Bà Nguyễn Thị Lý

Ông Lâm Hy

Bà Trần Thị Hòe

Bà Trần Đình Trọng

Ông Tô Đồng

Los Angeles: 4 ngày, 2 trận động đất

BEVERLY HILLS, California Một trận động đất 3.5 độ Richter xảy ra đêm Thứ Năm, bước sang ngày Thứ Sáu, tại Los Angeles.


Giới hữu trách cho hay chưa có báo cáo về thiệt hại nhân mạng hay tài sản.









Một đoạn xa lộ bị sập ở Northridge, Los Angeles, trong trận động đất vào năm 1994. (Hình: Joe Sohm, Science Photo Library)


Cơ Quan Ðo Ðạc Ðịa Chất Mỹ (USGS) nói rằng trận động đất này vào khoảng 3.5 Richter, xảy ra lúc 12 giờ 03 phút sáng Thứ Sáu, với tâm điểm là vùng Beverly Hills.


Chấn động được cảm thấy từ thành phố Santa Monica cho tới Hollywood và vùng San Fernando Valley. Cơ quan USGS báo cáo có hơn 4,000 đáp ứng trên trang web từ những người cảm thấy trận địa chấn này.


Sở Cứu Hỏa thành phố Los Angeles tiến hành các biện pháp thông thường khi xảy ra động đất và gửi nhân viên đi khắp nơi, cũng như sử dụng trực thăng quan sát từ trên không, xem xét tình trạng cầu cống, đường sá, cũng như các cơ sở hạ tầng khác.


Phát ngôn viên Brian Humphrey của Sở Cứu Hỏa Los Angeles cho hay khoảng một tiếng đồng hồ sau khi xảy ra động đất rằng không có ai bị thương tích gì và các nhân viên cứu hỏa không thấy có hư hại gì đáng kể.


Trước đó, trong ngày Thứ Hai, cũng có một trận địa chấn xảy ra ở vùng này ở mức 3.2 Richter.


Các trận động đất này xảy ra tại Beverly Hills, giao điểm của hai đường nứt nguy hiểm chạy ngang qua trung tâm khu đô thị lớn của quận Los Angeles. Cả hai đường nứt này có thể gây nên cơn chấn động mạnh có cường độ đến 7.0, theo tin của LA Times.


Nhà địa vật lý Doug Given thuộc cơ quan US Geological Survey nói rằng, các cơn địa chấn xảy ra gần giao điểm của hai đường nứt Santa Monica và Newport-Inglewood. Ðường nứt Santa Monica chạy bên dưới đại lộ Santa Monica, gần các vùng Pacific Palisades, Westwood, Beverly Hills và Santa Monica. Trong khi đường nứt Newport-Inglewood, tuy mang tên như vậy, chấm dứt ở phía Bắc của Inglewood, gặp đường nứt Santa Monica ở giao điểm hình chữ T.


Hai trận động đất có tâm chấn gần đường Doheny Drive-Wilshire Boulevard, và Wilshire Boulevard-Beverly Drive.


Hai đường nứt nói trên tương đối dài, có nghĩa là chúng có thể tạo nên cơn chấn động gây tàn phá lớn. Theo ông Given, vì chúng chạy ngang bên dưới vùng Westside và vùng West Los Angeles County, nơi có mật độ dân cư dày đặc, chúng có thể “gây nguy hiểm lớn cho phần đông dân chúng ở đây.”


Ðường nứt Newport-Inglewood bắt đầu từ bên ngoài duyên hải của quận Cam, chạy dài 50 dặm theo hướng Tây Bắc, xuyên qua Long Beach, Inglewood và đi vào vùng West Los Angeles. Ðường này được xem là gây tàn phá thảm khốc vì nó chạy ngay bên dưới một số vùng đông đúc dân cư nhất của Southern California.


Sự chuyển động dọc theo đoạn phía Nam của đường nứt Newport-Inglewood, gây nên trận động đất Long Beach cường độ 6.3 vào năm 1933, mà tâm chấn nằm ở ngoài khơi Newport Beach. Hậu quả có 115 người chết, phần lớn ở Long Beach và Compton. Ðó là số tổn thất nhân mạng lớn thứ nhì trong động đất ở California từng ghi nhận được. Hư hại kiến trúc các trường học do trận động đất này gây nên đưa đến việc tiểu bang California áp đụng qui định xây cất theo lối chống động đất.


Một nghiên cứu do cơ quan Division of Mines and Geology thực hiện nhận thấy rằng, một cơn địa chấn dọc theo đường nứt Newport-Inglewood có thể khiến cho xa lộ Hollywood Freeway bị bế tắc tại đoạn cầu vượt của hai đại lộ Hollywood và Sunset Boulevard, giảm hoạt động của phi trường Los Angeles International Airport xuống còn 30% trong hai ngày, tất cả bệnh viện ở hai quận Cam và Los Angeles bị mất 34% số giường nằm, năm nhà máy phát điện mất công suất trong ba ngày, và việc tiếp tế nước bị trở ngại.


Một cơn chấn động 6.6 dọc theo đường nứt Santa Monica, ước lượng sẽ có khoảng 54,000 tòa nhà bị hư hại, trong số đó 85 bị hủy hoại hoàn toàn, số tử vong chừng 30 người và hơn 200 người phải vào bệnh viện.


Vào năm 2009, một trận động đất cường độ 4.7 với tâm chấn nằm gần Inglewood, làm vỡ một số cửa sổ và ngói trên trần rơi vào bên trong một rạp chiếu phim.


Hai trận địa chấn ở Beverly Hills đều không có liên hệ gì đến trận động đất lớn vừa xảy ra ở Costa Rica. (TP & VG)

Ông Nguyễn Ngọc Bích

Cụ Bà Chế Quang

Còn 60 ngày, biết bao nhiêu việc

 


Nguyễn Văn Khanh


 


Kể từ cuối tuần này, cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ 2012 bước vào giai đoạn thật quan trọng: Chỉ còn có đúng 60 ngày để hai ứng viên Barack Obama của đảng Dân Chủ cũng như ứng viên Mitt Romney của đảng Cộng Hòa thực hiện những cuộc vận động thu hút lá phiếu cử tri.










Nhà báo Nguyễn Văn Khanh tại Ðại Hội Toàn Quốc Ðảng Dân Chủ. (Hình: Tác giả cung cấp)


Hình ảnh rõ ràng nhất là ngay sau buổi tối Ðại Hội Ðảng Dân Chủ kết thúc ở Charlotte, N. Carolina, ông Obama lên đường đi New Hampshire, trong khi ông Romney có mặt tại Iowa và đề tài được hai ông nói đến là chuyện tạo việc làm cho người dân, để giảm bớt tình trạng thất nghiệp. Tại Iowa, ông Romney cho rằng “43 tháng liền tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức trên 8% là điều đau lòng, chứng tỏ ông Obama không biết cách giải quyết vấn đề, dẫn đến tình trạng 23 triệu người đang thất nghiệp”, nhắc lại cam kết chỉ bốn năm đầu trong cương vị tổng thống, “Tôi hứa sẽ tạo được 12 triệu việc làm cho người dân”. Ở New Hampshire, ông Obama đổ lỗi cho các vị dân cử Cộng Hòa chỉ biết nghĩ đến quyền lợi đảng phái, “không tiếp tay với hành pháp để tạo thêm công việc làm cho dân”. Vẫn theo lời ứng viên Dân Chủ, “nếu cánh Cộng Hòa thông qua dự luật mà tôi đã đệ nạp, chúng ta tức khắc có thêm cả triệu việc làm”.


Giải quyết tình trạng thất nghiệp là một trong những đề tài các đại biểu của cả hai đảng nói tới tại Tampa và Charlotte. Những cuộc tiếp xúc bên lề hai đại hội Cộng Hòa và Dân Chủ cho thấy những điểm các đại biểu của cả hai đảng quan tâm nhất gồm có:


1. Kinh tế và thất nghiệp: Ðây là hai từ được nói đến nhiều nhất, chỉ thua có số lần tên ông Obama và Romney được các đại biểu nhắc đến.


Trong cuộc họp báo bên lề ở Charlotte, chủ tịch Nghiệp Ðoàn Lao Ðộng Mỹ AFL-CIO là ông Richard Trumka nói “kinh tế và thất nghiệp là những điều dân chúng Hoa Kỳ quan tâm đến nhiều nhất”, và ứng cử viên nào đưa ra được chính sách thực tiễn nhất để tạo việc làm, giúp phát triển kinh tế vững vàng “sẽ là người được cử tri tín nhiệm” trao chiếc chìa khóa mở cửa Tòa Bạch Ốc.


