tôi:


– Thượng Ðế có hay không? Ông nói sao về điều đó, ông chủ? Nếu có – tất cả đều có thể – ông tưởng tượng ra ngài ra sao?


Tôi nhún vai không trả lời.


– Tôi không nói đùa đâu ông chủ, tôi tưởng tượng Thượng Ðế giống hệt tôi. Chỉ lớn hơn, mạnh hơn, điên rồ hơn. Và trên tất cả, bất cứ. Ngài ngồi thoải mái trên những tấm da cừu mềm mại, và lều của ngài là bầu trời. Nó không làm bằng những bi-đông ét săng cũ như lều chúng ta, nhưng bằng mây. Trong bàn tay phải ngài cầm, không phải một đoản kiếm cũng chẳng phải một cái cân – những dụng cụ này dành cho bọn đồ tể và chủ tiệm tạp hóa – ngài cầm một miếng bọt biển đẫm nước, như một đám mây mưa. Bên phải ngài là Thiên Ðàng, bên trái là Ðịa ngục. Khi một linh hồn nhỏ nhoi khốn khổ bị điệu tới, hoàn toàn trần truồng, nó đã mất bộ áo khoác ngoài – tôi muốn nói thân thể – nó run ray. Thượng Ðế vừa nhìn nó vừa cười thầm, nhưng ngài giả bộ ông Ba-Bị quát: “Lại đây, lại đây, quân khốn kiếp!”


Và ngài bắt đầu lấy khẩu cung. Lính hầu quì sụp dưới chân Thượng Ðế van xin: “Xin mở lượng khoan hồng cho con!” Và nó bắt đầu đọc tội lỗi của nó. Nó đọc một thôi một hồi liên tu bất tận. Thượng Ðế cho thế là quá đủ rồi. Ngài ngáp. “Thôi ngừng lại đi, ngài quát, mi làm ta nhức đầu mất!” Và ngáp! Một cú bọt biển và ngài xóa mọi tội lỗi. “Ði đi, chuồn mau vào Thiên Ðàng!” Ngài nói với linh hồn. “Peterkin, cho cả kẻ đáng thương này vào với!”


“Bởi vì, ông phải biết, ông chủ, Thượng Ðế là một đấng chúa tể, và một đấng chúa tể quí phái có nghĩa là: tha thứ!”

Las Vegas muốn chặn rác quảng cáo về vũ ‘sexy’

LAS VEGAS (AP) Du khách đi bộ trên lề đường của đại lộ Las Vegas Strip thường xuyên bị mời mọc cầm lấy những tờ quảng cáo, phần lớn đều là quảng cáo vũ thoát y. Ða số, sau khi nhìn thoáng qua, họ quăng ngay vào sọt rác; tuy nhiên, ở những nơi không có thùng rác, họ ném xuống đường.







Một người đứng phát quảng cáo vũ sexy trên đại lộ Las Vegas. (Hình: Jewel Samad/AFP/Getty Images)


Loại rác “X-rated” này đang là vấn đề gây nhức đầu cho giới chức ở đây. Chính quyền thành phố đưa ra một qui định mới, theo đó người phát quảng cáo phải chịu trách nhiệm lượm rác trong phạm vi 25 feet ở trên lề đường. Tuy nhiên, qui định này có thể vấp phải trở ngại đối với Tu Chính Án Thứ Nhất.


Ông Allen Lichtenstein, cố vấn của nghiệp đoàn dân quyền Nevada American Civil Liberties Union, phát biểu: “Khi có một người đang đi trên đường và nhận bất kỳ một cái gì do một ai đó trao cho và tiếp tục bước đi, rồi quyết định vứt bỏ, đó là hành động xả rác. Người này mới là kẻ chịu trách nhiệm chứ không phải người đầu tiên đưa ra vật đó.”


Ðội ngũ phát tờ quảng cáo trên đại lộ chính của Las Vegas gồm 25 người thuộc công ty Hillsboro Entertainment. Chủ nhân công ty là ông Vincent Bartello cho biết họ phát ra khoảng 50,000 tở quảng cáo mỗi tuần. Ông nói thêm rằng thành phố sẽ có qui định ngăn chận việc làm của ông và đây là điều ông chẳng muốn.


