Tại sao Việt Nam sợ biểu tình chống Trung Quốc?

 


Nguyễn Hưng Quốc (VOA)


 


Trước các cuộc biểu tình của dân chúng nhằm phản đối những hành động gây hấn và lấn chiếm biển đảo ngang ngược của Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam có một chủ trương rõ rệt và bất khoan nhượng: Cấm.


Nếu không cấm được thì dẹp. Dẹp bằng nhiều biện pháp: một, đánh đuổi hay đạp vào mặt; hai, lùa lên xe buýt chở về đồn công an để khủng bố tinh thần; và ba, nếu ngoan cố, vu cho một tội gì đó rồi bắt giam hoặc lùa vào các trại phục hồi nhân phẩm.


Nhà cầm quyền thừa hiểu những chủ trương như vậy là thiếu khôn ngoan. Thứ nhất, chúng gây phẫn nộ cho nhân dân, ngay cả những người đã từng là đảng viên và đã từng tham gia các cuộc chiến tranh do Cộng sản lãnh đạo trước đây. Thứ hai, chúng tạo nên những ấn tượng cực kỳ xấu trong lòng quần chúng về hình ảnh của đảng và chính quyền: một, giữa Trung Quốc và nhân dân, họ sẵn sàng hy sinh nhân dân để làm vừa lòng Trung Quốc; hai, giữa đảng và dân tộc, họ sẵn sàng hy sinh dân tộc để bảo vệ quyền lợi của đảng. Thứ ba, như hậu quả của cả hai điều trên, dưới mắt dân chúng, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền biến thành những kẻ hèn hạ và đang toan tính việc bán nước cho Trung Quốc.


Không thể nói nhà cầm quyền Việt Nam không biết những điều đó. Chúng quá hiển nhiên.


Biết, nhưng tại sao họ vẫn cấm và vẫn cương quyết dẹp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc?


Lý do, một cách chính thức, họ nêu lên là: Những cuộc biểu tình ấy gây trở ngại cho các nỗ lực đàm phán để tìm một giải pháp hòa bình với Trung Quốc. Nhưng một cách không chính thức, họ rỉ tai dân chúng: những cuộc biểu tình như thế có thể khiến Trung Quốc nổi giận, từ đó, có thể tấn công Việt Nam.


Nền tảng của những lập luận ấy là: Sợ. Nền tảng của cái sợ ấy là: Hèn. Nền tảng của cái hèn ấy là: Thiếu lòng yêu nước và sự tự hào dân tộc.


Tuy nhiên, vấn đề đáng cho chúng ta bàn luận là những lập luận ở trên có hợp lý hay không?


Theo tôi, hoàn toàn không.


Thứ nhất, dù có điên khùng đến mấy, Trung Quốc cũng không thể phát động chiến tranh xâm chiếm Việt Nam chỉ vì lý do dân chúng Việt Nam xuống đường biểu tình chống lại họ. Trong thời đại ngày nay, người ta có thể đem quân đánh dẹp một chính phủ, nhưng không ai dám tuyên bố đem quân để đánh dẹp nhân dân của một nước khác. Làm như thế, người ta không những chỉ là tội phạm chiến tranh mà còn là tội phạm diệt chủng.


Thứ hai, nhà cầm quyền muốn đàm phán với Trung Quốc nhưng họ lấy gì để thuyết phục được Trung Quốc trong các phòng họp? Ai cũng biết sức mạnh trên bàn hội nghị không nằm ở mớ giấy tờ. Có trưng ra bao nhiêu tấm bản đồ xưa cổ chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam thì cũng vô ích. Trung Quốc đã thừa biết những điều đó từ lâu rồi. Ðảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thừa kinh nghiệm trong việc đó: Những yếu tố quyết định chiến tranh Việt Nam trước năm 1975 không diễn ra ở các cuộc họp tại Paris mà là trên chiến trường Việt Nam; và yếu tố quyết định chiến trường ở Việt Nam không phải ở súng đạn mà là ở lòng dân Việt Nam, ở cả hai miền Nam và Bắc, cũng như lòng người, kể cả người Mỹ và người dân các nước Tây phương nói chung. Bây giờ, ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc với tư thế của những kẻ đạp vào mặt nhân dân, xua đuổi nhân dân và không sớm thì muộn cũng bị nhân dân xua đuổi, họ lấy gì để tăng thêm sức mạnh cho các lập luận của họ? – Không có gì cả!


Tổng Thống Benigno Aquino của Philippines hiểu rõ điều đó. Ngày 23 tháng 7 vừa qua, trước các hành động gây hấn của Trung Quốc, ông đã có bài phát biểu quan trọng trước Quốc Hội, trong đó, ông kêu gọi dân chúng đoàn kết trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Philippines, dù trên những hòn đảo nhỏ nhoi và xa xôi nhất. Ông lập luận: “Nhiều người bảo chúng ta nên bỏ qua việc Bajo de Masinloc [tức bãi cạn Scarborough]; chúng ta nên tránh phiền phức. Nhưng nếu có ai vào vườn nhà bạn, bảo với bạn đó là vườn của hắn, bạn có đồng ý hay không? Liệu có đúng không việc chúng ta cho người khác những gì vốn thuộc về chúng ta một cách chính đáng?” Rồi ông kêu gọi: “Tôi kêu gọi nhân dân đoàn kết về vấn đề này. Chúng ta hãy nói cùng một tiếng nói. Hãy giúp tôi chuyển đến phía bên kia [Trung Quốc] những lý lẽ trong lập trường của chúng ta.”


Xin lưu ý đến câu cuối cùng vừa dẫn: “Hãy giúp tôi chuyển đến phía bên kia [Trung Quốc] những lý lẽ trong lập trường của chúng ta” (Help me relay to the other side the logic of our stand.) Dĩ nhiên, Aquino không cần dân của ông làm những thông tín viên hay liên lạc viên. Những gì ông muốn nói với Trung Quốc, ông có thể nói thẳng. Ðiều ông nhờ ở dân chúng là làm tăng trọng lượng cho tiếng nói của ông để Trung Quốc hiểu đó không phải là lập trường của cá nhân ông mà là lập trường của cả nước Philippines.


Benigno Aquino hiểu điều đó.


Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại không hiểu?


Như vậy, việc cấm đoán biểu tình chống Trung Quốc hẳn phải xuất phát từ những lý do khác. Chứ không phải những gì họ đã nói. Một cách chính thức hay không chính thức như đã nêu lên ở đầu bài viết này.


Lý do thực sự ấy là gì?


Câu trả lời, xin nhường lại cho các bạn.

Làm sao giúp đỡ thương binh VNCH?

 


Về “Xin mỗi gia đình người Việt tỵ nạn bảo trợ cho một thương binh VNCH”


Xin cho biết tôi phải liên lạc với ai, số điện thoại nào để có thể bảo trợ cho một người thương binh VNCH. Bài viết quá hay và quá cảm động nhưng phần cuối lại thiếu chi tiết quan trọng này nên đề nghị nhà báo Huy Phương bổ túc thêm cho mọi người cùng hưởng ứng lời kêu gọi chính đáng của ông. Nếu tôi nhớ không lầm cô Dương Nguyệt Ánh đã nói một câu đại loại như vầy, “Thương binh VNCH là những chủ nợ mà không bao giờ đi đòi nợ còn chúng ta là người mang nợ nhưng lại quên trả.”


NVYN


 

Song Thao, phiếm

 


Du Tử Lê


 


Tôi vẫn nghĩ, người Việt Nam không chỉ có truyền thống thích thơ, yêu thơ và, đa số trong đời, ít nhiều cũng có đôi lần làm thơ, dù phổ biến hay không. Mà, người Việt Nam còn có tinh thần trào phúng mạnh mẽ, không kém cạnh gì tinh thần yêu thi ca.










Nhà văn Song Thao. (Hình: Võ Văn Thạnh)


Thiết tưởng, cũng từ truyền thống trào phúng của người Việt, nên phần nào đặc tính này đã góp phần bảo vệ chủ quyền đất nước, chống trả những cuộc tấn công, xâm lăng của ngoại bang.


Thí dụ khi người Tầu tấn công, thôn tính Việt Nam, dân gian đã gắn cho quân Tầu những hình ảnh xấu xa, khinh miệt như “Tầu Phù,” “Tầu Ô,” “Thằng Tầu.” Ở miền Nam, dù người Việt và người Tầu có nhiều năm chung sống êm đềm, nhưng dân gian vẫn gắn cho họ một tên gọi xách mé như “Ba Tầu,” hoặc “Chệt.”


Cũng vậy, khi người Pháp đặt ách thống trị lên đầu, lên cổ dân tộc Việt Nam thì, dân gian cũng có ngay những danh từ biếm nhẽ, để chỉ họ, như “Bạch quỷ” hay “Tây mũi lõ,” “Tây cà lồ.”


Và dù ở miền nào thì người dân Việt Nam cũng dùng chung một tiếng “Thằng” để chỉ tất cả quân ngoại nhập ấy.


Bên cạnh đó, theo tôi, cũng đáng kể không kém, trong mục đích duy trì nòi giống, chống quân xâm lược, người dân Việt đã gọi những phụ nữ (trước đây,) lấy chồng Tầu, Pháp hoặc Mỹ là “Me.” Như “Me Tầu,” “Me Tây,” “Me Mỹ.”