Ông Neil Newhouse, cố vấn Ủy Ban Tranh Cử Mitt Romney, cho rằng hai vấn đề quan trọng này “chỉ được giải quyết với điều kiện phải thay đổi lãnh đạo” để tình hình quốc gia “không ở mức tệ hơn nữa trong bốn năm tới”. Cố vấn David Plouffe của ông Obama thì nói “người dân Hoa Kỳ thấy rõ Tổng Thống (Obama) không chỉ đã giúp quốc gia vượt qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn xây dựng được nền tảng vững chắc để tiến bước trong bốn năm tới”.


Một số nhà phân tích bầu cử dự đoán cuộc bầu cử sẽ “định hình” trong vòng 45 ngày nữa, tức vào giữa Tháng Mười dân chúng Mỹ có thể đoán biết ai là người sẽ lãnh đạo quốc gia. Trong trường hợp đến lúc đó hai bên vẫn còn ngang ngửa, báo cáo thất nghiệp phổ biến vào ngày Thứ Sáu mùng 2 Tháng Mười Một sẽ giữ vị trí quyết định thắng bại: Nếu tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 7%, ghế tổng thống của ông Obama sẽ rất vững vàng, nếu vẫn ở mức 8% hay cao hơn, có khả năng ông Romney sẽ là ông chủ mới của Tòa Bạch Ốc.


2. Tranh luận: Có ba cuộc tranh luận giữa ông Obama và ông Romney (bắt đầu vào ngày mùng 3 Tháng Mười ở Denver để bàn cãi về chính sách đối nội, ngày 16 Tháng Mười để trả lời các câu hỏi do cử tri đặt ra, và kết thúc vào ngày 22 Tháng Mười tại Baca Raton, Florida với cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại).


Cả hai ứng viên đã bắt đầu sửa soạn cho những cuộc tranh luận sẽ góp phần định đoạt lá phiếu cử tri sẽ dành -hay không dành- cho họ. Hồi 1996, ứng viên Ronald Reagan thành công nhờ thắng cuộc tranh luận với Tổng Thống Jimmy Carter; năm 2000 ông Al Gore của đảng Dân Chủ gặp trở ngại vì không trả lời sát những câu hỏi do cử tri đặt ra khi tranh luận với ứng viên George W. Bush của đảng Cộng Hòa.


Dự đoán: Trong cương vị của nhà lãnh đạo đương nhiệm cộng với những bản phúc trình được nghe hàng ngày về tình hình quốc tế, ông Obama sẽ có lợi thế ở cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại, nhưng phải chống đỡ khá vất vả về chính sách đối nội và trước câu hỏi “nước Mỹ có khá hơn trong bốn năm ông Obama nắm quyền hay không” mà ứng viên Romney sẽ nhấn mạnh để lấy phiếu của cử tri. Ngoài tình trạng thất nghiệp, ông Romney sẽ đánh mạnh vào những vấn đề khác, như mức phát triển kinh tế giảm, bốn năm liền mỗi năm ngân sách thâm thủng 4,000 tỷ dollars, đạo luật cải tổ bảo hiểm y tế gây chia rẽ quốc gia và tăng thêm thâm thủng ngân sách, v.v.


Một số chiến lược gia Dân Chủ như bà Celinda Lake tin rằng muốn chống đỡ mức tấn công của ông Romney, ông Obama phải “đưa ra những chính sách rõ ràng hơn trong bốn năm tới để cử tri thấy an tâm khi ông ngồi ở Tòa Bạch Ốc thêm bốn năm nữa, quên hẳn suy nghĩ phải thay đổi lãnh đạo mà phía ông Romney đang hô hào”.


Các quan sát viên bầu cử cũng dự đoán ông Obama có lợi thế vì tài hùng biện, và “phải nhớ ông ta phản ứng rất nhanh” như Thượng Nghị Sĩ John McCain đã nói sau khi thất bại ở cuộc tranh luận với ông Obama khi dự cuộc đua tiến về Tòa Bạch Ốc hồi 2008.


Hai ứng viên phó tổng thống -Josphe Biden và Paul Ryan cũng gặp nhau trong cuộc tranh luận được tổ chức tại Daneville, Kentucky hôm 11 Tháng Mười. Cả hai ông đều nổi tiếng có tài ăn nói vì từng qua rất nhiều cuộc tranh luận ở nghị trường, ông Biden lại có thêm kinh nghiệm sau những cuộc tranh luận ở các cuộc bầu cử vòng sơ bộ của đảng Dân Chủ.


3. Những tiểu bang quyết định ghế tổng thống 2012: Cuộc bầu cử chưa diễn ra nhưng kết quả ở nhiều tiểu bang đã được định sẵn, chẳng hạn như California sẽ thuộc về đảng Dân Chủ, tiểu bang Texas nằm trong tay đảng Cộng Hòa. Ngay hai tiểu bang nằm ngoài lục địa Hoa Kỳ cũng đã có kết quả: Hawaii sẽ bỏ phiếu cho ông Obama, tiểu bang Alaska ủng hộ ông Romney.


Tất cả các cuộc thăm dò cử tri đều nói có từ 10 đến 12 tiểu bang vẫn chưa nghiêng về phía bên nào và đó là những nơi cả hai ông sẽ dồn thì giờ và bỏ những khoản tiền khổng lồ để vận động, chẳng hạn như 70 triệu dollars quảng cáo tranh cử cho Ohio và Florida, 50 triệu dollars khác được dành riêng cho Virginia. Nên nhớ: Florida quyết định kết quả cuộc bầu cử năm 2000, Ohio là nơi tất cả các ứng viên Cộng Hoa đều thắng trên đường về Tòa Bạch Ốc, Virginia là tiểu bang 44 năm liền ủng hộ đảng Cộng Hòa, cho tới năm 2008 mới nghiêng về phía Dân Chủ.


Theo tính toán của phía Dân Chủ, ông Romney không có nhiều hy vọng vì phải thắng cả ba tiểu bang nêu trên cộng với Indiana, North Carolina và New Hampshire. Bên Cộng Hòa có cách tính khác: Ông Paul Ryan sẽ đem lại chiến thắng ở Wisconsin, các tiểu bang gồm Iowa, Colorado và New Hampshire cũng đang nghiêng về phía ông Romney. Mọi định đoạt chính trị cho cả hai bên vẫn nằm ở Florida, Virginia và Ohio.

Ông Ngô Đình Trọng

‘Anh phải sống!’

 


Tạp ghi Huy Phương


 


 


 “Ta nợ những người chết sông chết biển


Nợ những người ở lại để ta đi.”


 


“Trên đê Yên Phụ vào một buổi chiều mùa hạ…” Ðó là dòng chữ mở đầu cho chuyện ngắn “Anh Phải Sống!” của Khái Hưng mà chúng ta, những người yêu Tự Lực Văn Ðoàn, ngày nay đã luống tuổi, đều đã đọc hay còn ghi lại trong trí nhớ.


Một buổi chiều, sau những cơn mưa lớn, trong dòng nước lũ hung hãn, hai vợ chồng anh Phó Thức đem con thuyền nan ra sông vớt củi. Sau khi thuyền bị lật, người chồng phải dìu vợ bơi vào bờ, đã đuối sức. Người vợ đã nói với chồng lời cuối cùng trước khi buông tay để cho anh có thể bơi một mình vào bờ:


“Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!… Không?… Anh phải sống!”


Hai vợ chồng không thể cùng chết để lại đàn con dại, mà “Anh phải sống!” để nuôi con.


Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, trong khổ đau tận cùng, bị đày đọa bởi những tên cai tù cộng sản và cả những tên tay sai “thi đua-văn hóa” tại nhà tù Thanh Cẩm, trong lúc kề cận với cái chết, Linh Mục Lễ đã thức tỉnh và giữ lời thề: “Tôi phải sống!” Ông sống để viết lại một cuốn sách mang lời thề của ông để tố cáo chế độ nhà tù tập trung quân cán chính miền Nam sau năm 1975, và cả những con người cùng chiến tuyến đã mất hết lương tâm. Cuốn hồi ký lao tù “Tôi Phải Sống” được xem là một best-seller ở hải ngoại trong những năm 2003-2005. Sống, để ông làm những công việc vạch trần tội ác của cộng sản và Hồ Chí Minh qua những phương tiện truyền thông.


Hơn năm nay, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ bắt đầu yếu dần vì những vết thương trong thời gian tù tội. Suốt trong thời gian từ ngày ông khỏi nhà tù đến nay, ông đã làm đủ cho mục đích cho sự sống còn của ông qua lời nguyện đẫm máu và nước mắt của ông trong những đêm bị còng trong nhà biệt giam Thanh Cẩm.


Trận chiến Okinawa giữa Nhật và Mỹ kéo dài 82 ngày, trong những giờ phút cuối cùng biết không giữ nổi đất đai của tổ quốc, ngày 15 tháng 6, trong một hang động, trước khi mổ bụng tự sát như là một cách chết trong danh dự, một truyền thống anh hùng của giới võ sĩ đạo Nhật, nghi lễ này gọi là “seppuku” hay “harakiri,” Ðại Tá Kanayama, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 27BB, tập hợp 102 người còn lại sau trận chiến của trung đoàn.