Mãi dâm là nghề hợp pháp ở mọi nơi tại Nevada, ngoại trừ các khu đô thị lớn như Las Vegas và Reno. Tuy vậy, kỹ nghệ mãi dâm vẫn nở rộ ở tại thành phố mệnh danh là “Sin City” này.


Las Vegas cố cấm việc phát quảng cáo vào năm 1997, nhưng bị tổ chức ACLU can thiệp, bằng cách kiện ra tòa, và tổ chức này thắng. Ông Lichtenstein cho biết, sau đó tòa đưa ra phán quyết rằng, lề đường dọc theo Las Vegas Boulevard là chỗ công cộng, nơi được sự bảo vệ của Tu Chính Án Thứ Nhất về quyền tự do phát biểu. (T.P.)

Bế mạc Thế Vận Hội Người Tàn Tật 2012

 







LONDON, Anh – Thế Vận Hội Người Tàn Tật (Paralympic Games) 2012 vừa kết thúc tại London, Anh, hôm Chủ Nhật, sau 11 ngày thi đấu. Gần 4,300 vận động viên tàn tật từ 164 quốc gia và lãnh thổ tham gia thi đấu nhiều môn thể thao tại kỳ đại hội lần thứ 14 này. Trong hình, quang cảnh lễ bế mạc tổ chức tại sân vận động Olympic Stadium, London. (Hình: Michael Steele/Getty Images)

Tin Lướt

Việt Nam


Kho hàng của siêu thị CK Plaza, lớn nhất tỉnh Nghệ An, bốc cháy dữ dội trưa Chủ Nhật, và khi lửa được dập tắt, nhiều thiết bị điện máy bị đốt thành tro.


 


Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Vinalines ngừng xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, Khánh Hoà, một dự án vẫn “án binh bất động” sau khi đóng một số cọc móng từ năm 2011.




Theo Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam (VFA), tính đến cuối Tháng Tám, Việt Nam đã ký hợp đồng xuất cảng gần 7 triệu tấn gạo, tăng 13.4% so với cùng kỳ năm ngoái.


 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


Một người đàn ông không rõ danh tánh bị bắn vào đầu lúc 10 giờ 30 tối Thứ Bảy, cách khu giải trí Knott’s Berry Farm, Buena Park, nửa dặm, và hiện trong tình trạng nguy kịch.


 


Cảnh sát bắt nghi can Jose Gil, 31 tuổi, bị tình nghi đâm chết một thiếu niên 16 tuổi ở Garden Grove khuya Thứ Sáu, sau một vụ cãi nhau.


 


Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia đưa ra lời cảnh báo lụt lội trong khu vực phía Ðông Orange County vào chiều Chủ Nhật, với lượng nước mưa khoảng 1.8 inch trút xuống.



 


Hoa Kỳ


Ông Mitt Romney từng chủ trương bãi bỏ luật cải tổ y tế của Tổng Thống Obama, nay tuyên bố sẽ giữ lại nhiều phần quan trọng của luật này.


 


Mặc dù bị dẫn trước, Serena Williams, huy chương vàng Thế Vận Hội London 2012, cuối cùng thắng Victoria Azarenka, đoạt giải quần vợt US Open lần thứ tư hôm Chủ Nhật, và là giải Grand Slam lần thứ 15 của cô.


 


Một cảnh sát viên lái mô tô thuộc Sở Cảnh Sát Jupiter, Florida, bị chết trong một tai nạn giao thông, sau khi hoàn tất hộ tống đoàn xe của Tổng Thống Obama đi vận động tại tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ này.


 


Thế Giới


Cựu phó tổng thống Iraq đang còn tại đào bị kết án tử hình về tội lập đội hành quyết để chống lại đối thủ, gây thêm căng thẳng chia rẽ phe phái.


 


Ông Bill Moggridge, một nhà kỹ thuật người Anh và là người đầu tiên thiết kế máy điện toán laptop mà người ta thường dùng ngày nay, vừa qua đời, ở tuổi 69.