Nói rõ hơn, dù thuộc dân tộc nào thì, tinh thần trào phúng vẫn là một thứ võ khí tinh thần đáng kể, hữu hiệu của kẻ yêu, chống lại kẻ mạnh. Cũng chính từ sự coi khinh kẻ xâm lăng hay quân ngoại nhập, in sâu trong tiềm thức người dân mà, trước đây, nếu so sánh với các dân tộc khác, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam có chồng thuộc hàng ngũ quân xâm lược, rất thấp. (1)


Không người phụ nữ Việt Nam bình thường nào, muốn bị xã hội gọi họ bằng hai chữ “Me Tầu,” “Me Tây,” hoặc “Me Mỹ.” Cực chẳng đã, người phụ nữ Việt Nam mới phải cắn răng, cúi mặt, đeo lên ngực mình chữ “Me” đầy rẻ rúng, bị xã hội xa lánh. Hầu hết phụ nữ Việt Nam trước đây, cương quyết không lấy chồng ngoại quốc, ở một khía cạnh nào đó, cũng là một hình thái bảo vệ, duy trì nòi giống Việt. (1)


Tinh thần hay truyền thống trào phúng của người Việt thể hiện rất rõ trong văn chương Việt từ thời ca dao cho tới hiện tại. Rất nhiều tác giả nổi tiếng, có thơ trào phúng được lưu truyền tới bây giờ. Ðiển hình như tất cả thơ của Tú Xương (ngoại trừ bài “Gọi Ðò.”) (2)


Kế tiếp Tú Xương, chúng ta có thơ trào phúng của Tú Mỡ, rồi Tú Kếu… Về văn xuôi, chúng ta có rất nhiều phóng sự hoạt kê của nhiều tác giả nổi tiếng mà, sâu sắc nhất tính đến hôm nay, vẫn là những tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng Phụng. (3)


Tuy nhiên, xét về phương diện số lượng (tôi nhấn mạnh, số lượng) thì, có dễ chưa một tác giả nào, từ quá khứ tới hiện tại, có nhiều tác phẩm thuộc loại trào phúng như nhà văn Song Thao. Trong thực tế, có tác giả có số lượng chuyện trào phúng nhiều hơn Song Thao. Nhưng những tác giả đó, không gom tất cả bài viết của họ để in thành sách. Nên, theo tôi, Song Thao là người có số lượng bài trào phúng nhiều nhất hiện nay.


Chọn từ ngữ ngắn, gọn, rất phổ biến hiện nay là “phiếm,” Song Thao đã xuất bản tập “Phiếm” thứ 10, cách đây vài tháng.


Chỉ trong vòng trên dưới 10 năm, với 10 tập chuyện phiếm mà, trung bình mỗi tập dầy khoảng 500 trang, nhân lên, chúng ta có 5,000 trang sách… phiếm. Tôi e kỷ lục này, khó tác giả nào, có thể vượt qua. Nhất là Song Thao vẫn chưa cho thấy một dấu hiệu… mệt mỏi, hay muốn ngưng nghỉ bài hát “đường trường xa!”


Cách đây khoảng 2 năm, khi Song Thao loan báo đã cho lên khuôn tập “Phiếm” thứ 8, tôi tình cờ đọc được một bài viết về “võ công” viết phiếm của “đệ nhất cao thủ… Phiếm” này.


Có dễ bài viết hay bản tin của tác giả vừa kể, đã cố tình nhái theo tính cách phiếm… loạn của Song Thao, nên tôi cho đấy cũng là một bản tin văn nghệ khá đặc biệt:


“Từ một người viết truyện ngắn (may quá, hình như ông không làm… thơ. May quá!) nhà văn Song Thao, trong vòng trên dưới một thập niên, đã chuyển sang viết… phiếm.


“Sự thành công liên tiếp của ông, trong lãnh vực mới này, qua những tập phiếm dày cui và, những chuyện phiếm được nhiều trang mạng, cũng như báo giấy đăng tải (có và quên trả tiền nhuận bút,) đã biến ông thành một thứ “siêu sao” trên sân khấu… phiếm loạn. (4)


“Ông phối hợp võ công hư ảo của Ba Tư và, chưởng lực kỳ bí của Tây Vực (nói theo chuyện chưởng của Kim Dung,) đã giúp ông sớm thành một trong những cao thủ trên ‘võ đài phiếm’ hải ngoại.


“Với sự tiếp tay của các ‘kiếm khách bịt mặt’ như Kha Trấn Ác/Luân Hoán, Trang chủ Cà Na Trang/Hoàng Xuân Sơn… chỉ trong vòng ít năm, “Phiếm chủ” Song Thao đã lưu lại giang hồ 7 ‘kỳ tích’ cực kỳ ‘hoành tráng.’ Kỳ tích nào của ông cũng rộng lớn về không gian, cũng như số… trang!


“Với đủ thứ võ công… cười. Từ cười mỉm chi, cười nửa miệng, cười nắc nẻ (như bị cù léc,) tới cười… nhạt và, luôn cả ‘cười không nổi…’’ dư luận đồn dãi rằng nhà văn của chúng ta đã tậu được tới mấy ‘ô tô con,’ để di chuyển đó đây. Thay vì ông phải ‘vận cước đằng vân’ và… hú ầm ầm như đại ca Dương Qua!


“Tôi cho rằng ‘Phiếm chủ’ Song Thao từ chối biểu dương võ công kiểu này, cũng tốt thôi! Bởi vì nó vừa bớt hao tổn chân khí (vốn không còn được bao nhiêu,) lại vừa đỡ mất thì giờ (cũng còn khá ít;) chưa kể, loạng quạng, có khi trúng ám khí của các nữ hiệp thì, sẽ thập phần… mất vui!


“Theo một nguồn tin yêu cầu ‘quên tên tôi đi’ cho biết, trong năm Canh Dần, (cọp không phải đàn bò vào thành phố,) ‘Phiếm chủ’ Song Thao sẽ tung vào thế giới sách vở đang ‘xuống cấp can không nổi,’ ‘phiếm chưởng’ thứ tám của ông.


Nghe đâu, lần này, ngay ở bìa sách, tác giả sẽ cho ‘chạy’ một ‘xì lô găng,’ rằng:


“Bảo đảm nếu không cười, được hoàn lại tiền… tươi!”


“Vẫn theo nguồn tin này thì ngay sau đấy, nhà văn Song Thao lại khẳng định:


“Cười hay… nhăn thì cũng một nghĩa như nhau mà thôi…


“Nghĩa là chúng tôi ‘bố cáo’ trước rằng, chúng tôi sẽ từ chối việc ‘hoàn lại tiền’ đấy, quý vị ạ…”


(5 tháng 8, 2012)


 


Chú thích:


(1) Chúng tôi cố tình nhấn mạnh hai chữ “trước đây” vì sau này, cùng với thời gian, tinh thần chống lấy chồng ngoại của người Việt đã thay đổi.


(2) Nhà thơ Tú Xương, tên thật Trần Tế Xương. Ông sinh ngày 5 tháng 9, 1870, tại Nam Ðịnh. Ông mất ngày 29 tháng 1, 1907, cũng tại Nam Ðịnh. Có tư liệu gần đây, ghi nhận rằng bài “Gọi Ðò” được Tú Xương viết sau khi nhà cách mạng Phan Bội Châu ghé thăm ông.


(3)Nhà văn Vũ Trọng sinh ngày 20 tháng 10, 1912 tại Hưng Yên. Ông mất ngày 13 tháng 10, 1939 tại Hà Nội, khi mới 27 tuổi..


(4) Nhà văn Song Thao tên thật Tạ Trung Sơn, sinh năm 1938 tại Hà Nội. Cùng gia đình, ông hiện cư ngụ tại Montreal, Canada.

Tâm hồn người, thơ văn ta

 


Viên Linh


 


Tâm hồn người, thơ văn ta là một cách nói, nói một cách khác là thơ văn người dịch ra tiếng Việt. Thời chia cách đất nước 1954-1975, miền Bắc hé mở ra thế giới bằng vài ba cánh cửa hẹp, cánh cửa Bắc Kinh và cánh cửa Ðông Âu; trong khi tại miền Nam, không có một giới hạn nào, miền Nam mở ra thế giới bằng tất cả mọi phương hướng không gian, không một giới hạn.









Dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu và nhà văn Henry Miller (1891-1980) tại tư gia của ông ở Big Sur, Calif, năm 1980. Miller là tác giả một văn phẩm mà Nguyễn Hữu Hiệu dịch là “Thời Của Những Kẻ Giết Người” đã in trên Khởi Hành trước 1975. (Hình: Tài liệu của Viên Linh)


Cho nên một miền thì quanh quẩn với những lốp tốp mao vũ, ngô nghê và ngốc nghếch, một miền thì tràn ngập hương hoa thế giới. Nhìn lại hai mươi năm ấy, hàng ngàn tác phẩm hoàn vũ bày la liệt trong các nhà sách từ Sài Gòn tới Huế, từ Cần Thơ Vĩnh Long tới Pleiku Ban Mê Thuột, và nếu phải kể vài chục ví dụ, thì không sao kể nổi, vì không ai có thể lựa ra vài chục trong số cả chục ngàn cuốn sách đã dịch ra Việt ngữ, để làm ví dụ. Nhưng tạm thời, ngó qua các tờ báo văn học nổi tiếng miền Nam, kể tên vài chục dịch giả được hâm mộ, chúng ta có thể làm được. Bài này được viết, trong tinh thần Thời sự Nhân văn, là nhân Nhật báo Người Việt hôm Thứ Bảy vừa qua đã khởi đăng một danh phẩm của thế giới dịch ra tiếng Việt: cuốn “Alexis Zorba” của nhà văn Hy lạp Nikos Kazantzakis do Nguyễn Hữu Hiệu dịch ra Việt ngữ, nhan đề “Alexis Zorba, Con Người Chịu Chơi.”