Ông làm lễ đốt quân kỳ trung đoàn và nói: “Trong ba tháng vừa qua, anh em đã cùng tôi chiến đấu. Lòng dũng cảm, chí hy sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đã phục vụ quên mình. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không còn bị ràng buộc, tôi lãnh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết quân đội Nhật đã anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.”


Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong chỉ huy sở của mình tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo.


Trong giờ phút cuối cùng, ông nói với Ðại Tá Yahara: “Ðại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này.”


Yahara là sĩ quan cao cấp phía Nhật Bản đã sống sót sau trận đánh, và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Ðánh Vì Okinawa.”


Chết là oanh liệt, nhưng sống can trường cũng là anh hùng. Rất nhiều người đã thương yêu mong mỏi cho chúng ta còn sống sót qua chiến tranh, tù đày, vượt biển, nhưng liệu sự sống hôm nay của chúng ta có ý nghĩa gì không?


Anh Phó Thức trong câu chuyện “Anh Phải Sống” của Khái Hưng phải sống để thay vợ nuôi con khôn lớn thành người. Những người tù khốn khổ sau bao nhiêu năm bị đày đọa trong các trại tù tập trung, phải sống để trở về nói lên tiếng nói tố cáo cho cả nước và thế giới biết thế nào là chế độ lao tù và sự trả thù tàn độc của những người cộng sản. Cũng như hồi ký “Tôi Phải Sống,” hàng trăm đầu sách về hồi ký lao tù của các tác giả cựu tù nhân chính trị đã được viết ra là một bản cáo trạng về tội ác của cộng sản để cho con cháu đời sau biết đến một giai đoạn lịch sử khổ đau của dân tộc.


Những quân nhân VNCH không phải ai cũng có can đảm tự sát để bảo vệ thanh danh của một người lính không giữ được thành, phải sống như lệnh của Tướng Ushijima cho Ðại Tá Yahara: “Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến này!” Sống là phải mang trách nhiệm của một người lính trong câu chuyện này, dù là một người lính thất trận, chứ không phải sống để chạy theo kẻ thù, đem ô nhục cho đồng đội và cho những người đã chết cho đại cuộc.


Cuộc chiến tranh Nam Bắc đã qua, những người chết giữ trọn thanh danh đã đành, nhưng không phải ai sống cũng can trường, xứng đáng với kỳ vọng của những người đã chết, thi hành được chúc thư của những người đã nằm xuống. Chúng ta là những người thất trận “may mắn,” những người tù sống sót. Trong ý niệm và trong sự tuyệt vọng vô bờ, bản năng sinh tồn của con người trỗi dậy khiến chúng ta phải bám víu lấy sự sống. Nhưng một sinh vật sống có nghĩa là có ăn, có ngủ, có bài tiết, chắc chắn khác hẳn với sự sống của một con người. Chúng ta thương tiếc những người có cuộc sống quá ngắn ngủi, họ chết để lại những thương tiếc cho hậu thế, nhưng cũng chán chường với những người sống kéo lê tuổi thọ, như những chiếc bình vôi dưới gốc cây đa của nhà văn Phan Khôi. Những người này không những đã phản bội lại những người đã mong cho họ sống mà còn phản bội lại chính con người của mình trước đó.


Ðã bao nhiêu người trước cái chết kề cận, giữa bom đạn, đói khát, tuyệt vọng, giữa biển cả muôn trùng mà sự sống như ngọn đèn trước cơn bão đã ước ao, đã thề nguyện, đã ân hận, nhưng khi đã bước chân lên bờ, họ không còn ngoảnh lại một lần. Cái chết bây giờ đã qua, nỗi sợ hãi không còn.


Trong một bức thư công khai được đưa lên Internet vào tháng 12, 2008, một thương binh ở Việt Nam là Trần Nhân đã viết những dòng chữ xót xa, trách móc: “Các anh! Bây giờ thì buồn quá! Các anh – những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người anh của chúng tôi, những Ðại Bàng, những Bắc Ðẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 33 năm lặng lẽ, các anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ,” và: “Các anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngửa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một “Việt kiều yêu nước” là “khúc ruột xa ngàn dặm” về thăm “quê hương là chùm khế ngọt.”


Dù tác giả bức thư này là một nhân vật có thật hay không, thì những điều được viết ra trong bức thư đều là những sự thật đắng cay không thể chối cãi.


Sau ngày 30 tháng 4, 1975 chúng ta có 96 tướng lãnh được may mắn di tản trước khi Sài Gòn thất thủ (*), định cư yên ổn ở nước ngoài, nhưng đã mấy ai có được ý nghĩ tìm cách gây quỹ, kiếm một đồng đô la cho thương binh thuộc cấp hay thắp một nén hương cho “vạn cốt khô” đang chết dở sống dở mà họ đã bỏ lại ở quê nhà. Ðể mãi tới 20 năm sau, một nhóm quân nhân lâm vòng tù tội, vừa vượt thoát ra khỏi những ngày tăm tối đã cùng nhau ngồi lại, từ những đồng bạc tiện tặn, quyên góp để có một sự giúp đỡ cho thương binh VNCH quy mô như ngày hôm nay, để chịu bao nhiêu lời nhục mạ, búa rìu, sỉ nhục, vu oan, chống phá của kẻ thù.


Bao nhiêu người lính đã nằm lại trên chiến trường, bao nhiêu sinh mạng đã bỏ mình oan khuất trên biển cả chỉ mong cho anh thay họ, anh phải sống.


“Tôi ra lệnh cho anh phải sống!” Ðó là mệnh lệnh của người đã chết!


Nhưng sống như thế này cũng gọi là sống hay sao, thưa anh?


 


(*)Theo tài liệu “Lược Sử Quân lực VNCH” của Trần Ngọc Thống-Hồ Ðắc Huân-Lê Ðình Tụy (California, tháng 5, 2012).

Cụ Bà Chế Quang

Biển Ðông và hình thức chiến tranh mới

 


Nguyễn Hưng Quốc


(Nguồn: VOA)


 


Năm ngoái, trên tờ Business Insider, có một bài viết rất ấn tượng, cứ đeo đẳng trong tâm trí tôi mãi: “Tại sao chiến tranh Trung-Việt không thể tránh khỏi?” (Why A War Between China And Vietnam Is Inevitable).


Trong bài viết ấy, tác giả Dee Woo nhận định: Một cuộc chiến tranh để giải quyết vấn đề lãnh thổ và lãnh hải giữa Trung Quốc và Việt Nam không thể không xảy ra. Vấn đề chỉ là thời gian và cách thức can thiệp của Mỹ. Lý do chính để tác giả đi đến nhận định ấy là: Chủ quyền trên Biển Ðông liên quan đến lợi ích cốt lõi của cả hai quốc gia. Nó quan trọng đến độ không ai có thể từ bỏ hay nhân nhượng được.


Về phía Trung Quốc, càng ngày kho dự trữ dầu của họ càng giảm. Hiện nay mọi sinh hoạt của họ đều lệ thuộc vào hơn 50% số dầu nhập cảng từ ngoại quốc, trong đó, một nửa là từ Trung Ðông. Tuy nhiên, cuộc cách mạng Mùa Xuân năm ngoái đã làm thay đổi tình hình, khiến nguồn dầu từ Trung Ðông bị đối diện với khá nhiều bất trắc. Ðể sống còn, Trung Quốc phải tìm những nguồn cung cấp khác, nhất là trong tương lai, càng ngày kinh tế của họ càng phát triển và nhu cầu dầu khí lại càng lớn. Một trong những cái gọi là nguồn cung cấp khác ấy chính là ở biển Ðông: Nó vừa hứa hẹn một trữ lượng lớn vừa gần gũi; và nếu chiếm được, có thể sử dụng lâu dài và an toàn. Hơn nữa, cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc cũng đang và sẽ đối diện với rất nhiều vấn đề chính trị trong nước. Một cuộc tranh chấp với nước ngoài sẽ có tác dụng nâng cao lòng yêu nước của dân chúng: Mọi bất mãn đối với chế độ sẽ biến thành căm thù đối với nước khác. Và nước ấy chính là Việt Nam.


Về phía Việt Nam, có hai lý do chính: Thứ nhất, nguồn dầu khí ở biển Ðông chiếm đến 30% tổng sản lượng quốc gia. Mất nguồn dầu ấy, kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ bị sụp đổ. Ðiều đó càng đặc biệt có ý nghĩa khi, từ mấy năm gần đây, kinh tế Việt Nam càng ngày càng đi vào khủng hoảng: Lạm phát rất cao, hệ thống ngân hàng nhà nước liên tục lỗ lã và thất thoát, nợ xấu càng ngày càng nhiều, đầu tư từ thế giới càng ngày càng giảm. Thứ hai, đối diện với những sự thất bại về kinh tế, xã hội và cả về chính trị, một lúc nào đó, nhà cầm quyền buộc lòng phải sử dụng những tranh chấp ở biển Ðông như một cách để lái sự quan tâm của dân chúng sang một hướng khác, ở đó, mọi phẫn nộ đều đổ dồn về phía Trung Quốc và người ta sẽ quên đi những xấu xa của chế độ; lòng yêu nước và tinh thần dân tộc sẽ thay thế sự bất mãn trước nạn tham nhũng và họa độc tài.