 


Sau khi tổng thống Pháp loan báo sẽ đánh thuế mới vào người siêu giàu, ông Bernard Arnaul, người giàu nhất nước Pháp, xin vào quốc tịch Bỉ với lý do làm ăn cá nhân.


 


Cơ quan không gian ISRO ở Ấn Ðộ phóng hai vệ tinh của Pháp và Nhật, đánh dấu sứ mệnh không gian lần thứ 100 của mình.

Bravo Người Việt!

 


 


Về “Thư Viện Ðiện Tử Người Việt: Một đóng góp văn hóa mới”



Bravo Người Việt! Hãy đợi đấy, tôi sẽ kiếm giờ rảnh, “đánh máy” vài quyển sách để “góp vốn” với bà con mình, Người Việt nhé!


Mến chúc sức khoẻ đến toàn thể quý vị làm việc cho Người Việt! Và một cuối tuần vui vẻ, thoải mái với người thân!


HBT

Để cho Quê Hương được muôn màu, muôn vẻ

 


Về “Taxi tại Việt Nam bị ép phải sơn cùng một màu”


 Thời bao cấp xe vào Quốc Doanh hay Hợp Tác Xã mà còn được chọn màu cho mọi đội xe. Xin hãy để cho Quê Hương được muôn màu, muôn vẻ thank you.


thunder

Nông dân gì thế này??

 


Về “Nông dân Việt Nam gởi thư cho thủ tướng Thái Lan”


 


 Nông dân Ðồng Tháp mà viết hay thế, nông dân gì thế này??


Giai

Còn lâu mới lo tới loài vật bị mất giống

 


Về “Loài ‘bò biển’ ở Phú Quốc bị xẻ thịt, lên bàn nhậu,”



Chính quyền không lo cho dân để dân nghèo đói và chỉ lo kiếm tiền bỏ túi, Việt Nam còn lâu mới lo tới loài vật bị mất giống… Xã hội đã làm cho người dân Việt Nam bị hư đốn và cứ lo ăn nhậu mà không biết bị Trung Quốc đầu độc và đem tất cả những gì pha hóa chất đem vào Việt Nam để đầu độc dân mình mà chính quyền Việt Nam không biết xứ lý, lúc nào cũng nói văn hóa thông minh, lúc nào cũng nói tôi có bằng tiến sĩ mà đánh văn chữ Việt Nam thì sai cả lên. Chính quyền Việt Nam cứ tưởng mình khôn, thí dụ: Hồi xưa dân bộ đội CSVN lái máy bay Liên Xô đậu trên mây chờ máy bay Mỹ bay qua mới bắn.


hung

Sao không xử Nguyễn Tấn Dũng?

 


Về “Ký giả Hoàng Khương bị 4 năm tù”


 Còn mấy người tham nhũng nặng ký như Nguyễn Tấn Dũng và toàn bộ cơ quan chính quyền Việt Nam đều ăn hối lộ sao không thấy đem ra xử án. Hồi xưa CSVN đem đấu tố những điều chủ là làm giàu trên xương máu dân Việt Nam, bây giờ từ Nam chí Bắc CSVN ăn hối lộ tham nhũng sau không thấy đem ra tòa xử án. Chế độ nào cũng chết rồi một thời gian sau chính quyền CSVN và con cháu, đồng lõa ăn tiền trên xương máu đồng bào Việt Nam sẽ bị xử trong tương lai.


hung

Trộm viếng ngân hàng, nhà đại gia và nhà ngoại kiều

 


 


HÀ NỘI (NV) Chỉ trong vòng một tuần lễ, ba vụ cướp táo bạo xảy ra tại Hà Nội và Sài Gòn.









Ngôi nhà bị cướp đột nhập, giết người, cướp của. (Hình: Báo Lao Ðộng)


Tại Hà Nội, kẻ trộm lẻn vào trụ sở chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (Vietinbank) ở quận Thanh Xuân đêm 7 tháng 9 lấy đi tivi, máy tính và một số vật dụng cất trong két sắt, trong đó có một con dấu của phòng giao dịch. Ðến sáng hôm sau, ngày 8 tháng 9, nhân viên ngân hàng đến trụ sở làm việc mới phát giác ra sự việc.