Dịch giả đã mệnh danh tác giả là “Triết gia Nietzsche Ðịa Trung Hải,” và nhân vật của ông là “con người chịu chơi” (homo ludens), khác với “con người tri thức” (hay khôn ngoan) “homo sapiens” hay “con người lao tác” (homo faber). Ðó là con người với sức sống tràn lan, là niềm đam mê cuộc đời, khác với hai mẫu người kia, trang nghiêm nghèo nàn và cồi cọc suy đồi. Dịch giả cũng từng giới thiệu tác giả một cách đầy đủ – sau này ra hải ngoại cũng từng thư từ với bà Nikos Kazantzakis và bản Việt ngữ cuốn “Alexis Zorba” là một trong năm (5) bảo vật khi người ta vận động thành lập bảo tàng viện mang tên ông ở Hy lạp. Tác giả Nikos Kazantzakis sinh năm 1885 ở Crete, tốt nghiệp tiến sĩ Luật ở Athenes, học Triết ở Paris với Henri Bergson, bộ trưởng Giáo Dục Hy lạp và từng điều khiển cơ quan dịch thuật của tổ chức Giáo Dục Khoa Học và Văn Hóa UNESCO Liên Hiệp Quốc. Ông mất vào tháng 10, 1957 tại Ðức. Tác phẩm này của ông đã được quay thành phim Zorba The Greek với Anthony Quinn, cũng như gần đây người ta dựng thành phim một cuốn khác của ông: The Last Temptation of Christ. Bản thân tác giả cũng là dịch giả khi ông dịch The Divine Comedy (Hài Kịch Thánh Thần) của Dante hay Faust của Goethe sang tiếng Hy Lạp. Kazantzakis còn viết thêm 33,333 câu thơ tiếp theo cuốn Odyssey của Homere, một thêm thắt kinh khủng, chưa từng có trong lịch sử văn học thế giới.


Hôm 8 tháng 3, 2011, khi Phạm Công Thiện lìa đời, chủ bút Phạm Phú Thiện Giao có nhờ tôi viết một bài ngắn, bài này đã đăng trên trang nhất Người Việt vào hôm sau. Trong bài có nhắc đến những người đã góp phần đưa thế hệ hai mươi tuổi thuở giữa thập niên ’60 “trở về với suối nguồn tư tưởng Phương Ðông,” sau chín năm miền Nam trở thành chật hẹp với không khí Tây tà ngột ngạt. “Sinh hoạt văn hóa miền Nam, thu nhỏ vào lãnh vực Văn học và Triết học, và giới hạn từ 1963 trở đi, đã tưng bừng phát triển, như hải triều, như thác đổ, phá vỡ những oi nồng của một thời kỳ ung độc,… là công lao chung của một nhóm thanh niên trí thức đã xuất gia: Nhóm Vạn Hạnh. Nhóm trẻ tuổi năm bảy người ấy xông xáo trong các tờ tạp chí văn hóa, nơi những nhà xuất bản tôn giáo, dưới mái các giảng đường cao đẳng, vui sống và làm việc, học và hành, tung ra bốn phương những hoa thơm cỏ lạ, những tác phẩm chan chứa tình yêu thương, yêu thương con người nhân loại và nhân bản, tràn đầy hy vọng và tin tưởng… Như xa xưa nơi phương Bắc thời các tay tứ chiếng giang hồ tìm về Lương Sơn Bạc mưu chuyện đổi thay, họ tìm về Cao Ðẳng Phật Học và Vạn Hạnh dựng nền đắp móng đời sống Việt. [Họ] là “Tây Ðộc” Phạm Công Thiện, “Ðông Tà” Tuệ Sỹ, Chơn Hạnh “Trung Thần Thông,” Chơn Pháp “Bắc Cái,” Nghi Lâm sư muội Trí Hải… và “Chu Bá Thông” Bùi Giáng… Chơn Pháp “Bắc Cái” chính là Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu, trưởng Ban Tu Thư Viện Ðại Học Vạn Hạnh, dịch giả của “Alexis Zorba, Con Người Chịu Chơi.” Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Triết Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn, sau lấy thêm Sanskrit (Phạn ngữ) và Ðức ngữ tại Ðại Học Vạn Hạnh. Ngoài công việc tu-thư trong viện, Nguyễn Hữu Hiệu viết và dịch thường xuyên cho các báo Nghệ Thuật của Mai Thảo, Khởi Hành, Thời Tập của Viên Linh, đã dịch và cho xuất bản toàn bộ Doctor Zhivago của Boris Pasternak, “Tinh hoa và sự phát triển của Ðạo Phật” của Edward Conte, “Tuyết Trên Ðỉnh Kilimandjaro, Người Lính Trở Về,…” của Ernest Hemingway, “Kẻ Tiên Tri” của Kahlil Gibran, “Thời Của Những Kẻ Giết Người,” nghiên cứu về Rimbaud của Henry Miller, “Buổi Hoàng Hôn Của Các Thần Tượng Hay Triết Lý Với Cây Búa” của Nietzsche, “Con Ðường Sáng Tạo,” biên khảo, dịch, giới thiệu tư tưởng và quan niệm sáng tác của mười nhà văn thế giới Nietzsche, Rimbaud, H. Miller, Schopenhauer, W. Faulkner, A. Gide, G. Simenon, R.M. Rilke, Emerson và Thomas Wolfe.


Trong các công trình dịch thuật tại miền Nam, bán nguyệt san Văn do Trần Phong Giao chủ trương đứng đầu về số lượng và sự đa dạng của các tác giả. Văn số 1 xuất bản ngày 1 tháng 1, 1964, ngay số 2 ra chủ đề Albert Camus [Pháp].


Sau đây là một khoảng liên tục các số kế tiếp:


Số 5: Những tiếng nói mới trong văn học Nga. Số 7: Stefan Zweig [Áo, Hung]. Số 9: Alberto Moravia [Ý]. Số 12: Guy de Maupassant [Pháp]. Số 15: Tagore [Ấn]. Số 17: Jean-Paul Sartre [Pháp]. Số 19: Andre Maurois [Pháp]. Số 21: Andre Malraux [Pháp]. Số 23: J. Prevert. Số 24: Marie Noel. Số 30: John Steinbeck [Mỹ]. Số 32: Erskine Caldwell [Mỹ]. Số 33: Lâm Ngữ Ðường. Số 37: W. Faulkner [Mỹ]. Số 39: Frank Kafka [Tiệp]. Số 41: E. Hemingway… Cứ như vậy, Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn đã trở thành người phổ biến “Tâm hồn người” hay văn thơ ngoại quốc chuyển ngữ tới với độc giả miền Nam không mệt mỏi. Tạp chí Văn ra được tất cả 245 số, không thể kể hết các số chủ đề văn học thế giới, các tác giả ngoại quốc, nhưng có thể nói là vô cùng nhiều, nhiều hơn hết. Một học sinh hay sinh viên miền Nam sẽ không thiếu tài liệu văn chương nước ngoài, ngay cả khi chỉ đọc Việt ngữ. Nguồn cảm hứng từ thế giới, sự việc và đời sống hoàn vũ, tâm tư và bản sắc các dân tộc, người ta hầu như có thể tìm thấy hết trên báo chí Việt ngữ xuất bản ở miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở đi, thời trước 1975. Có riêng một số khoảng 10 truyện ngắn Hồi Giáo do Mặc Ðỗ chọn và dịch. Số 63 chủ đề Tuyển truyện Ðại Hàn. Số 109 nhà thơ nhà văn Asturias của Guatemala. Số 122 nhà văn Nhật Yasunari Kawabata, v.v…


Các dịch giả miền Nam như thế hẳn là nhiều? Thực ra không nhiều lắm, nhưng không phải là ít. Có một số người dịch tài tử, số này thì nhiều. Một số khác chỉ dịch theo sở thích, song có những dịch giả chuyên nghiệp, những người uy tín và những người nổi tiếng, hay thượng thặng. Có những dịch giả là những người khoa bảng, họ dịch thì tương đối hẳn là chính xác, song chính xác không có nghĩa là hay. Cạnh đó có vài kẻ cơ hội, xào nấu được một cuốn sách, nhưng in ngoài bìa là “dịch” từ nguyên tác nước ngoài! Ðiều này nêu ra chỉ để nhấn mạnh: sách dịch ở miền Nam bán rất chạy, và dịch giả rất được trọng vọng. Việc dịch thuật tâm hồn và truyền bá nhân sinh quan giữa các sắc dân, qua sự chuyển ngữ, hẳn nhiên là một trong những việc cao quí xứng đáng được chúng ta trọng vọng.

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 6)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 6


 


Tôi dừng lại giây lát và ngắm nhìn. Nỗi cô liêu thiêng liêng trải rộng trước mặt tôi, u hoài, nhưng quyến rũ, như sa mạc. Bài thơ Phật giáo bốc khỏi lên mặt đất và len lỏi vào trong tận đáy lòng tôi.


Bao giờ sẽ rút vào trong cô liêu, đơn độc, không bạn đồng hành, không vui mà cũng chẳng buồn, với một niềm xác tín thiêng liêng duy nhất rằng tất cả chỉ là giấc mộng? Bao giờ quần áo tả tơi – không dục vọng – tôi sung sướng ẩn mình trong núi? Bao giờ thấy rằng thân thể chỉ là bệnh hoạn và tội lỗi, già lão và tử diệt – tự do, không sợ hãi đầy hân hoan, – tôi sẽ rút vào rừng? Bao giờ? Bao giờ? Bao giờ?


Zorba lại gần, santuri cặp dưới nách.


– Mỏ than bùn kia! Tôi nói để che giấu cảm xúc. Và giơ tay về phía ngọn đồi giống như khuôn mặt đàn bà.


Nhưng Zorba cau mày không ngoái lại.


– Ðể sau sẽ hay. Bây giờ chưa phải lúc, thưa ông chủ, hắn nói. Trước hết, phải chờ trái đất ngừng. Nó hãy còn tròng trành, con chó, nó tròng trành như một con tầu say, con đĩ chó. Chúng ta hãy vào trong làng.