Về phía Mỹ, sau khi giải quyết hoặc tạm giải quyết những tranh chấp ở Iraq và Afghanistan, họ quay trở lại với nền chính trị toàn cầu; ở đó, trong thời điểm hiện tại cũng như trong vài thập niên sắp tới, họ chỉ chịu một sự uy hiếp duy nhất: Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đã bắt đầu uy hiếp vị thế siêu cường quốc kinh tế của Mỹ ở Châu Á. Mậu dịch giữa Trung Quốc và khối ASEAN từ năm 2000 đến 2009 tăng gấp sáu lần, trong khi đó, quan hệ thương mại của Mỹ và các nước trong vùng đã không tăng, lại còn giảm. Mỹ cần trở lại Châu Á để ngăn chận Trung Quốc và để duy trì các quan hệ chiến lược với các nước khác trong vùng. Muốn trở lại, họ cần một cái cớ. Những tranh chấp trên biển Ðông cung cấp cho Mỹ một cơ hội bằng vàng để vừa quay trở lại Châu Á, vừa có thể nói đến tình hữu nghị, đến việc buôn bán dầu khí và buôn bán cả vũ khí với các nước khác.


Có điều, khả năng Mỹ trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến Việt Nam và Trung Quốc có lẽ sẽ rất ít. Họ muốn quay lại Châu Á nhưng không hẳn để giúp Việt Nam. Quyền lợi của Mỹ trong việc duy trì quan hệ với Trung Quốc, dù sao vẫn lớn hơn việc giúp một nước nào đó, như Việt Nam, để đương đầu với Trung Quốc bằng vũ lực. Hơn nữa, trước mắt, Mỹ vẫn chưa thoát cuộc khủng hoảng kinh tế. Họ còn quá nhiều việc phải làm ngay trong nước của họ, nhất là trong hai lãnh vực nhân dụng và thương mại. Mỹ không bắt buộc phải hy sinh quá nhiều để cứu Việt Nam. Họ có thể sẽ phải làm như thế với Nhật, Nam Hàn, và Philippines, những nước có hiệp ước quân sự với họ. Nhưng với Việt Nam thì không.


Thành ra, với Trung Quốc, Việt Nam vẫn là chọn lựa hàng đầu để tấn công nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược về cả hai lãnh vực chính trị và kinh tế của họ.


Viễn tượng chiến tranh Việt-Trung do See Woo vẽ ra không phải hoàn toàn phi thực. Thật ra, bất cứ người nào cũng có thể thấy được điều đó. Giới lãnh đạo Việt Nam, hơn ai hết, càng hiểu rõ điều đó. Tuy nhiên, để đối phó, lựa chọn của họ không nhiều. Chỉ có thể nằm trong ba trường hợp:


-Thứ nhất, bằng giải pháp chính trị, bao gồm cả phương diện pháp lý. Ðó là điều họ hay nói đến nhiều nhất. Có vẻ như một giải pháp duy nhất. Nhưng không có giải pháp chính trị nào có thể thành hiện thực nếu không có thế và lực. Việt Nam đang đi tìm thế và lực ấy bằng cách tìm kiếm sự ủng hộ của khối ASEAN và một số cường quốc hạng trung, từ Ấn Ðộ đến Úc. Nhưng ở khối ASEAN, với sự “phản phé” của Cambodia, rõ ràng là họ đã thất bại. Trong tương quan lực lượng, ngay cả trong lãnh vực kinh tế, giữa Trung Quốc và các nước khác trong khối ASEAN hiện nay, không có cách gì người ta có thể thay đổi quan điểm và thái độ của chính phủ Cambodia được. Mà chỉ cần một nước bất đồng, sức mạnh của khối ASEAN trong việc đương đầu với Trung Quốc sẽ bị vô hiệu hóa ngay. Bằng chứng của điều đó được thể hiện rõ trong hội nghị các bộ trưởng ngoại giao khối ASEAN tại Cambodia vừa qua. Những nước khác, từ Úc đến Ấn Ðộ, Nga, Nhật, Nam Hàn… đều, một, không phải là đối thủ của Trung Quốc; và hai, không có lý do gì để họ sẵn sàng vì Việt Nam mà công khai tuyên chiến với Trung Quốc cả. Kinh nghiệm chiến tranh ở Libya năm ngoái và tình hình Syria hiện nay cho thấy một điều: Thế giới sẽ khoanh tay án binh bất động cho đến khi Mỹ quyết định tham chiến. Cho nên, dù Việt Nam có loay hoay đi tìm đồng minh ở đâu thì đồng minh quan trọng nhất vẫn là Mỹ. Tuy nhiên, con đường đến với Mỹ vẫn là một con đường đầy cam go và dài dằng dặc.


-Thứ hai, bằng giải pháp quân sự. Ðây là điều chính phủ Việt Nam muốn chứng tỏ là họ đang chuẩn bị. Qua việc mua sắm các loại vũ khí mới, chủ yếu từ Nga. Tuy nhiên, ở khía cạnh này, có mấy điều cần chú ý. Một, có mua sắm thêm đến mấy, kho vũ khí của Việt Nam cũng chỉ là hạt cát so với Trung Quốc hiện nay. Hai, đã ít về số lượng, Việt Nam lại không thể mua được các loại vũ khí hiện đại nhất do Mỹ sản xuất vì lệnh cấm vận trong lãnh vực quốc phòng vẫn chưa được tháo gỡ. Giới lãnh đạo Việt Nam, trong các cuộc tiếp xúc với quần chúng cùng giới trí thức, lúc nào cũng tìm cách trấn an bằng luận điệu: Họ đã có cách “trị” được Trung Quốc nếu chiến tranh bùng nổ. “Trị” bằng cách nào? Không ai nói cả. Người ta chỉ đem quá khứ ra thế chấp: Trong thế kỷ 20 vừa qua, họ luôn luôn thắng trong mọi cuộc chiến tranh: thắng Pháp (1954), thắng Mỹ (1975), thắng Khmer Ðỏ (1978) và thắng cả Trung Quốc (1979). Lần này, cũng vậy, họ hứa hẹn: Họ cũng sẽ thắng. Kết luận: “Ðồng bào đừng lo; hãy để đảng và nhà nước lo!”


Tuy nhiên, đó chỉ là một lời nói dối.


-Thứ ba, chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc, nếu xảy ra, sẽ khác hẳn về loại hình với các cuộc chiến tranh trước đây. Hầu hết các cuộc chiến tranh trước đây đều diễn ra trên đất liền. Bây giờ trận địa đã khác. Hầu hết các nhà bình luận quân sự đều cho, từ đầu thế kỷ 21 trở đi, lịch sử quân sự nhân loại chuyển sang một trang khác: Trận địa chính sẽ là trên biển. Các cuộc chạy đua vũ trang trên thế giới trong một hai thập niên vừa qua chủ yếu là cuộc chạy đua để trở thành những cường quốc trên biển với những tàu sân bay (hay: hàng không mẫu hạm), tàu ngầm, thủy phi cơ (seaplane), tên lửa (hỏa tiễn), v.v… Theo Robert D. Kaplan, trên báo Foreign Policy, nếu loại hình chính của chiến tranh thế kỷ 21 là trên mặt biển thì biển Ðông sẽ là điểm nóng nhất, nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt nhất và có thể là nơi sẽ diễn ra chiến tranh nhất.


Trận địa thay đổi, đặc điểm và điều kiện chiến tranh thay đổi theo. Trên trận địa giữa biển cả ấy, Việt Nam hoàn toàn đánh mất tất cả những ưu thế vốn có và vốn được họ, nhất là ở miền Bắc, tận dụng trong suốt nửa sau thế kỷ 20: Một, rừng núi hiểm trở; hai, sự ủng hộ của dân chúng để một mặt, sẵn sàng tham gia các chiến dịch quân sự, nếu cần; mặt khác, sẵn sàng che giấu bộ đội để từ đó chiến thuật du kích có thể thực hiện được; và ba, sự dũng cảm của những người lính: Họ bất chấp nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh tính mạng để chống giặc. Trên đất liền, yếu tố con người là chủ đạo; trên biển, yếu tố kỹ thuật lại chiếm vai trò chủ đạo. Mà về kỹ thuật thì hiện nay Việt Nam hoàn toàn thua xa Trung Quốc.