Nạn nhân vụ cướp thứ hai là giám đốc một công ty tư nhân, tên Phạm Thị Bảo Hòa 57 tuổi, cư dân quận Ba Ðình, Hà Nội.


Theo báo Người Lao Ðộng, bà Bảo Hòa đang ngồi xe taxi di chuyển từ quận Hoàng Mai đến tỉnh Ninh Bình sáng ngày 4 tháng 9 thình lình bị sáu thanh niên cùng đi trên ba chiếc xe gắn máy chận đường tấn công tới tấp. Sau màn đánh đấm như mưa, sáu người lạ mặt này cướp của bà Bảo Hòa một cặp táp đựng 6 triệu đồng, tương đương 300 đô và con dấu của công ty cùng nhiều giấy tờ quan trọng. Một nam nhân viên công ty cùng đi với bà giám đốc cũng bị đánh và cướp chiếc điện thoại di động. Riêng tài xế taxi thì không bị hề hấn gì.


Theo lời khai của bà Bảo Hòa, kẻ cướp không ai khác hơn là chủ nợ của bà. Vì đòi nợ bà không được, nhóm thanh niên lập kế chận đường, cướp xách tay để… trừ nợ.


Trưa ngày 8 tháng 9 mới đây, một vụ cướp của giết người dã man xảy ra tại quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Nạn nhân vụ cướp này là một phụ nữ người Trung Quốc, tên Yuan Huarong 31 tuổi, đang trú ngụ tại căn nhà nói trên.


Theo VNExpress, kẻ cướp đã đột nhập vào một căn nhà lầu 3 tầng tọa lạc tại hẻm số 47 đường Bùi Ðình Túy, phường 24, quận Bình Thạnh, giết chết bà chủ. Ðây cũng là trụ sở công ty Ðinh Năng chuyên về camera do ông A Chung, 33 tuổi, người Trung Quốc, chồng của nạn nhân, làm giám đốc.


Cuộc điều tra nói rằng vào đêm 7 tháng 9, ông A Chung có cuộc hẹn đi ăn tối tại trung tâm Sài Gòn. Ðến khuya, ông này trở về nhà trông thấy thi thể vợ bị trói chặt bằng dây điện, bỏ nằm trong phòng vệ sinh tầng lửng. Con trai của cả hai vợ chồng mới lên 3 tuổi bị nhốt trong phòng vệ sinh lầu 1 lênh láng nước, đang gào khóc thảm thiết.


Theo cuộc điều tra, kẻ cướp có thể là người quen biết với gia đình nạn nhân nên đột nhập vào nhà dễ dàng. Bọn cướp phá hỏng hệ thống máy ghi hình bảo vệ, bóp cổ bà Yuang cho đến chết rồi tẩu thoát, lấy đi nhiều tiền mặt, tư trang.


Ông A Chung cho biết đã thuê căn nhà nói trên để mở công ty mua bán máy móc ghi hình, camera bốn năm nay. Ông này cũng nghi rằng kẻ cướp có thể nói được tiếng Hoa và vì thế mà bà Yuang mới mở cửa cho vào nhà.


 

Việt Nam sẽ xây bảo tàng quốc gia $500 triệu

 


 


HÀ NỘI (NV) Bộ Xây Dựng vừa cho hay sẽ khởi công xây dựng bảo tàng lịch sử quốc gia lớn nhất nước vào cuối năm nay, với chi phí dự tính lên tới 11,277 tỉ đồng, tương đương với khoảng $500 triệu.