Nói đoạn hắn rảo bước đi.


Hai đứa trẻ đi chân đất, sạm đen như dân Ả Rập chạy tới và đỡ va-li. Một nhân viên quan thuế to lớn, mắt xanh đang rít ống điếu trong căn lều dùng làm trụ sở quan thuế. Hắn liếc mắt nhìn chúng tôi, uể oải đưa mắt nhìn mấy cái va-li, cựa quậy một chút trên ghế như để đứng dậy. Nhưng hắn không có can đảm. Hắn chậm rãi nâng cái xe điếu lên và nói bằng giọng còn ngái ngủ:


– Chào các ông!


Một trong hai đứa trẻ lại gần tôi. Nó nháy cặp mắt xanh màu ô-liu:


– Chả không phải dân Crete đâu! Nó nói, giọng chế nhạo. Trông chả làm biếng quá!


– Dân Crete không làm biếng sao?


– Họ làm biếng… phải, họ cũng làm biếng… đứa trẻ Crete trả lời, nhưng làm biếng cách khác.


– Làng có xa đây không?


– Ngay kia! Bằng một tầm đạn! Kìa, sau những vườn cây, trong khe suối. Làng đẹp lắm, ông chủ. Có đủ thú – cây minh quyết, cây đậu ván, đậu Hòa Lan, dầu, rượu vang. Còn đằng kia, trong đụn cát, dưa chuột, cà tô mát, cà và dưa hấu sớm nhất ở Crete. Gió Phi Châu làm cho chúng mau lớn, ông chủ. Nếu ông chủ ngủ trong vườn cây ăn trái ban đêm, ông chủ sẽ nghe thấy chúng nó kêu: rắc! rắc! Và lớn như thổi.


Zorba đi trước, hơi xiên lệch. Ðầu óc hắn hãy còn choáng váng.


– Cố gắng lên, Zorba! Tôi gọi với. Chúng ta thoát nợ rồi. Không việc gì phải sợ hết.


Chúng tôi đi nhanh. Ðất cát trộn lẫn với vỏ sò vỏ ốc. Thỉnh thoảng có một cây tân-hà-liễu, một cây vả dại, một bụi cói, một vài cây thảo-bản bông vàng hắc. Không khí ngột ngạt. Mây mỗi lúc một thêm lũng thấp, gió tắt dần.


Chúng tôi đi qua một cây vả lớn thân chẻ đôi, ngoằn ngoèo bắt đầu rỗng ruột vì già cỗi. Một đứa trẻ dừng lại. Nó hất cằm chỉ cho tôi cây cổ thụ.


– Cây vả của Cô! Nó nói.


Tôi sửng sốt. Trên đất Crete này, mỗi hòn đá, mỗi cái cây đều có một lịch sử bi thảm.


– Của Cô! Tại sao vậy?


– Thời ông nội tôi, con gái của một kỳ mục phải lòng một mục đồng. Nhưng cha cô ta không chịu; cô gái khóc lóc, kêu la, van xin lậy lục, nhưng ông già vẫn không đổi ý! Thế rồi một đêm cả hai cô cậu biến mất. Người ta đổ đi tìm, một, hai, ba hôm, một tuần cũng không thấy họ đâu hết! Nhưng họ bắt đầu bị bệnh truyền nhiễm, bởi thế người ta lần theo mùi hôi thối và tìm thấy họ dưới cây vả này, thối rữa, nhưng vẫn ôm ghì lấy nhau. Ông thấy chưa, người ta tìm thấy họ vì mùi hôi thối.


Ðứa trẻ phá lên cười. Chúng tôi nghe tiếng xôn xao trong làng. Chó bắt đầu sủa, đàn bà nói the thé, gà gáy báo hiệu sự thay đổi trong thời tiết. Trong không khí thoang thoảng mùi bã nho bốc lên từ những thùng cất rượu raki.


– Làng đây rồi! Hai đứa nhỏ la lên và lao đầu chạy.


Khi chúng tôi đi vòng hết đồi cát, thôn làng nhỏ hiện ra, cheo leo trên sườn suối nước. Những ngôi nhà thấp, quét vôi trắng, sát vách nhau; và vì những cửa sổ mở làm thành những chấm đen, những ngôi nhà giống như những cái sọ người nêm trong đá.


Tôi theo kịp Zorba.


– Bây giờ chúng ta đã vào đến trong làng rồi, phải để ý lắm đến cách cư xử đấy nhé, Zorba, tôi khẽ ra lệnh cho hắn. Không được để họ nghi ngờ gì hết, Zorba! Mình hãy tỏ ra là những người làm ăn đứng đắn: Tôi là chủ và bác là đốc công. Dân Crete không đùa giỡn đâu, bác phải biết điều đó. Một khi họ để mắt tới mình là họ khám phá ra ngay cái kỳ cục nơi mình và gán cho mình một biệt hiệu. Không có cách nào thoát được. Tựa một con chó chạy rong với cái xoong cột vào đuôi.


Zorba đưa bàn tay to lớn lên vuốt râu và chìm đắm trong suy tư. Sau cùng hắn nói:


– Này ông chủ nếu có một bà góa trong nội địa, ông không việc gì phải sợ cả. Nếu không có…

Eye Care Optometry: Những điều căn bản cần biết về Ortho-k

 


(Bác sĩ Nhãn khoa James Thể Trương, hội viên của Hội Ortho-k của Mỹ OAA, hội viên AOA, COA, OOA, certified in CRT, VST, WAVE Ortho-k…)










 (Hình giác mạc trước và sau khi ép độ cận thị bằng Ortho-k Contact lenses.)


 


 Tại sao trẻ em lại tăng độ cận nhanh hơn người lớn?


Nếu phát triển đúng đắn, mắt của trẻ em ở mức 6 tuổi sẽ khoảng 1 độ viễn thị và ở mức 12 tuổi sẽ khoảng 0.5 độ viễn. Nhưng rất tiếc điều này ít khi xảy ra, do nhiều yếu tố chi phối nên trẻ em thường tăng độ khá nhanh. Rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định điều này.


Năm 1989, nghiên cứu OLSM cho thấy có sự liên quan giữa sự tăng độ của tuổi học trò và nhiều yếu tố như di truyền, sự điều tiết, áp suất mắt và cấu trúc của mắt… (Cấu trúc mắt bao gồm độ cong và độ dầy của giác mạc, độ dài của nhãn cầu, độ điều tiết và áp suất mắt). Tóm lại, ở trẻ em giác mạc còn mỏng manh hơn người lớn, nên dễ bị ảnh hưởng của nhiều tác nhân bên ngoài, dẫn đến tăng độ cận nhanh hơn.


Nghiên cứu CLEERE còn cho thấy rằng, nếu cả hai bố mẹ đều bị cận thì con cái thường có cấu trúc mắt giống người bị cận, do đó dễ bị tăng độ nhanh.


Các nghiên cứu khác nhận định rằng, ngoài yếu tố di truyền, còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng lên sự tăng độ như đọc gần quá (số lượng, cường độ, khoảng cách, góc độ nghiêng và nghỉ mắt tạm thời khi đọc sách), ánh sáng, trình độ học vấn, ở thành thị hoặc nông thôn, dinh dưỡng, thói quen sinh hoạt trong gia đình và những hoạt động ngoài trời… Vì thế, độ cận thị ít xảy ra ở trẻ chưa đi học, nhưng lại tăng nhanh ở trẻ đi học, nhanh hơn nữa ở tuổi trung học và đại học… (Chỉ 5% trẻ mẫu giáo so với 69% học sinh đại học bị cận…). 90% trẻ em trong lúc đeo kính sẽ liên tiếp tăng độ cận thị. Tốc độ tăng ở trẻ 7-11 tuổi khoảng 0.67 độ mỗi năm và ở trẻ 11-22 tuổi khoảng 0.50 độ mỗi năm.


Thống kê cũng nhận thấy nếu đọc sách liên tục không nghỉ và học dưới ánh đèn lu mờ thiếu sáng sẽ tăng độ rất nhanh. Hiện tại, tỉ lệ cận thị gia tăng nhanh không chỉ ở Mỹ mà còn ở khắp thế giới. Ở Mỹ, khoảng 25%-41% dân số bị cận thị, trong khi đó ở một vài nước Á Châu tỉ lệ này lên đến 70%-90% (70% trẻ 17 tuổi và 90% học sinh đại học). Hiện nay theo thống kê 29% giới già lớn hơn 45 tuổi so sánh với 71% giới trẻ nhỏ hơn 40 tuổi bị cận thị (theo số liệu từ OAA = Othokeratology Academy of America).


Cận thị được phân loại như loại thấp từ -1.00 đến -2.75 độ, loại vừa từ -3.00 đến -7.75 độ và loại cao từ -8.00 độ trở lên. Cần nhớ rằng nếu cận thị cao hơn 6 độ, bạn có nguy cơ bị các loại biến chứng như Bong Võng Mạc (Retinal Detachment), Cao Nhãn Áp (Glaucoma) và Thoái Hóa Mắt do cận thị (Myopic Degeneration). Các chứng bệnh này có thể làm cho bạn bị hạn chế thị lực hoặc nặng hơn sẽ không còn thấy rõ nữa.


 


Làm thế nào để kiểm soát sự tăng độ?


Bạn có thể dùng kính (đơn tròng, hai tròng hoặc đa tròng), dùng Contact Lenses (kính áp tròng) mềm hoặc Contact Lenses cứng (đơn tròng, hai tròng hoặc đa tròng), dùng thuốc (Atropine, Pirenzepine, 7-methylxanthine), dùng châm cứu, dùng mổ Lasik (chỉ dành cho trẻ > 18 tuổi), dùng luyện tập mắt (Vision Therapy) và dùng Ortho-k (xem hình trích dẫn)


 



Làm sao định nghĩa Ortho-k?