Hơn nữa, có một sự thật không nên quên: Từ đầu thập niên 1970 đến nay, Việt Nam đã từng đụng độ với Trung Quốc nhiều lần. Việt Nam thắng trên các mặt trận trên đất liền, nhưng với cả hai mặt trận trên biển, Việt Nam đều thua. Lần đầu, Việt Nam Cộng Hòa thua khi bị cướp mất Hoàng Sa vào năm 1974, và lần thứ hai, Việt Nam cũng lại thua Trung Quốc trên một số đảo và bãi đá ở Trường Sa (bao gồm các đảo Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Xu Bi, v.v…) vào năm 1988. Nếu hai giải pháp chính trị và quân sự đều bế tắc, giới lãnh đạo Việt Nam chỉ còn giải pháp thứ ba: Ðầu hàng hoặc bỏ chạy. Ðầu hàng thì chắc sẽ khó sống sót với dân chúng. Biện pháp bỏ chạy có lẽ sẽ được “nghiên cứu” kỹ hơn. Ðể bỏ chạy, điều họ cần làm nhất là chuyển tiền ra nước ngoài. Càng nhiều càng tốt.


Có khi họ chọn giải pháp ấy chăng?

Bà QP Ngô Minh Khôi

Dạy tiếng Việt bằng trò chơi ‘Game’

 



 


Việt Linh


 


Tác giả cuốn sách “Hệ Thống Hóa Chữ Quốc Ngữ Việt Nam” là ông Nguyễn Xuân Hợp, nhận lời mời của Viện Việt Học đã từ New York đến để giới thiệu phương pháp dạy tiếng Việt vỡ lòng cho trẻ em hoàn toàn chưa biết tiếng Việt, lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 2 Tháng Chín, tại phòng hội của Viện Việt-Học.


Hai đội gồm 6 học sinh thuộc trường Việt ngữ Tự Lực tham dự để học phương pháp mới này. Tuy nhiên vì sự hiểu lầm nên các em đã làm diễn giả ngạc nhiên nhưng thích thú.


Ông nói: “Ý của tôi là sẽ trình bày cách vui học tiếng Việt bằng trò chơi cho trẻ em chưa hề học tiếng Việt. Ấy thế mà mới hỏi câu đầu tiên, các em đã biết phân biệt ‘báo’ với ‘báu’. Tôi hơi khựng vì các em không phải là đối tượng để tôi áp dụng phương pháp mà tôi cho là mới.”


Ông cười và tiếp: “Tuy nhiên, cái vui ở đây là các em ở Cali biết tiếng Việt sớm quá. Ðó cũng là điều tốt!” và ông đã vượt qua giây phút ngỡ ngàng. Ông tiếp tục dạy. Ông đặc biệt chỉ rõ cho các em biết đến sự quan trọng của đôi môi khi phát âm.


Ông chỉ cho các em thấy sự khác biệt khi đôi môi phát âm chữ “a” khác với chữ “u” trong chữ “báo” và chữ “báu.” Ông ngạc nhiên khi các em nắm bắt được ý ấy ngay, làm theo và trả lời ông rất đúng.


Các em tham gia cách học vui của Thầy Hợp rất tận tình, không buồn ngủ vì có cảm tưởng đang chơi “game.” Ðó là nhờ cách hướng dẫn căn cứ vào cách phát âm. Ông nói: “Tiếng Việt giống như một cái máy ghi âm. Vì thế chúng ta muốn nói đúng, phải tạo được cách phát âm đúng.”


Nhà soạn sách giáo khoa này cho biết trong sách của ông có ghi ba đặc tính của Chữ Quốc Ngữ là: Ghi âm, đơn âm và không thay đổi.


“Từ bản ghi chép, ta đọc (phát âm) ra được âm thanh (tiếng nói) lúc ban đầu,” đặc tính đầu ghi như thế. Kế đến là phần định nghĩa và nhận xét tiếng Việt mỗi âm đều có ý. Ðơn âm là đặc tính kế tiếp.


Sau cùng là đặc tính “Chữ không thay đổi.” Ông đơn cử những thí dụ như “Bây giờ tôi đang ăn một chén cơm.” “Tối hôm qua chúng tôi đã ăn hai chén cơm.” “Ngày mai họ sẽ ăn ba chén cơm.”


Những chữ “ăn” không thay đổi theo chủ từ; chữ “chén” không thay đổi dù dùng trong thời gian nào cũng không thay đổi theo số lượng.


Còn rất nhiều vấn đề khác về cách hệ thống hóa chữ Việt được đề cập đến trong cuốn sách của ông.


Một cô giáo và một thầy giáo lên phát biểu cảm tưởng sau buổi thuyết trình, tỏ ý cảm phục công trình khảo cứu của nhà soạn sách giáo khoa Nguyễn Xuân Hợp. Ông làm các phụ huynh hiện diện cảm động khi thấy ông đem theo kẹo sôcôla từ New York làm phần thưởng cho các em.


Tác giả Nguyễn Xuân Hợp là cựu học sinh trường trung học Chu Văn An tại Sài Gòn năm 1962. Sĩ quan QLVNCH xuất thân khóa 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, tốt nghiệp năm 1966 và phục vụ Sư Ðoàn 22 Bộ Binh. Ông nghiên cứu tiếng Việt trong thời gian bị giam ở nhà tù Chí Hòa.


Quý thầy cô và phụ huynh cần tham khảo sách “Hệ Thống Hóa Chữ Quốc Ngữ Việt Nam” 218 trang, có thể liên lạc với tác giả Nguyễn Xuân Hợp, email: [email protected]. Ðiện thoại: (203) 502-1817.


Hơặc điện thoại Viện Việt-Học: (714) 775-2050.


––––––––––––––––-


Hình ảnh lớp học Việt ngữ bằng trò chơi


tại Viện Việt-Học ngày 2 tháng 9, 2012


 



Ông Nguyễn Xuân Hợp dạy phát âm tiếng Việt.


 



Các em lắng nghe.


 



Một cô giáo phát biểu.


 



Thầy hỏi: “Láo” number one or number two?


 




Phụ huynh giúp thầy phát thưởng.


 



Tác gỉả Nguyễn Xuân Hợp bên người chị, anh rể và thân nhân.


 



Sách do tác giả tặng Viện Việt-Học.


 



Hình lưu niệm của lớp học tiếng Việt bằng trò chơi.


–––––––––––––


Em Viết Văn Việt


Những bài viết của học sinh các trường Việt ngữ


Nhằm tạo một diễn đàn cho các em tập viết tiếng Việt, Ban Biên Tập trang Tiếng Việt Dấu Yêu kêu gọi quý phụ huynh và quý thầy cô khuyến khích các em viết văn, diễn tả bằng tiếng Việt những cảm nghĩ và ước vọng trong đời sống của các em. Ước mong nơi đây một sân chơi được mở ra và khu vườn văn hóa Việt sẽ được quý phụ huynh và quý thầy cô góp tay vun trồng, khuyến khích.


Trong các bài nhận được và chọn để đăng, chúng tôi cố ý giữ nguyên văn những gì các em viết. Vì thế, khi đọc đến những ngôn từ, lỗi chính tả và sai văn phạm, chúng tôi mong được phụ huynh và thầy cô chia sẻ và sửa chữa cho các em tại nhà hay trong lớp học.


Tất cả các bài viết dưới dạng MSWord, font Unicode; và hình ảnh dạng .jpg, xin gởi về địa chỉ email: [email protected] (Xin đừng gởi dạng .pdf vì không tiện cho việc layout).


Trân trọng cảm ơn quý vị.


Nguyễn Việt Linh


 


Ðề tài:


Ðặt câu với các từ cho sẵn:


 


Nguyễn Ngọc Phương Nam


Thí sinh cấp tiểu học Năm


Giải Khuyến Học-Viet Olympiad-2012


 


1. Tết Trung Thu ở Việt Nam rất vui, vì có nhiều trò chơi cho trẻ em.


2. Khi gia đình em được đoàn tụ, thì mọi người rất vui vẻ.


3. Em rất thích ăn bánh tráng, nhưng mẹ em lại quên đi mua.


4. Cha mẹ Tâm rất sung sướng khi nhận được phiếu điểm của Tâm, vì Tâm đã làm cha mẹ tự hào.


5. Chúng ta là người Việt Nam, và chúng ta cũng là người Mỹ, nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ đất nước ta thật sự là Việt Nam


6. Vào những dịp quan trọng như Tết Nguyên Ðán, tâm thường mặc quốc phục Việt Nam, nhưng Tết năm nay Tâm lại không mặc, vì Tâm đã làm mất bộ quốc phục ngày hôm trước.


7. Rất nhiều điều quan trọng đã xãy ra trong thời cận đại, và em cần phải học về thời này , vì những điều đã xãy ra rất có lien quan đến Việt Nam hiện nay.


8. Nước Việt Nam ta đã bị đô hộ bởi Trung Hoa rất nhiều lần trong thời Bắc Thuộc, nhưng người Việt Không bao giờ đầu hàng ,vì người Việt ta rất yêu nước.