Bảo tàng Hà Nội vắng vẻ, đìu hiu sau hai năm hoạt động. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Theo phúc trình của Bộ Xây Dựng, viện bảo tàng này tọa lạc tại khu đô thị mới Tây Hồ Tây thuộc quận Từ Liêm, Hà Nội, rộng khoảng 10ha sẽ được khánh thành vào năm 2016. Tòa nhà cao 32m, chưa kể tầng hầm sâu gần 7m dùng để trưng bày, lưu trữ các hiện vật. Bên trong tòa nhà còn có hội trường, nơi tổ chức hội thảo, chiếu phim… để người dân đến nghiên cứu, học tập. Theo báo Tin Nhanh, đây là công trình nhằm “phổ biến tri thức lịch sử, văn hóa, khoa học của Việt Nam hiện nay”.


Tin này làm mọi người chưng hửng vì cách nay độ hai tuần lễ, giám đốc thư viện quốc gia lớn nhất Việt Nam bi ai than thở “thiếu tiền mua sách cổ, cũng không được trang bị máy copy sao chép các bộ sách quý” dùng cho người đến tham khảo.


Trong khi đó, theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, một số chuyên viên ở Việt Nam đã lập tức cảnh cáo rằng “công trình quy mô này đang được thực hiện theo một quy trình ngược”.


Một chuyên viên Việt Nam dẫn một “thực tế đau xót” là bảo tàng Hà Nội đã được xây dựng hai năm nay, rộng 5.4 ha, tốn đến $115 triệu, hiện chỉ có “vỏ” mà “ruột” thì rỗng tuếch. Ðó là chưa kể chỉ mới vài tháng sau ngày khánh thành, chính quyền Hà Nội đã phải ì ạch chống dột cho công trình.


Báo Sài Gòn Tiếp Thị dẫn lời nhiều du khách đến thăm bảo tàng Hà Nội đều chê “hiện vật trưng bày còn đơn điệu, nghèo nàn” và hai năm nay hầu như không có gì mới, ngoài “những bộ sưu tập cá nhân và hiện vật cũ mèm được trưng bày hết ngày này qua tháng khác”.







Sơ đồ bảo tàng lịch sử quốc gia trong tương lai e chỉ có ‘vỏ’ mà không có ‘ruột’. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Vì vậy, theo một số cư dân Hà Nội, bảo tàng Hà Nội rơi vào cảnh đìu hiu, vắng vẻ chỉ mới sau hai năm hoạt động.


Báo Tuổi Trẻ còn dẫn lời kiến trúc sư Nguyễn Quốc Thông, phó chủ tịch Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang thực hiện một qui trình ngược với thế giới hiện nay.


Ông này nói: “Các nước đã có một hệ thống bảo tàng gồm con người, hiện vật, công nghệ vận hành rồi mới bắt đầu xây nhà bảo tàng. Còn Việt Nam thì làm ngược: Cứ xây cho có cái đã, rồi trong ruột có gì thì… tính sau.”

Bộ Giao Thông Vận Tải chối ra lệnh ‘đồng phục taxi’

 


 


HÀ NỘI (NV) Chưa đầy 24 tiếng đồng hồ tung ra một dự thảo nghị định làm bùng nổ dư luận chống đối, Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam lập tức lên tiếng bác bỏ.









Xe taxi ở Hà Nội. (Hình: Internet)


Tin của báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 8 tháng 9 cho biết hầu như các chủ hãng xe taxi đang hoạt động khắp các tỉnh thành tại Việt Nam đều phản đối dự thảo nghị định của Bộ Giao Thông-Vận Tải buộc hàng chục ngàn chiếc xe taxi phải sơn cùng một màu. Các hãng taxi cho rằng đây là một quyết định “có tính cách hình thức,” không cần thiết và đầy lãng phí bởi vì việc sơn lại màu xe sẽ khiến mỗi công ty kinh doanh taxi tốn kém hàng chục tỉ đồng, tương đương vài trăm ngàn đô.


Báo Sài Gòn Tiếp Thị còn dẫn lời của ông Lê Huy Cường, phó tổng giám đốc hãng taxi Sài Gòn Hoàng Long, còn cho rằng việc buộc các hãng taxi “mặc đồng phục” tạo cơ hội để taxi “dù,” taxi “nhái” dễ bề hoạt động hơn.