Ortho-k Contact lenses được gọi dưới rất nhiều tên khác nhau: CRT (Corneal Refractive Therapy), VST (Vision Shaping Treatment), AOK (Accelerated Orthokeratology), CCC (Corneal Corrective Contacts), GVSS (Gentle Vision Shapping System), EZM (Eccentricity Zero Molding).


Ortho-k là phương pháp chỉnh hình giác mạc khi ngủ mà không dùng phẫu thuật. Phương pháp Ortho-k được thiết kế bằng loại CL cứng nhằm thay đổi hình dạng và làm dẹp đi phần giữa của giác mạc, giúp cho bạn thấy rõ hơn sau khi tháo CL này ra. Khi cận thị, giác mạc của bạn sẽ cong nhiều hoặc nhãn cầu của bạn to và dài hơn bình thường, Ortho-k sẽ dùng 1 lực ép thật nhẹ nhàng, từ từ trong suốt thời gian bạn ngủ. Khi thức dậy, giác mạc sẽ trở nên phẳng hơn và nhờ đó bạn sẽ thấy rõ hơn lúc ban ngày mà không phải đeo kính hoặc CL mềm nữa.


Vào tháng 6, 2002, Phương Pháp Chỉnh Hình Giác Mạc để ổn định cận thị CRT của công ty Paragon Vision Sciences đã được FDA chấp thuận đeo vào ban đêm lúc ngủ. Hiện nay trên thị trường, ngày càng nhiều công ty Ortho-k được FDA chấp thuận với nhiều cải tiến, chính xác và an toàn hơn trước (Paragon CRT Dual, B&L VST, Dream, Emerald, WAVE…)


Ortho-k không phải là khái niệm mới, mà đã có từ khoảng năm 1940. Tuy nhiên, vào những năm 1990, với sự phát triển của kỹ thuật số (digital) nhằm chụp hình giác mạc và kỹ thuật mới về đúc khuôn CL cứng đã tạo một bước nhảy vọt trong ngành Ortho-k. Gần đây còn rất nhiều kỹ thuật mới hơn đang góp phần đẩy mạnh sự thành công và độ an toàn của Ortho-k. (Trong tương lai, sẽ có Ortho-k CL mềm, đeo cả ban ngày và/hoặc ban đêm giúp bạn kiểm soát độ cận vững chắc hơn.)


Khác với phương pháp mổ Lasik (chỉ dành cho trẻ lớn hơn 18 tuổi), Ortho-k chỉ ép độ tạm thời, giúp bạn khỏi đeo kính hoặc CL mềm ban ngày, do đó bạn cần đeo mỗi tối khi ngủ để duy trì hiệu quả này. Khi đã đến tuổi mổ Lasik hoặc muốn nghỉ đeo một thời gian, bạn chỉ cần không đeo 1-2 tuần, độ cận thị của bạn sẽ trở về như giai đoạn đầu trước khi đeo Ortho-k. Thật tuyệt khi bạn không muốn mổ Lasik, mà cũng không muốn đeo kính hoặc Contact Lenses mềm ban ngày. Câu trả lời đó là Ortho-k.


 


Ortho-k dành cho ai?


Ortho-k có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi từ 6-60 với tình trạng mắt tốt. Trước đây, Ortho-k chỉ dành cho những người bị cận thị, nhưng ngày nay với nhiều tiến bộ khoa học, Ortho-k còn dùng cho người bị viễn thị, lão thị và chứng rối loạn thị giác sau khi mổ Lasik. Tuy nhiên, bác sĩ sẽ là người quyết định Ortho-k có dùng cho bạn không.


FDA chấp thuận cho Ortho-k CRT tới -6.00 độ cận và -1.75 độ loạn; VST tới -5.00 độ cận và -1.50 độ loạn. Hầu hết các bác sĩ đều cho rằng Ortho-k tốt nhất dành cho bạn nào có độ cận nhỏ hơn -4.00 và ít hoặc không có độ loạn. Nhưng hiện nay, cũng có trường hợp lên tới hơn -14.00 độ cận vẫn có thể kiểm soát bằng Ortho-k được. Vì vậy, bạn vẫn có hy vọng dù bạn đang bị độ cận cao. Rất hiếm, nhưng đã có 1 bác sĩ trong hội OAA nhờ kỹ thuật tối tân đã thành công khi kiểm soát 1 vài trường hợp lên đến -4.00 độ cận (WOW !!!). Ðương nhiên sẽ cần rất nhiều thời gian và nhiều điều chỉnh cho đến khi thành công.


Ortho-k rất thích hợp để kiểm soát sự tăng độ quá nhanh cho trẻ em chưa đủ tuổi để làm Lasik. Ortho-k cũng rất hữu dụng cho những người chơi thể thao (bơi lội, chạy bộ, quần vợt, golf, chạy xe đạp), người làm việc trong môi trường bụi bặm mà không tiện dùng CL mềm (làm vườn, nội trợ…). Ortho-k cũng cần thiết cho những nghề nghiệp như phi công, cảnh sát, cứu hỏa… Ngoài ra, Ortho-k cũng áp dụng cho những ai làm ở môi trường mà nhìn bị mờ vì hơi sương mù che lấp mắt kính (fogging).


 


Cần làm gì khi bắt đầu tiến hành Ortho-k?


Bác sĩ sẽ khám mắt, tìm ra độ và sau đó chụp hình giác mạc của bạn bằng nhiều dụng cụ từ thô sơ đến cao cấp. Một số bác sĩ có thể dùng Ortho-k CL sẵn có để thử ngay. Thông thường bạn chỉ cần thử 1 Ortho-k CL đầu tiên thôi, nhưng đôi lúc bác sĩ có thể phải điều chỉnh vài CL khác cho đến khi đạt kết quả tốt nhất. Nhưng hiện nay nhờ dụng cụ tối tân corneal topography, bác sĩ sẽ chụp bản đồ hình dạng thật sự giác mạc của bạn, đồng thời thử kích cỡ CL và sau đó sẽ đặt đúc y khuôn Ortho-k CL cho chỉ riêng con mắt của bạn thôi (còn gọi là Customized Digital Ortho-k CL).


 


Ortho-k có an toàn không?


An toàn, Ortho-k rất ít khi bị nhiễm trùng nếu bạn tuân theo đúng các hướng dẫn của bác sĩ. Khi không còn đeo nữa, chỉ khoảng 1-2 tuần, độ cận của bạn sẽ trở về như độ cận ban đầu trước khi bạn dùng Ortho-k.


 


Ortho-k có thoải mái không?


Cũng như các loại CL cứng, Ortho-k có cảm giác hơi cộm vì tiếp xúc nhiều với mí mắt, nhất là khi chớp mắt. Khi ngủ, bạn không còn chớp mắt, nên sẽ không thấy cộm nữa. Cũng vậy, khi mới thử Ortho-k CL lần đầu, bạn không nên chớp mắt nhiều, chỉ nên nhắm mắt vài phút là sẽ thấy quen dần. Tốt nhất, bạn nên đeo Ortho-k 15-20 phút trước khi ngủ, rồi đi ngủ ngay. Cũng vậy, nên lấy Ortho-k ra trong khoảng 15 phút sau khi thức dậy. Cần nhớ là bạn phải ngủ với Ortho-k CL ít nhất 6-8 tiếng mỗi đêm mới đủ thời gian để ép độ. Sau một vài tháng đầu, bác sĩ có thể điều chỉnh tùy trường hợp mà cho bạn đeo mỗi đêm hoặc cách 1 đêm.


 


Bao lâu Ortho-k mới có kết quả?


Tùy theo độ cận, độ loạn, độ cong và dầy của giác mạc, tốc độ xuống sau đêm đầu tiên… mà bác sĩ có thể ước đoán phần nào thời gian xuống độ là bao lâu. Thông thường nếu dưới 2 độ cận, chỉ 1 đến vài ngày là xuống hết. Nếu độ cận và loạn càng cao, thời gian xuống độ là khoảng vài ba tuần. Cần nhớ rằng triệu chứng nhìn thấy nhiều quầng sáng (halos and glare) khi đeo Ortho-k lúc ban đầu sẽ giảm đi theo thời gian, nhưng đôi khi không bao giờ giảm, nhất là ở bạn nào có con ngươi nở khá lớn.


 


Kết quả của Ortho-k?


Hầu hết kết quả Ortho-k có thể giúp bạn nhìn 20/20, nhưng trong ít trường hợp cũng tạm chấp nhận được nếu chỉ xuống 20/40 (vì đây là mức tối thiểu để được lái xe ở Mỹ). Hai thống kê nghiên cứu trong 9 tháng với Paragon CRT CL, hầu như 93-95% kết quả nhìn xa được 20/40 và 67-73% nhìn xa được 20/20. Trong rất nhiều trường hợp, độ loạn thị nhẹ hoặc vừa cũng được cải thiện nhiều khi dùng Ortho-k.


 


Giá của Ortho-k?


Thử Ortho-k CL chiếm rất nhiều thời gian hơn là các loại CL thường. Việc này đòi hỏi 1 lịch trình với nhiều lần tái khám và đôi lúc phải thay đổi CL vài lần cho đến khi đạt kết quả tốt nhất. Mỗi nơi tính giá cả khác biệt, dựa trên thời gian, số lần khám và chi phí của CL. Chi phí này không áp dụng cho việc thay thế CL nếu bị hư bể. Thông thường bảo hiểm không chi trả cho Ortho-k, xin gọi bảo hiểm của bạn để nắm rõ hơn. $500 OFF CHO ORTHO-K (SPECIAL SUMMER SALE).