9. tâm xin bác Bảo Vệ giúp tâm tìm cha mẹ, vì Tâm đã đi lạc, và không biết đường về.


10. Song Cửu Long rất nổi tiếng, và cũng rất dài, vì song Cửu long phát nguyên từ Tây Tạng.


–––––––––––––-


Thông báo


TTVH Hồng Bàng khai giảng lớp Việt ngữ


 


Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng sẽ khai giảng các lớp tiếng Việt, trình độ từ lớp Mẫu Giáo đến lớp 7 và nhận đơn ghi danh, lúc 1 giờ trưa Chủ Nhật 16 Tháng Chín, tại trường Bolsa Grande High School. Ðịa chỉ 9401 Westminster Blvd., Garden Grove, CA 92844. Ðiện thoại: (714) 721-9603 hoặc (714) 270-4515.

Bé gái núp dưới váy xác mẹ trong tám tiếng

ANNECY, Pháp (AP) – Một bé gái bốn tuổi nằm bất động, sợ hãi, dưới váy mẹ, trên sàn chiếc xe BMW, trong ít nhất tám tiếng, mà cảnh sát đến điều tra vụ thảm sát này ở vùng núi Alps không trông thấy.









Hiện trường nơi xảy ra vụ thảm sát trên vùng núi Alps ở Pháp, một bé gái bốn tuổi còn sống, núp dưới váy của xác mẹ trong tám tiếng mà cảnh sát điều tra không hay. (Hình: KLS.com’s video)


Suốt nhiều giờ, cảnh sát nhìn xác cha mẹ và bà ngoại của em qua cửa sổ xe, nhưng không chú ý đến em. Mãi đến khi chuyên viên giảo nghiệm từ Paris được phái đến, xem xét tử thi, mới bất ngờ thấy em bò ra.


Vụ thảm sát xảy ra vào đêm Thứ Tư tại một vùng cây cối rậm rạp, trên một đường núi gần làng Chevaline, cạnh hồ Annecy. Nguyên nhân đưa đến cái chết cho cả gia đình này và một người đi xe đạp, mà xác được tìm thấy gần đó, hiện chưa được rõ.


Trước đó cảnh sát chỉ tìm thấy một bé gái khác 7 tuổi bị thương và chuyển đi bệnh viện bằng trực thăng.


Cảnh sát cho biết, một người đàn ông, một phụ nữ lớn tuổi và người đi xe đạp bị bắn vào đầu, trong khi cái chết của người phụ nữ trẻ hơn vẫn đang còn điều tra. Cảnh sát tìm được 15 vỏ đạn quanh chiếc xe vẫn đang còn nổ máy khi cảnh sát đến. (T.P.)

Amazon tung ra Kindle Fire, nhanh và lớn hơn iPad

SANTA MONICA, California (AP) – Amazon hôm Thứ Năm vừa trình làng bốn máy tính bảng Kindle Fire kiểu mới, gồm những kiểu với màn hình màu lớn hơn, chuẩn bị để cạnh tranh với Apple trước khi đến mùa lễ mua sắm.









Phó chủ tịch Amazon, Peter Larsen, cầm trên tay Kindle Fire HD khi trình làng các kiểu máy tính bảng mới ở Santa Monica. (Hình: AP/Reed Saxon)


Amazon đưa ra Kindle Fire lớn hơn với màn hình có độ phân giải cao, vào lúc mọi người đang trông đợi Apple sẽ cho trình làng kiểu iPad mới nhỏ hơn, sớm nhất có thể vào tuần tới.


Kindle Fire mới có màn hình kích thước 8.9 inch, so với 7 inch của phiên bản trước, trong khi đối thủ iPad có kích thước là 9.7 inch. Giá mỗi Kindle Fire là $299, tức rẻ hơn một iPad kiểu rẻ nhất đến $100 và sẽ tung ra thị trường vào ngày 20 tháng 11.


Bà Carolina Milanesi, phó giám đốc nghiên cứu của Gartner, nói: “Ngày nay rõ ràng là có hai tên tuổi lớn trong thị trường máy tính bảng. Một là của Amazon và một của Apple.”


Amazon cho biết, Kindle Fire 7 inch kiểu căn bản giá thành sẽ là $159, giảm từ $199 so với kiểu nguyên thủy, vốn đã bán sạch hồi tháng trước. Theo Amazon, phiên bản mới chạy nhanh hơn loại cũ 40% và memory có sức chứa lớn gấp đôi, kể cả bình điện cũng xài được lâu hơn. Máy sẽ được đưa ra thị trường vào Thứ Sáu tới.


Amazon loan báo thêm, kiểu Kindle Fire HD sẽ có hai kênh Wi-Fi và hai ăng ten khiến máy chạy được nhanh hơn, rất quan trọng khi xem phim có độ phân giải cao hoặc các hồ sơ ảnh có dung lượng lớn. (T.P.)

Bánh xèo, ốc hút và mùa Thu

 


Phi Khanh/Người Việt


 


QUẢNG NAM – Có lẽ do còn nghèo? Hoặc cái nghèo đã ăn thành nếp trong tâm thức người Việt cũng như cái khổ và sự than thở đã trở thành “bản sắc” của người dân thời xã hội chủ nghĩa? Hoặc chỉ đơn giản, chưa có âm thanh và hình ảnh nào vượt qua được tiếng sôi của chảo dầu, tiếng hút ốc và mùi thơm của nó?









Bà Năm nói: “Bây giờ bánh xèo không còn hồn vía như ngày xưa vì tui chụm bằng lò sô, bếp dầu…” (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


Nói cách gì cũng đúng mà cũng không đúng.


Cứ đến mùa tựu trường, học trò hẹn nhau ra quán hút ốc, ăn bánh xèo, ngắm mưa đầu mùa rơi và đôi khi suy nghĩ vẩn vơ một cách rất người lớn trong… quán bánh xèo, ốc hút.


Nói về bánh xèo miền Trung khi Thu về, có lẽ từ Khánh Hòa ra đến Quảng Bình, dọc hai bên đường quốc lộ 1A, đâu cũng thấy lác đác vài quán bánh xèo che tạm bợ, mái tranh, mái lá, có khi tấm vải bạt che mưa, che nắng qua mùa. Nhìn vừa rất gần gũi lại vừa mơ hồ, phiêu linh…


Chỉ riêng ở tỉnh Quảng Nam, đi từ Vĩnh Ðiện, vào Duy Xuyên, lên bến đò Kiểm Lâm, băng đò sang Ðại Lộc, đếm mỏi tay cũng không hết quán bánh xèo, ốc hút. Nhiều gấp vài chục lần tiệm bánh Trung Thu.


Bà Thúy, chủ quán bánh xèo ngay chân cầu Ái Nghĩa, cho biết: “Ðây cũng là làng bánh xèo, ốc hút và thịt nướng của thị trấn Ái Nghĩa, Ðại Lộc, nó có từ lâu lắm rồi, trước 1975, thời đó nghèo, đèn dầu tù mù, khói bụi và ấm áp, có hồn hơn bây giờ!”


“Chúng tôi thường bắt đầu mở hàng vào đầu tháng 7, và kết thúc mùa bánh xèo ốc hút vào cuối tháng 10, năm nào cũng vậy. Ngày xưa, làm một mùa có thể sống đủ một năm, nhưng bây giờ, làm mùa nào đủ sống cho mùa đó, mùa còn lại mình làm việc khác để sống.”


“Nhiều khi mệt quá, muốn bỏ nghề, nhưng cứ nghe hơi lạnh kéo về, nghe con cháu nói sắp tới mùa tựu trường, nghe sấm đất rền rền là cái chân muốn nhổm dậy đi mua tôm thịt, giá, rau sống, xay bột gạo, đốt lò…”


Ông Trung, chủ quán bánh xèo ốc hút có cái tên khá lạ là “Nỗi Niềm.” Quán che mấy tấm bạt bên đường, đặt hai chiếc bếp, một than, một củi bằng mấy hòn gạch. Ðến mùa, Nỗi Niềm lại nổi lửa.


Ông cho biết: “Mùa Thu là mùa buồn, nó buồn vì thiên nhiên buồn, mà con người cũng buồn vì lúc này đồng trơ gốc rạ, nhìn ra đã thấy mênh mông nước và se sắt lạnh… Mùa này cũng rảnh rỗi, chẳng còn nghề nào hơn là sáng đi bắt ốc, ngâm bột, mua nguyên liệu, chiều về nấu một nồi ốc, nhúm lò bán bánh xèo.”


Ông giải thích về tên quán: “Ban đầu quán không có tên, vì mình bán vỉa hè, tên tuổi mần chi, nhưng dần dần, thấy khách của mình ai cũng nghèo, cũng nỗi niềm, có nhiều người đến quán vài lần rồi tìm chủ quán mà trút nỗi niềm nghèo, mình đặt tên quán là ‘Nỗi Niềm’ luôn.”