Sáng ngày 9 tháng 9, ông Trần Ngọc Thành, vụ trưởng Vụ Vận Tải thuộc Bộ Giao Thông-Vận Tải, lập tức lên tiếng bác bỏ tin nói dự thảo nghị định “ép” hàng chục ngàn xe taxi khắp đất nước Việt Nam phải “mặc đồng phục”. Ông Thành cho rằng đó là tin “sai sự thật, làm nhiều doanh nghiệp taxi hoang mang”.


Ông này xác quyết rằng dự thảo nghị định sắp ban hành chỉ buộc các hãng xe phải “đăng ký màu sơn của mình cùng với logo, cũng như số điện thoại”.


Tuy nhiên, báo Thanh Niên trích dẫn tuyên bố của ông Trần Ngọc Thành xác nhận rằng chính quyền các thành phố trực thuộc trung ương có quyền quy định một màu sơn cho các hãng xe taxi lưu thông trên địa phận của mình. Ông Thành cũng giải thích rằng, các hãng xe bị buộc phải sơn chung một màu để dễ kiểm soát theo quy định của chính quyền thành phố.


Theo dư luận, việc đệ trình dự thảo nghị định buộc các hãng taxi “mặc đồng phục” là có. Chỉ khác là Bộ Giao Thông-Vận Tải đẩy trách nhiệm thực hiện nghị định trên cho chính quyền các thành phố trực thuộc trung ương.


Hiện nay tại Hà Nội lẫn Sài Gòn đều chưa thấy có qui định nào khác về màu sơn của hàng ngàn xe taxi lưu thông trong vùng.

Dạo sơ một vòng chợ chó cưng ở Sài Gòn

 


Trần Tiến Dũng/Người Việt


 


Nhiều khu phố Sài Gòn ngày nay ít thấy có chó chạy rong ngoài đường.







Anh Trương Hoa, nhà doanh nghiệp trẻ và con chó Phú Quốc tên Nô đoạt giải hoa hậu chó Việt Nam 2012. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)


Nguyên nhân chính là do bọn trộm cướp chó hoành hành chớ không phải vì chuyện sợ chó dại hay ý thức vệ sinh văn minh đô thị. Người có nuôi chó thì khẩu hiệu bây giờ là “Ðời đời căm thù bọn bắt chó.” Còn với người đạp phải phân chó ở vỉa hè, công viên thì “Nhiệt liệt chào mừng dân bắt chó”.


Tuy nhiên, dù là ít thấy chó chạy rong, dân Sài Gòn khá giả thì lại đua nhau nuôi chó nhằm khoe giàu, khoe sang. Có thể kiếm đủ loại chó quí hiếm đắt tiền ở thị trường chó Sài Gòn, từ con chihuahua nhỏ xíu đã có giá gần chục triệu bạc, đến con chó Nhật giống mới. Bên cạnh hai loại chó thời thượng nêu trên còn thì những giống chó ngoại khác như bẹcgiê, phốc, Bắc Kinh… vẫn rất được người Sài Gòn ưa chuộng.


Nói về chuyện nuôi chó thời thượng, có một tay thợ điện nhà ở khu Bình Thới là đáng cười méo miệng. Bởi vì trong cảnh nhà thiếu trước hụt sau, vậy mà mỗi lần phối giống và nhờ bác sĩ thú y đỡ đẻ cho con chó chihuahua là hết cả vài triệu bạc, nhưng con chó cưng nhà anh hết hư thai rồi lại đến đẻ non, chưa bao giờ anh cầm được trong tay cái số tiền bán chó con.


Anh nói: “Người ta có con gái gả cho Ðài Loan, Ðại Hàn kiếm chút cháo, mình có con chó ngoại quốc thì lo gì không kiếm được tiền bù lỗ.”