 


Ghi chú: Nhằm giúp đỡ các phụ huynh có nhiều con và kinh tế khó khăn, chúng tôi có chương trình giảm giá $500 OFF vào mùa Hè cho tất cả các loại Ortho-k CL, đồng thời cung cấp miễn phí solution và các vật liệu cần thiết trong suốt năm đầu. Trung Tâm Nhãn Khoa EYE CARE OPTOMETRY FV hoạt động với phương châm “Áp dụng kỹ thuật cao, nhưng với giá cả nhẹ nhàng, hầu có thể phục vụ cộng đồng và giúp được nhiều tầng lớp trong xã hội.”


Nếu bạn bị cận thị nặng, viễn thị hoặc ngay cả lão thị, cũng xin lấy hẹn tham khảo Ortho-k, bạn sẽ được trả lời tận tình và kỹ lưỡng.


Xin gọi để biết thêm về nhiều đề tài và các buổi hội luận miễn phí khác về mắt trong tương lai của Bác sĩ Nhãn khoa Jame Thể Trương. Cũng xin đón xem loạt bài kế tiếp “Những kỹ thuật hiện đại áp dụng trên phương pháp Ortho-k” (sẽ đi sâu và chi tiết hơn).


 


EYE CARE OPTOMETRY FV tọa lạc tại 11075 Warner Ave., Fountain Valley, CA 92708. (Ðối diện với bệnh viện Fountain Valley và trong khu chợ Stater Bros). Xin gọi số phone 714-418-9607 để lấy hẹn và được tham khảo miễn phí.

Hai trận động đất trong vòng 12 giờ ở Orange County

 


YORBA LINDA, California –  Cơ Quan Địa Chất Hoa Kỳ (USGS) cho hay, một trận động đất ở mức 4.4 độ Richter xảy ra lúc 11 giờ 23 phút tối Thứ Ba 7 tháng 8.  Tâm chấn ở cách thành phố Yorba Linda phía bắc Orange County khoảng hơn 3 km, cách trung tâm thành phố Los Angeles chừng 56 km về phía Đông Nam. Không ai bị thương tích và thiệt hại vật chất nào.










Bản đồ động đất ở California.


Sáng Thứ Tư một trận động đất khác mạnh 4.1 xảy ra cũng tại vùng này. Tâm chấn động ờ khoảng giữa Yorba Linda và Chino, sâu 5 dặm dưới lòng đất.  Không có báo cáo về tổn thất nhân mạng hay tài sản.


Rung chuyển từ hai trận động đất nhận thấy ở nhiều nơi trong vùng Nam California cho đến Los Angeles và San Fernando Valley, cách trung tâm địa chấn khoảng 80km.  Tiếp theo có hàng chục dư chấn, mạnh nhất là tới 2.9 độ Richter. (HC)

Ông Đaminh Trần Văn Nho

Ra mắt CD Vì Em

Cause of death of two women in Viet Nam under dispute


Photo courtesy of www.ksee24.com


 


Two women ― one an American and the other a Vietnamese Canadian ― have died in Viet Nam under suspicious circumstances, and speculation in Canada now is that the women were poisoned. The National Post discounts reports in the Vietnamese media that the women died from drinking too much wine, and one of their mothers alleges that her daughter died from the lack of proper medical care. Read the report here.

Thời tiết nóng, kẻ thù lớn nhất của con người

 


Hà Tường Cát/Người Việt (tổng hợp)


 


HOA KỲ – Càng ngày người ta càng thêm tin tưởng là khí hậu đang biến đổi và địa cầu đang ấm dần, mà một trong những dấu hiệu thể hiện là những đợt nóng bức hay làn sóng nóng (Heat Wave) xảy đến thường xuyên hơn hàng năm ở trên nhiều nơi trên thế giới.









Bắp tại một nông trại ở Bondurant, Iowa, bị hư hỏng do đợt nóng quá mức và hạn hán kéo dài trong mùa Hè này khắp vùng Trung Tây và Nam Hoa Kỳ, gây tổn thất nặng nề cho nông nghiệp. Giá bắp tăng $8.00 một bushel (8 gallons) vào cuối tháng 7. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)


Ít ai chú ý rằng tất cả những đợt nóng này đem đến tổn thất nhân mạng lớn hơn bất cứ một hiện tượng thời tiết nào khác, kể cả lũ lụt và bão tố.


Trong khoảng thời gian 10 năm từ 1992 đến 2001, tại Hoa Kỳ có 2,190 người chết vì nóng so với 880 người thiệt mạng do thiên tai lũ lụt và 150 vì bão tố. Trong đợt nóng 5 ngày mùa Hè năm 1995, riêng tại Chicago, có gần 600 trường hợp tử vong. Những người già trên 65 tuổi thường bị tác động đến sức khỏe, kể cả tử vong, với lý do chính là cơ thể thiếu nước vì xem thường không theo khuyến cáo của các cơ quan y tế.


Một nghiên cứu của cơ quan “Agency for Health Care and Quality” cho biết mỗi mùa Hè trung bình có 6,200 người Mỹ phải đưa đến bệnh viện điều trị do ảnh hưởng thời tiết nóng nực. Những người bị rủi ro nhất là người cao niên, nghèo, sống ở những khu nhà tập thể. Tại Âu Châu, đợt nóng kỷ lục năm 2003 làm 70,000 người thiệt mạng.


Những đợt nóng nực còn gây ra nhiều hậu quả khác, từ ảnh hưởng tinh thần với con người đưa tới tâm lý dồn nén và theo các nhà xã hội học làm mức độ bạo hành gia tăng. Về tổn hại vật chất, những đợt nóng bất thường gây ra tình trạng thiếu điện hay mất điện ở các thành phố vì máy lạnh được sử dụng quá mức. Gia súc có thể chết hàng loạt ở những trại bò hay trại gà và nông nghiệp thường bị tổn thất nặng do hạn hán đến cùng với cái nóng trong lúc nạn cháy rừng hay đồng cỏ dễ dàng xảy ra.


Không có một tiêu chuẩn chung để xác định thế nào là một đợt nóng nực vì sự biến chuyển bất thường về nhiệt độ chỉ có tính cách tương đối với tùng vùng. Những nơi thời tiết nóng thì nhiệt độ cao chỉ là bình thường nhưng cùng nhiệt độ ấy sẽ là rất khó chịu đối với các nơi khí hậu ôn hòa.


Theo định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới thì nếu nhiệt độ cao hơn mức trung bình 5 độ C (9 độ F) trong một thời gian liên tục trên 5 ngày thì sẽ được coi là một đợt nóng. Nói cách khác, được gọi là một đợt nóng nếu nhiệt độ tăng lên bất thường, trên 100 độ F hay 35 độ C, trong một khoảng thời gian từ nhiều ngày đến nhiều tuần khiến người ta cảm thấy rất khó chịu. Tuy nhiên chỉ nhiệt độ chưa đủ để phân định sự nóng nực mà còn phải thêm yếu tố ẩm độ của không khí, nóng và ẩm khiến người ta cảm thấy mức khó chịu tăng lên. Vì vậy trong những bản tin khí tượng hàng ngày, khi nói tới nhiệt độ là bao nhiêu còn có ghi thêm là cảm thấy như là bao nhiêu nữa. Ví dụ, nhiệt độ 90 độ F nhưng cảm thấy như 97 độ F.


Tại sao có những đợt nóng? Khoa học khí tượng giải thích rằng những đợt nóng là do khối không khí áp suất cao ít di chuyển mà dừng lại trên một vùng, ở cao độ khoảng 10,000 feet đến 25,000 feet. Hiện tượng không khí ít chuyển động xảy ra trong mùa Hè nhiều hơn trong mùa Ðông. Do áp suất cao và ít chuyển động theo chiều ngang, không khí sẽ di chuyển theo chiều đứng từ trên cao xuống thấp và làm nhiệt độ tăng lên, theo một hiện tượng tương tự như trong chiếc bơm, nhiệt độ tăng lên khi không khí bị nén lại.


Khoa học gia khí tượng James Hansen thuộc Trung tâm Nghiên cứu Không gian Goddard của NASA khẳng quyết rằng các đợt nóng nực xảy ra thường xuyên trong những năm gần đây là hậu quả của khí hậu địa cầu đang ấm dần. Ðây là vấn đề các khoa học gia hãy còn tranh cãi và mâu thuẫn ý kiến mạnh mẽ, vì chưa có một bằng chứng rõ rệt nào về hiện tượng địa cầu ấm dần, tất cả đều chỉ căn cứ và giải thích theo thống kê qua những dữ kiện mới chỉ được ghi nhận một cách đáng tin cậy trong khoảng trên dưới một thế kỷ nay, nghĩa là một thời gian quá ngắn đối với lịch sử chuyển biến nhiều triệu năm của Trái Ðất.


Trong tạp chí khoa học Proceedings of the National Academy of Sciences số ra đầu tuần này, Hansen viết: “Chúng tôi tin tưởng với một mức độ cao, rằng những sự kiện hết sức dị thường như ở Texas và Oklahoma năm 2011 cũng như ở Moscow năm 2010 là hậu quả của tình trạng Ðịa Cầu ấm dần vì nếu không như thế thì rất khó có thể xảy ra tình trạng bất bình thường kiểu đó.” Năm 2010, Nga lâm vào tình trạng thiếu lương thực vì sản lượng lúa mì giảm sút do nóng và khô, nông nghiệp Texas và Oklahoma cũng bị tổn hại nặng nề cho đến nay do thời tiết nóng và hạn hán kéo dài.