Khách hàng của bánh xèo, ốc hút, thường là học sinh phố huyện, học sinh nghèo… (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


“Người làm nông thì thỉnh thoảng mang vài lon gạo ra đổi mấy cái bánh xèo về cho con cái cùng ăn, nếu đông con quá thì tự đi xay bột, mua nhưn rồi cả nhà quay quần đúc bánh xèo. Nhưng phần lớn người ta vẫn mua về ăn, đỡ tốn công, không tạo cảm giác ngấy…”


“Nói chung, miền Trung mùa nắng thì nắng gió, nóng nực, mùa mưa thì mưa não ruột, nên dễ có món đặc trưng, mà tui thấy, không cho chi thú vị hơn là mùa Thu, trời lạnh se se, người lớn thì nhâm nhi vài chén rượu, hút vài con ốc, ăn cái bánh xèo lót bụng, người trẻ thì rủ nhau ăn bánh xèo….”


Cô Thương, chủ quán bánh xèo ở ngã ba Vĩnh Ðiện, Ðiện Bàn, Quảng Nam, cho biết: “Bánh xèo có nhiều loại, ốc hút cũng thế, riêng bánh xèo, có đến 18 loại, trong đó, đứng đầu là bánh xèo chảo, phong cách ăn của giới nhà giàu Bình Ðịnh, có cái lên đến vài trăm ngàn đồng, còn lại, mười bảy loại kia được đặt tên theo nhưn, vì dụ như bánh xèo vịt, bánh xèo cá lóc, bánh xèo chay…”


“Giới nhà giàu có những quán bánh xèo riêng, nhưng tui đi nhiều, thấy không đâu đúc bánh xèo thanh, mảnh và đẹp như Huế, không có chỗ nào có nhiều ốc hút đồng ngon như Ðiện Thắng, Quảng Nam, không chỗ nào có nhiều ốc đá, ốc núi như Duy Xuyên. Nói chung mỗi nơi mỗi vẻ, nhưng vùng đất càng nghèo thì thấy bánh xèo càng ngon!”


Chiều đến, mấy đứa trẻ trong xóm mang chiếc trống ếch ra ngõ tập lân, trời cũng bắt đầu heo may, tự dưng, thấy nhớ cảm giác lang thang trên đường, dừng lại bấm máy, rồi ghé quán cóc, hít thở không khí, mùi bánh xèo, ốc hút, cay cay, bùi bùi… Chúng tôi lại ghé quán Nỗi Niềm.


Ông chủ quán chào khách, dáng bộ đã hom hem, nhưng cái nét cười quen thuộc của một con người sống quen với đời cần lao, hồn hậu và đáng yêu của ông vẫn như cũ. Tấm bảng thì không còn, mới bị công an tịch thu, quán ông cũng vừa bán vừa chạy.









Quán bánh xèo này tồn tại gần 40 năm nay ở Quảng Nam. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


Chúng tôi chào hỏi mấy câu, gọi một dĩa bánh, ông lại bưng dĩa rau sống với cải con, bắp chuối xắt, rau thơm, ngò, quế, khế và chuối chát xắt lát… Cũng một câu cũ: “Ðợi một chút nghe, tui đúc hơi chậm!”


Tự dưng, thấy cay cay khi nghĩ đến người đàn ông bán bánh xèo, tiếp xúc hằng ngày với những người không lắm tiền nhiều bạc, sống dung dị, giữa một đất nước mà cách ông không xa, sự sa đọa và tội ác nảy sinh hằng ngày khắp ngõ ngách.


Mùa Thu, thương ốc hút, bánh xèo, những người lao động nghèo, và thương cả quán Nỗi Niềm!

Về “Cựu TT Clinton đọc diễn văn ‘giới thiệu’ TT Obama,”

 


Thư độc giả


 


Về “Cựu TT Clinton đọc diễn văn ‘giới thiệu’ TT Obama,”



Ông (H.C.) đã cho con số sai nợ quốc gia lên tới 1,600 tỷ Mỹ kim theo tôi là (16000,000) tỷ Mỹ kim. Thanks.


hoang


 


Theo ký giả H.C. trong bài báo, “Cựu TT Clinton đọc diễn văn ‘giới thiệu’ TT Obama,” trích dẫn lời ông Ryan thì nợ quốc gia là 1,600 tỷ đồng. Tuy nhiên cũng trong cùng số báo Người Việt nơi bài, “Nợ quốc gia của Mỹ lên tới 16 ngàn tỉ đô la,” theo tường thuật của V. Giang thì, “Bộ Tài Chánh Mỹ hôm Thứ Ba cho hay tổng số nợ quốc gia nay lên tới $16 ngàn tỉ, nghĩa là mỗi người dân quốc gia này, từ trẻ đến già, đều phải lãnh số nợ hơn $50,000.” Như vậy là $1,600 tỷ hay $16,000 tỷ? Xin Người Việt hãy kiểm tra lại.


Hoài Việt


 


Tòa soạn trả lời: Xin cáo lỗi và cảm ơn hai độc giả. Con số đúng là “$16,000 tỉ” hoặc “$16,000,000,000,000.” V. Giang viết đúng.


 


Tin hay không tin. Nói về cựu TT Clinton thì người viết khâm phục ông là chính trị gia mềm mỏng, nhưng cũng chỉ trong giới hạn nào đó (Nhân vô thập toàn). Ông là người may mắn trên chính trường hơn là tài ba. Sự xuất hiện trên diễn đàn đại hội kỳ này không hoàn toàn mang tính chất đại cương là ủng hộ ứng viên cũng như phục hồi danh dự đảng Dân Chủ. Phải hiểu hàm ý nếu đảng Cộng Hòa thắng là một trở ngại khó lường cho ứng viên năm 2016 (là ai xin miễn bàn). Ông bước vào vết xe cũ khi lớn tiếng phê bình cựu Tổng Thống W. Bush nhưng hoàn toàn mơ hồ, mang tính chất ngụy biện, hơn thế nữa là tự kiêu (no president, not me, not any predecessors..), tỏ rõ 310 triệu người Mỹ chỉ một người biết trám cái lỗ hổng donut hole sao. Cũng vậy tạo hơn 4 triệu công việc, à ra thế, khi ông Bush hết nhiệm kỳ hơn 7 triệu thất nghiệp, tỉ lệ hơn 7%. Với gói kích cầu không thể nói là tạo create mà phải nói regain mới đúng, còn tỉ lệ thì hiện nay hơn 8%. Có bà nào đó tuyên bố phải than phiền ông W. Bush mãi mãi. Ván cờ thí xe đang diễn nhưng không nên coi thường Cộng Hòa, vì hai chữ liêm sỉ do đó còn lưu trữ tới 3 cựu ngoại trưởng và 1 đủ chiêu thức đối phó (coi lại thắng chỉ vỏn vẹn 500 phiếu Bush-Gore), chiến thuật từ đâu và do ai để chấm dứt tranh cãi này. Học giả, kiến thức… thuyết gia hay vận động tranh cử gia… Ðiều gì cũng vẫn là những tư duy của mỗi người. Hơn kém khó phân biệt trong xã hội dân chủ. Thực tế là sự kiện không chối cãi cũng như lá phiếu vậy thôi. Xin hãy tin nơi Thượng đế, cao cả ngoài thế tục. Cầu nguyện.


Nguyen mat Mat


 


 

Công ơn Lê Thái Tổ

 


Ngô Nhân Dụng


 


Một vị giáo sư dậy Việt ngữ báo tin sẽ cho các em học sinh lớp lớn học bài Bình Ngô Ðại Cáo; một phản ứng rất khích lệ. Ông cũng cho biết bài trước trong mục này đã viết nhầm câu “Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn” thành ra “Ðem đạo nghĩa…”


Người Việt Online đã sửa lại, nay xin đính chính với quý vị độc giả báo in. Chữ “Ðại” mới đối với chữ “Chí” trong câu sau:Lấy chí nhân mà thay cường bạo. Ai có học văn chương cổ điển đều biết chữ Ðạo không thể dùng đối với chữ Chí. Chép sai như vậy thật là có tội với tác giả và dịch giả.


Ðể các bạn trẻ thời nay thông cảm với bài văn Nguyễn Trãi viết năm 1427, cần giải thích cho các em biết bối cảnh lịch sử đưa tới bản tuyên ngôn độc lập thứ nhì của dân tộc Việt Nam – bản tuyên ngôn trước đó, còn giữ lại được, là bốn câu thơ của Lý Thường Kiệt, ông nói đã được Thần sông Như Nguyệt đọc cho nghe.


Cuộc kháng chiến chống quân Minh thành công năm 1428 là một bước quyết định trong lịch sử dân Việt Nam. Nếu dân Việt không đuổi được quân Minh thì không biết bây giờ còn nước Việt Nam hay không. Dân Việt vẫn tồn tại sau khi trải qua hơn một ngàn năm bị người Trung Hoa đô hộ, kể từ năm 179 khi Triệu Ðà chiếm nước Âu Lạc, cho tới năm 939, khi Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Ðằng. Trong thời gian hơn mười thế kỷ đó, các chính quyền bên Trung Quốc đã cố ý đồng hóa biến dân Việt thành người Trung Hoa, giữ nguyên miền đất họ đặt tên là Giao Chỉ, Giao Châu nằm trong đế quốc nhà Hán, nhà Ðường.