Vẻ dũng mãnh của một con chó vện Phú Quốc. Loại chó cưng được người Sài Gòn ưa chuộng hiện nay. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)


Tương tự như anh, có một ông bán quán cà phê ở Tân Bình, nghe lời khuyên nuôi chó kiếm chút cháo của một người bạn nên rước về một cặp chó ngoại, giống được ưa chuộng ở Mỹ, chó Golden Retriever. Nuôi đâu được một thời gian thì cả hai con đều bị liệt chân sau. Chán đời, ông đem cặp chó cột ở gốc cây trước cửa quán. Ai đi ngang thấy tình cảnh của hai con chó tội nghiệp quá nên hỏi thăm, ông nói. “Chích ngừa, thuốc bổ, thịt bò, thịt gà gì tôi cũng chu toàn cho nó vậy mà nó phụ lòng tui. Bán thịt nó thì không đành, đành gánh của nợ vậy chớ làm sao”.


Vào lúc mà kinh tế Việt Nam suy thoái toàn diện, không có gì khó hiểu khi một số người lao động bỏ tiền tiết kiệm nuôi chó ngoại với hy vọng kiếm chút cháo, noi gương đổi đời nhờ công thức: Bán chó + mua đất = đại gia.


Ðiểm qua các loại chó ngoại làm cảnh đang có mặt ở Việt Nam đúng là không thiếu giống gì, chó Bắc cực Alaskan Malamute, chó Bulldog Anh-Pháp, chó Foxhound, Dingo… tùy theo nguồn nhập cảng mà có giá vàng chỉ hay vàng cây, có khi đơn giản hơn cứ theo giá đôla trước, sau đó mới tính chuyện coi chó.


Ngày trước, muốn tìm một con chó để nuôi thường thì người ta ra chợ chó trên đường Lê Hồng Phong hoặc Bến Chương Dương. Ngày nay thì cứ lên mạng Internet thì sẽ tìm thấy vô số trang web chó, cứ chọn mặt gởi vàng rồi a lô, có người đưa cục cưng bốn chân đến nhà ngay lập tức.


Loại chó được cả giới đại gia, người bình dân ưa chuộng nhất hiện nay là chó Phú Quốc. Sau 117 năm bị lãng quên, thông tin về việc hai con chó Phú Quốc tên Ðốm và Vện được đại diện đi du đấu đại hội chó giống FCI quốc tế ở Paris làm bùng nổ thị trường chó Phú Quốc ở Việt Nam.


Tất nhiên ở góc độ yêu chó giống khôn xứ Việt ta, điều này là đáng mừng vì đã cứu mạng không biết bao nhiêu con chó Phú Quốc khỏi số phận thịt luộc, rựa mận, xáo măng ở các tiệm thịt cầy. Nhưng mặt trái của việc chó Phú Quốc biến thành hàng hiệu số một này dẫn đến một hệ quả là chó giả, chó nhái và càng có nguy cơ giống chó săn cực kỳ tinh khôn, có một lịch sử làm bạn đường trung thành với người nông dân miền Nam này biến thành một loại chó lai tạp theo thị hiếu.


Tìm hiểu về phong trào “phục sinh” chó Phú Quốc ở Sài Gòn, chúng tôi được Bác Sĩ Huỳnh Thanh Ngọc, giám đốc bệnh viện thú cưng Pet Care, giới thiệu gặp anh Trương Hoa. Anh Hoa vốn là một ông chủ trẻ của một xí nghiệp tư doanh ngành nhựa. Như nhiều người khác, ban đầu anh thích các giống chó ngoại, sau thì lại mê chó Phú Quốc.


Anh cho hay, như là cái duyên đặc biệt, con chó Phú Quốc đầu tiên anh mua để giữ xí nghiệp, sau có người từ đảo mang về một con chó cái, nó ốm bệnh chỉ còn là bộ xương, thương nó anh nhận mua với giá 80 triệu, chưa kể tiền trị bệnh hơn cả chục triệu nữa, như để trả ơn anh, con chó cái ấy hiện nguyên bộ khung xương tuyệt đẹp của giống chó Phú Quốc. Tên chó là con Nô.