Martin Hoerling, nhà nghiên cứu khí tượng thuộc NOAA (Cơ quan Khí tượng và Hải dương Quốc gia) không đồng quan điểm ấy và cho rằng cách giải thích của Hansen là “thiếu giá trị khoa học.” Ông nói: “Những đợt nóng nực theo một mẫu mực chuyển hóa tự nhiên của thời tiết và nếu có hạ thấp lượng khí thải carbon dioxide (CO2) xuống đến mức mà người ta cho là an toàn thì cũng không vì thế mà hết hẳn những đợt nóng.” Hoerling lập luận rằng những đợt nóng chẳng qua chỉ là hiện tượng tự nhiên của khí quyển, con người không gây ra và cũng không ngăn chặn được.


Khoa học gia Kevin Trenberth ở Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng tại Boulder, Colorado, không hoàn toàn đồng ý với cả hai quan điểm trên nhưng theo ông, “Nếu không vì tình trạng khí hậu biến đổi (Ðịa Cầu ấm dần) thì khả năng xảy ra những đợt nóng sẽ rất ít.”


Theo thống kê, trong thế kỷ 20 có 10 đợt nóng nực trên thế giới. Thập niên đầu của thế kỷ 21 có 12 đợt và từ 2010 đến nay đã có 11 đợt. Tất nhiên mức nóng nực và thời gian của những đợt này khác nhau, cũng như đã nói trên, sự kiện được gọi là một đợt nóng nực tùy thuộc vào những yếu tố tương đối theo từng nơi. Nhưng dù với nguyên nhân gì, những con số thống kê này chắc chắn cũng là rất đáng quan tâm. (HC)

TinLuot -07-08-12

Việt Nam


 



  • Lạng Sơn tịch thu 11 tấm bản đồ Việt Nam do Trung Quốc xuất bản và bán tại Việt Nam, với thông tin sai về Biển Ðông.

 



  • Một nghi can ở Thanh Hóa giết hai người và làm bị thương một người, vì tranh chấp đất đai.

 



  • Hầm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn – hầm vượt sông duy nhất tại Việt Nam – bị thấm nước một thời gian ngắn sau khi khánh thành.

 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


 



  • Một phụ nữ khoảng 50 tuổi, lái xe ngược chiều trên đường El Toro Road, Lake Forest, đụng một xe hàng, chết tại chỗ.

 



  • Hai phe, bênh và chống các dự luật trưng cầu dân ý ở California 2012, đóng góp tổng cộng $150 triệu để vận động cho lý lẽ của mình.

 



  • Sau hai vụ thảm sát ở Colorado và Wisconsin, lập pháp California vận động luật cấm bán loại súng mà người bắn có thể nhanh chóng thay băng đạn.

 


Hoa Kỳ


 



  • Cứu thoát một bé gái 6 tuổi đang bám một xác chết nổi trên hồ nước ở New York.

 



  • Cháy lớn tại nhà máy lọc dầu gần San Francisco. Giới phân tích cho là vụ này sẽ làm tăng giá xăng ở California.

 



  • NASA công bố bức hình đầu tiên do Phòng Thí Nghiệm Curiosity Rover từ Hỏa Tinh gởi về.

 



  • Tòa Bạch Ốc nói nhận xét của TNS Harry Reid về vấn đề thuế của ƯCV Romney chỉ là nhận xét riêng của ông Reid.

 



  • Một người đàn ông ở Florida bị bắt vì làm giả thẻ quân nhân và quân phục.

 



  • Lee Loughner nhận “có tội” trong vụ bắn chết 6 người và làm bị thương dân biểu Giffords trong vụ bắn ở Tucson năm 2011.

 



  • Một người đàn ông bị bắt khi mang súng và dao vào một rạp chiếu phim Batman ở Ohio.

 



  • Nhu cầu tuyển nhân viên tăng cao nhất trong bốn năm, nhưng tăng trưởng trong tuyển dụng vẫn chậm.

 



  • Người Mỹ bớt xài thẻ tín dụng và chăm chú trả nợ nhiều hơn. Kinh tế có thể bị ảnh hưởng tiêu cực.

 


Thế Giới


 



  • Hai tay súng cải trang lính Afghanistan hạ sát một lính Mỹ và làm bị thương hai người khác ở tỉnh Paktia.

 



  • Bảy lực sĩ Cameroon “biến mất” khỏi làng thế vận. Trưởng phái đoàn nói có thể họ muốn xin tị nạn tại Anh.

 



  • Anheuser-Busch Invev loan báo tăng giá trên nhiều loại bia do họ sản xuất vào mùa Thu này.

 



  • Nhà vật lý thiên văn người Anh, Sir Bernard Lovell, từng cống hiến quan trọng về viễn kính vô tuyến và khám phá tia vũ trụ, từ trần, thọ 98 tuổi.

Báo Canada cảnh báo về nguy cơ bị ngộ độc ở Việt Nam

 


 Vụ hai cô gái chết bí ẩn ở Nha Trang



 


NHA TRANG (NV) – Trong khi các giới chức y tế và cơ quan điều tra vẫn chưa tìm ra nguyên nhân dẫn đến cái chết bí ẩn của hai nữ du khách một quốc tịch Mỹ và một quốc tịch Canada tại Nha Trang, thì truyền thông Canada lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bị ngộ độc ở Việt Nam.










Di ảnh Cathy Huỳnh trên bàn thờ do gia đình lập ở Việt Nam. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Karin Joy Bowerman, 27 tuổi, quốc tịch Mỹ và Cathy Huỳnh, người Canada gốc Việt, 26 tuổi, lần lượt qua đời vào các ngày 30 tháng 7 và 2 tháng 8 tại bệnh viện ở Nha Trang.


Theo AFP, Bowerman qua đời sau khi bị một căn bệnh bí ẩn “và suy hô hấp,” trong khi Cathy Huỳnh chết vì triệu chứng tương tự và bị ngừng tim.


Theo báo Tuổi Trẻ, thi hài Karin Joy Bowerman đã được gia đình bay từ tiểu bang Illinois, đến Nha Trang để nhận, rồi sau đó đưa vào Sài Gòn hỏa táng và đưa tro cốt về Mỹ.


Còn thi thể Cathy Huỳnh cũng đã được các cơ quan chức năng của tỉnh Khánh Hòa giao cho gia đình vào tối 7 tháng 8 theo nguyện vọng. Báo Tuổi Trẻ cho biết, gia đình Cathy Huỳnh không đồng ý cho mổ thi thể để ‘khám nghiệm tử thi” và sẽ mang thi hài của cô về Canada an táng.


Báo National Post của Canada, trong một bài viết hôm 6 tháng 8, trích lời bà Huỳnh Thị Hương, mẹ của Cathy Huỳnh, nói với tờ Tuổi Trẻ: “Tôi thực sự tức giận vì sự vô trách nhiệm của nhân viên bệnh viện. Cathy Huỳnh đã chết vì cô không nhận được chăm sóc y tế thích hợp mặc dù đã được đưa vào bệnh viện 12 giờ trước khi qua đời.”


Nhưng báo Tuổi Trẻ vào sáng 7 tháng 8, dẫn lời Bác Sĩ Phạm Ðình Chi – phó trưởng khoa Hồi Sức Cấp Cứu bệnh viện đa khoa Khánh Hòa, cho biết “đã tiến hành thủ tục kiểm thảo tử vong đối với hai trường hợp trên.”


“Theo đó, các kíp bác sĩ và nhân viên y tế tiếp nhận và điều trị cho hai nạn nhân trên không có lỗi về tinh thần trách nhiệm hoặc chuyên môn nghiệp vụ.”


Ban đầu thì cơ quan điều tra nói rằng, Cathy Huỳnh chết vì “ngộ độc rượu.” Tuy nhiên bà Huỳnh Thị Hương nói với các cơ quan truyền thông rằng, con gái của bà không có tiền sử chè chén say sưa.


Tuy nhiên, các khám nghiệm sau đó cho thấy, cái chết của cả hai cô không phải vì rượu mà là nguyên nhân bí ẩn khác.


 


* Nguyên nhân bí ẩn?


 


Nhân cái chết của Cathy Huỳnh và Karin Joy Bowerman ở Nha Trang, báo National Post cho biết: “Cái chết của Cathy Huỳnh cùng với người bạn Bowerman xảy ra chỉ hai tháng sau khi hai chị em ở Quebec, Canada, thiệt mạng do ngộ độc ở miền Nam Thái Lan. Nguyên nhân chính xác dẫn đến cái chết của họ vẫn chưa được biết.”


Hai chị em tên là Audrey và Noemi Belanger chết trong phòng khách sạn ở khu nghỉ mát Phi Phi của Thái Lan.









Hai nạn nhân người Canada chết bí ẩn tại khách sạn Phi Phi, miền Nam Thái Lan: Noemi (trái) và Audrey Belanger (phải). (Hình: National Post )


Hai cô gái này được tìm thấy với móng chân xanh lét, mặt bầm máu, kèm theo nôn mửa và họ đã chết trước đó ít nhất 12 tiếng đồ hồ.


Nguyên nhân tử vong của hai cô vẫn còn bí ẩn, nhưng các quan chức nghi ngờ họ bị ngộ độc thực phẩm trầm trọng.


National Post cho biết thêm, “Cũng tại khu nghỉ mát này, những cái chết kỳ lạ tương tự xảy ra vào năm 2009 với hai phụ nữ, một Mỹ và một Na Uy. Thi thể của họ được tìm thấy trong hai căn phòng liền kề. Có những dấu hiệu nôn mửa, nhưng nguyên nhân cái chết vẫn chưa tìm ra.”