Lần sau cùng một triều đình Trung Quốc chiếm nước ta với ý định thi hành một chính sách đồng hóa khắc nghiệt, áp dụng từ trên xuống dưới, là Minh Thành Tổ (làm vua từ 1403 đến 1424). Ông ta sai hai tướng Trương Phụ và Mộc Thạnh cầm quân đánh nước ta vào năm 1406. Tháng Sáu năm sau, họ đổi nước Ðại Việt thành quận Giao Chỉ thuộc đế quốc Ðại Minh.


Ðể cho dân Việt hết nhân tài, nhà Minh bắt đem về Trung Quốc những người nào thông minh, học giỏi, viết chữ đẹp, làm tính giỏi, nói năng hoạt bát, tướng mạo khôi ngô, khỏe mạnh, giỏi nghề đi biển, làm gạch, làm hương, vân vân, đưa về Trung Quốc. Ðây là một hình thức cưỡng bách “xuất não” (brain drain) hiếm có trong lịch sử các đế quốc.


Muốn rửa sạch đầu óc dân tộc Việt để họ biến thành người Trung Hoa, vua nhà Minh bắt người Giao Chỉ phải thay đổi phong tục. Phụ nữ phải mặc áo ngắn quần dài như người Minh, không được mặc váy là y phục cổ truyền của người Việt và dân miền Ðông Nam Á. Người Minh còn cấm người Việt không được ăn trầu, một thói quen cũng của dân vùng Ðông Nam Á. Chúng ta biết đến thế kỷ 20 phụ nữ Việt Nam vẫn mặc váy, nhuộm răng đen, ăn trầu. Nhưng tàn bạo nhất là chủ trương hủy hoại tất cả các di sản văn hóa của dân Ðại Việt. Minh Thành Tổ viết thư ngày 21 Tháng Tám 1406 ra lệnh Trương Phụ: “Trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài ra hết thảy mọi sách vở, văn tự cho đến cả những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ… một mảnh chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia đá do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn.” Vua nhà Minh còn gửi một văn thư thứ nhì, khiển trách các tướng là không giữ đúng lệnh bắt quân sĩ phải “đốt ngay tại chỗ” vì vẫn thấy có đứa tịch thu sách đem về nộp! Ngày nay chúng ta gọi hành động này là “diệt chủng văn hóa”.


Sử gia Ngô Sĩ Liên, trong Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, in năm 1479, viết về tai họa đốt sách: “…sách vở cả nước thành đống tro tàn.” Lê Quý Ðôn (1726-1784) kể lại rằng sau khi đuổi được quân Minh, “các bậc danh Nho như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Phan Phu Tiên cùng nhau sưu tầm các sách vở giấy tờ, nhặt nhạnh từng tờ giấy còn sót lại; … mười phần chỉ còn bốn năm phần.”


Minh Thành Tổ làm vua trong một giai đoạn thịnh trị nhất của Trung Quốc. Trước đây 600 năm, họ đã tổ chức những cuộc hành trình của Ðô Ðốc Trịnh Hòa (1371-1433) thường đi hơn 50, 60 chiếc tàu, chở theo hơn 27 ngàn người; họ đi vòng quanh Ðông Nam Châu Á, ghé Ấn Ðộ, bán đảo Á Rập, qua tận Phi Châu, tới đâu tặng quà và mua các sản phẩm mới lạ đem về. Ði như thế tất cả bảy chuyến trong 30 năm, cho thấy sức mạnh kinh tế và quân sự của họ như thế nào. Nếu dân Việt tiếp tục bị quân Minh họ đô hộ, cho tới lúc nhà Minh bị người Mãn Thanh lật đổ vào thế kỷ 17, thì không biết bây giờ còn nước Việt Nam, còn dân tộc Việt Nam hay không?


Kể từ lúc quân nhà Ðường, nhà Hậu Lương, Nam Hán phải rút khỏi bờ cõi nước ta, cho tới đời nhà Minh đã cách nhau năm thế kỷ. Vậy mà một ông hoàng đế Trung Hoa vẫn chưa bỏ qua tham vọng quay trở lại, chiếm đóng nước ta vĩnh viễn. Lại có kế hoạch đào hết gốc rễ, xóa bỏ hết văn hóa dân Việt, nhắm mục đích đồng hóa tất cả! Năm thế kỷ tưởng là dài, nhưng vẫn không làm cho các hoàng đế Trung Hoa quên giấc mộng làm chúa tể cả thiên hạ, tức là tất cả các thứ nằm dưới bầu trời! Cho nên không trách từ đó tới nay, người Việt biết mình cứ phải luôn luôn đề phòng một ông Minh Thành Tổ thứ hai hay thứ ba lại làm chúa tể ở Bắc Kinh! Sáu trăm năm vừa qua đã có bao nhiêu người cầm đầu Trung Quốc lại ôm giấc mộng Minh Thành Tổ? Thời 1940 nhà cách mạng Lý Ðông A đã đọc tài liệu nội bộ trong giới sĩ quan Quốc Dân Ðảng Trung Hoa đề cập đến mưu đồ biến Việt Nam thành một vùng của Trung Quốc. Thời nay vẫn có những người viết mạng bày kế hoạch chiếm Việt Nam lần nữa!


Mối lo ngại của người Việt có lý do thực tế. Vì các chính quyền Trung Quốc đã xâm chiếm và đồng hóa các sắc dân khác chung quanh nước họ từ lâu rồi. Trước khi xâm lăng các nước ở phía Nam, lãnh thổ của nhà Tần chỉ bằng một phần tư đến một phần ba diện tích Trung Quốc bây giờ; chính sử gia Triệu Ðinh Dương ở Bắc Kinh xác nhận như vậy. Sau đó, người Hoa đã xâm chiếm và đồng hóa tất cả các sắc tộc ở phía Nam, phía Tây. Các dân tộc Tây Tạng, Uighur, Mông Cổ đã bị cưỡng bách sát nhập nước Tàu. Ðến bây giờ Bắc Kinh còn vu cáo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một người cầm đầu một “phong trào Tây Tạng ly khai” tách khỏi Trung Quốc. Tây Tạng vốn là một quốc gia cổ với một nền văn hóa lâu đời khác hẳn người Hán, đã xung đột và ký hiệp ước phân định biên giới với vua nhà Ðường vào thế kỷ thứ tám, vua hai nước nhận làm anh em. Họ chỉ bị nhà Mãn Thanh chiếm đóng từ thế kỷ 17; nhưng đến thế kỷ 20 lại tuyên bố độc lập! Nói người Tây Tạng đòi ly khai thì cũng giống như người Trung Hoa nói Việt Nam cũng là một phần của Trung Quốc; mới “ly khai” từ thế kỷ thứ 10! Nếu không sớm ly khai, thì bây giờ Việt Nam còn là một tỉnh; hoặc thấp hơn, chỉ là một huyện trong tỉnh Quảng Ðông hoặc Hải Nam, có thể nằm chung trong huyện Tam Sa vậy!


Tất nhiên, chúng ta tin rằng nếu cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi thất bại sau 10 năm đánh giặc thì sau đó chắc chắn còn những ông họ Lê, họ Nguyễn, họ Trần… khác theo nhau lãnh đạo dân nổi dậy giành độc lập. Bởi vì dân Việt đã sống dưới các triều đại trước của Trung Quốc trong hơn mười thế kỷ mà vẫn không bị đồng hóa, thì không lý nào sau khi đã quen sống độc lập năm thế kỷ người mình lại yếu hèn hơn, nhu nhược hơn mà chịu ách đô hộ mãi mãi. Nhưng công đức Vua Lê vẫn lớn lao không thể nào quên được.


Nhờ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi giành lại quyền tự chủ sau 10 năm chiến đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát nạn đồng hóa, không biến thành một tỉnh của Trung Quốc. Cho nên ngày kỷ niệm Lê Thái Tổ phải tổ chức như một ngày hội lớn, mở hội ăn mừng dân tộc tái sinh! Trong dịp này, mọi người cùng nhau đọc lại bài Bình Ngô Ðại Cáo, vừa để tỏ lòng biết ơn tổ tiên, vừa ôn lại lịch sử dân tộc và nuôi lòng yêu nước trong giới thanh niên. Lòng yêu nước là một tình cảm tự nhiên, không ai cần phải đi xin cấp giấy phép yêu nước bao giờ! Bao giờ thanh niên nước ta biết như vậy, muốn được thể hiện lòng yêu nước một cách nhiệt thành, lúc đó tương lai mới sáng sủa!

Tin mới cập nhật