Nhiều chuyên gia hàng đầu cho rằng hiện không còn nhiều chó Phú Quốc đúng tiêu chuẩn và khuyên anh nên giữ lấy giống. Lần mới nhất ra Hà Nội hồi Tháng Tư dự thi con Nô lại đoạt ngôi hoa hậu. Anh Trương Hoa cho biết thêm. “Bây giờ nhiều người nuôi, nhiều trại chó Phú Quốc kể cả ở ngoài đảo cũng không chắc con chó đẹp nhất của mình có bao nhiêu phần trăm thuần chủng, bao nhiêu là lai tạp. Tôi quyết chí chọn lọc lại giống chó quí này của Việt Nam. Tôi tin là nếu thật lòng thì chắc chắn giống chó này sẽ không phụ mình.”


Chúng tôi vào một trang web rao vặt, chấm một số điện thoại rồi bấm máy. Chủ trại chó ở miệt Gò Ðen khoe liền miệng là ở chỗ ông chỉ có chó Phú Quốc đưa về từ đảo, không có chó Phú Quốc Sài Gòn. Không chờ chúng tôi thắc mắc, ông tiếp tục trình bày là chó Phú Quốc-Sài Gòn là chó lai tới mấy đời F, lai từ chó cỏ, đến chó xoáy Thái Lan… Cuối cùng ông rao, mới đưa từ đảo về một con vện vàng sáu tháng tuổi đẹp ngất trời giá $1,400.


Nghe xong cái giá con vện của ông chúng tôi muốn nghẹn họng và sực nhớ là trên web của ông chỉ rao bán chó Phú Quốc dành cho khách VIP nên ậm ờ cho qua chuyện bằng cách hẹn ngày đi xem. Ông nói bồi thêm rằng, đường vô trại ông khó đi, nếu đi xe hơi thì cho biết trước để ra đón đưa vào bãi gởi chớ dạo này bọn giao thông kiếm ăn dữ lắm. Chúng tôi bấm tiếp các số điện thoại trang trại chó Phú Quốc khác, đâu đâu người ta cũng “hồ hởi-phấn khởi hét đưa giá chó tới trời”.


Thậm chí có nơi còn nói thiệt, rất thiệt thà là: Có một con mực Phú Quốc 10 tháng tuổi, đang bệnh, đã đi thú y, nếu mua để giá bèo bảy triệu, nếu không lấy liền, chó hết bệnh thì đừng có mơ giá đó nhé.


Chúng tôi phóng xe ra chợ chó Lê Hồng Phong để hy vọng tìm một con chó nhà nghèo dễ mua, dễ nuôi. Mấy tiệm chó trên đường này lúc nào cũng đầy nhóc, tùy theo giống ngoại hay chó ta mà người ta nhốt trong lồng sắt bóng láng hay cột rối nùi một bầy chó nhốt.


Trước cửa một tiệm chó, chúng tôi bắt chuyện với một cặp vợ chồng dáng trí thức. Ông chồng đeo kiếng cận nặng độ nói. “Nhà thích nuôi chó lắm. Lúc làm nghề dạy học thì nuôi một con, rồi mất dạy, lấy nhà làm nghề giữ xe. Trước nuôi cả bốn con giờ mất sạch.”


Bà vợ nói chen vào: “Mất nhanh như chớp đấy ông à, thế ông cũng mất chó hử, có thử đi chuộc chưa, nhà tôi đi khắp nơi rồi mà chẳng tung tích gì.”


Khi biết chúng tôi định tìm một con chó Phú Quốc vừa túi tiền về giữ nhà, ông cựu giáo viên nói: “Ấy, mình giữ nó chứ trông gì chuyện nó giữ mình, giữ nhà gì được. Người xưa nói khuyển mã có tình là đúng cho thời xưa, chớ thời này đến cái tình của con chó cũng bị cướp ông à.”


Rồi đôi vợ chồng giáo viên này lên tiếng khuyên chúng tôi đừng nên mơ chó ngoại, chó Phú Quốc làm gì, cứ tìm một con chó cỏ xấu xí, ngu si nào đó mà nuôi cho được việc, nếu lỡ có bị bọn săn chó dí súng điện cướp mất thì cũng không mất ngủ vì xót của, xót tình.

Tin mới cập nhật