Báo này cảnh báo rằng, không riêng gì Thái Lan, mà du khách đến Việt Nam cũng nên cảnh giác trước các vụ ngộ độc tương tự. (KN)

Nguyễn Tấn Vinh, từ ‘trục xuất về Việt Nam’ đến ‘bất ngờ được tự do’

 


Hà Giang/Người Việt


 


LTS: Trong cuộc phỏng vấn của nhật báo Người Việt qua điện thoại cuối Tháng Chín năm ngoái, ông Nguyễn Tấn Vinh, 56 tuổi, một nhà đấu tranh dân chủ có nguy cơ bị trục xuất về Việt Nam, bị giam tại nhà tù Theo Lacy, Orange, California, vì bị cáo buộc dính líu đến các vụ đặt bom trước hai tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Philippines và Thái Lan năm 2001, nói quan tâm lớn nhất của ông là “làm sao để khỏi bị trục xuất về Việt Nam,” nơi ông “biết chắc” sẽ bị nhà cầm quyền giam cầm, tra tấn. Theo ông, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Việt Nam đã gửi một công điện cho Cảnh Sát Quốc Tế (Interpol) yêu cầu dẫn độ ông về “để trừng trị tội ném bom vào tòa đại sứ của họ.” Ông cho biết tuy “dấn thân đấu tranh là chấp nhận tù đày,” nhưng đặt nhiều hy vọng vào việc kháng án lên Tối Cao Pháp Viện, mà người em, người đồng chí của ông, là Võ Ðức Văn, đã nỗ lực vận động để xin tòa yêu cầu Tòa Án Di Trú thu hồi lệnh trục xuất. Gần một năm trôi qua, tuần trước, nhật báo Người Việt được biết là sau nhiều tháng vận động, ông Vinh được Tòa Án Di Trú tại Los Angeles kêu ra điều trần để xét đơn, đóng tiền thế chân, để tại ngoại hậu tra, vào sáng ngày 7 Tháng Tám. Ðùng một cái, buổi điều trần chưa xẩy ra, hai anh em ông xuất hiện tại tòa soạn, báo tin ông Vinh được tự do. Cả hai anh em dành cho nhật báo Người Việt một cuộc phỏng vấn sau đây, do Hà Giang thực hiện.


 


Hà Giang (NV): Chào mừng ông Nguyễn Tấn Vinh bất ngờ được hít thở không khí tự do sau 11 năm bị giam cầm. Ra khỏi tòa rồi, việc đầu tiên ông làm là gì? Giấc ngủ đầu tiên không ở trong tù như thế nào, và dự định tương lai ra sao?


Nguyễn Tấn Vinh: Lúc tôi ra khỏi nhà giam Theo Lacy thì đã 7 giờ tối. Văn đến đón. Tôi nói với Văn “thèm phở quá, 11 năm rồi.” Văn chở tôi đến Bolsa ăn phở, uống cà phê, rồi tối về nhà ăn thịt gà luộc chấm với nước mắm.









Ông Nguyễn Tấn Vinh (trái), vừa được trả tự do, và em là ông Võ Ðức Văn, tại nhật báo Người Việt. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Thèm nước mắm nữa. Ðêm thì nhất định không ngủ được, bao suy nghĩ, bao nỗi niềm, vui buồn lẫn lộn, cũng chưa tính được gì nhiều, nhưng trước mắt là nghỉ ngơi một thời gian, ổn định cuộc sống, rồi tiếp tục theo đuổi công việc và lý tưởng của mình.


NV: Chưa dự phiên tòa xin đóng thế chân mà ông đã được thả ra, ông có thể cho biết đầu đuôi sự việc hi hữu này xẩy ra như thế nào không?


Nguyễn Tấn Vinh: Vâng, như chị cũng biết, trong tù, tôi đang chuẩn bị tâm lý để sáng hôm nay xuất hiện trước Tòa Án Di Trú xin tòa cho tại ngoại hậu tra, thì khoảng 2, 3 giờ chiều hôm qua, tự nhiên nghe tiếng gọi lớn từ loa phóng thanh trong tù cho biết phải chuẩn bị rời nhà giam. Tôi hết sức sửng sốt, phần thì tưởng họ gọi lầm tên, phần thì rất lo lắng là có lẽ họ chuyển mình đi đâu để chuẩn bị trục xuất về Việt Nam.


NV: Loa phóng thanh họ gọi như thế nào, và lúc nghe loa gọi, cảm giác của ông ra sao?


Nguyễn Tấn Vinh: À, họ gọi: “Vinh Nguyễn, Bunk 30, Roll up!” Bunk 30 là số giường của tôi, còn “roll up” là cuốn chiếu lại. Ở trong tù, khi nghe ai được gọi “roll up” là vui mừng lắm, biết mình được thả, được rời khỏi nhà tù. Nhưng lúc đó tôi hoang mang không tin, lên phòng làm việc hỏi họ lại là “có phải lúc nãy gọi tên tôi không?” Nhân viên trực văn phòng bảo “phải, ông về lo dọn đồ đi!” Tôi bảo đúng 8 giờ sáng ngày mai tôi có phiên tòa quan trọng tại Los Angeles, tôi không muốn chuyển đi đâu hết, vì tôi không muốn bị lỡ hẹn với tòa. Nhân viên trực hỏi lại “bây giờ có lệnh dọn đồ xong đi qua phòng ICE (Immigration and Custom Enforcement) làm thủ tục ông có nghe không?”


Thấy vậy, tôi trở về dọn giường, rồi lên văn phòng ICE, làm giấy thả, lăn tay, chụp hình thì mới biết là mình được thả. Nhưng vẫn băn khoăn hỏi “mấy ông đưa tôi đi đâu, có phải đưa về Việt Nam không?” Nhân viên ICE cười bảo, đừng lo, ông yên chí đi, qua phòng khác họ giải thích cho. Qua phòng khác, tức phòng của Bộ Nội An thì tôi được biết là họ tự đóng cho mình tiền thế chân, và cho tôi được tự do, khỏi phải đến tòa ngày mai. Bộ Nội An không giải thích gì thêm, nhưng tôi biết đây là kết quả vận động của Võ Ðức Văn và các thân hữu của chúng tôi trong thời gian qua.


NV: Là người đã chạy đôn chạy đáo, tìm đủ mọi cách để vận động và nộp đơn xin kháng án cho ông Vinh, ông có lời giải thích nào không cho sự việc này?


Võ Ðức Văn: Sau hơn 10 tháng vận động với các giới dân biểu, các nhà từ thiện, các tổ chức xã hội, đấu tranh cho nhân quyền, dân quyền, cách đây vài tuần, tôi có nhận được một số trả lời cho nỗ lực của mình. Hiện anh Vinh vẫn còn ở trong tình trạng hết sức tế nhị, chúng tôi không thể bạch hóa mọi chi tiết, chỉ có thể nói tóm tắt rằng một giới chức trên Bộ Nội An và một giới chức của Bộ Tư Pháp đã xét vấn đề Nguyễn Tấn Vinh và cho rằng trục xuất anh Vinh về Việt Nam, đẩy anh vào nguy cơ bị chính quyền Việt Nam tra tấn, chỉ vì anh phạm một luật nhỏ về di trú là dùng giấy thông hành của tôi trong thời gian ở Thái Lan, là điều không cần thiết, và cho anh được tự do trong lúc chờ kết quả của việc kháng án thích hợp hơn. Cũng có một số nhà làm việc xã hội trong tổ chức “Mission Community United Methodist Church” đứng ra bảo đảm với các giới chức là chúng tôi sẽ tôn trọng luật pháp và án lệnh của tòa trong vụ kháng án sau này như đã cam kết với họ.


NV: Như vậy tình trạng di trú của ông bây giờ ra sao, và liệu nguy cơ bị trục xuất có đe dọa ông như trước đây không?


Nguyễn Tấn Vinh: Tình trạng di trú của tôi hiện là “non-status,” vì thẻ xanh đã bị tịch thu mất khi Tòa Án Di Trú quyết định trục xuất. Cho nên việc đầu tiên tôi phải làm là hợp pháp hóa tình trạng này, xin lại thẻ xanh, và lấy lại vị trí chính trị của mình. Còn quyết định có bị trục xuất hay không thì còn phải chờ kết quả kháng án. Nhưng có lẽ việc họ trả tự do cho tôi bất thình lình là một dấu hiệu tốt.


NV: Ông có thể giải thích rõ cụm từ “vị trí chính trị” ông vừa đề cập không?


Nguyễn Tấn Vinh: Vị trí chính trị là như thế này. Nếu như mình ở Mỹ, mình vào Mỹ với tính cách một người tị nạn, chưa là công dân Mỹ, chỉ mới có thẻ xanh thôi, mình có quyền đi đấu tranh đòi dân chủ cho đất nước của mình không. Trong dịp phỏng vấn trước tôi có nói với chị, nếu bị trục xuất về Việt Nam thì điều tôi sợ nhất không phải là bị tù tội, tra tấn, mà lại tạo ra một tiền lệ không tốt cho việc đấu tranh chung, tiền lệ đó là nếu mình không là công dân Mỹ, mà đi đấu tranh cho đất nước của mình thì sẽ bị trục xuất. Việc tôi không bị trục xuất vì đấu tranh là một điều rất quan trọng cho vị trí chính trị của những người Việt Nam sinh sống ở đây, dù chưa là công dân Mỹ, vẫn có quyền tranh đấu cho quê hương mình.


NV: Qua sự kiện này, ông rút tỉa được kinh nghiệm gì trong việc đấu tranh, trong trường hợp một người có nguy cơ bị trục xuất?


Võ Ðức Văn: Vấn đề của anh Vinh trong 11 năm qua là trong lúc đi tranh đấu, anh vi phạm một lỗi lầm về luật di trú, vì thế cơ quan di trú quyết định ra lệnh trục xuất về Việt Nam. Chúng tôi đã đưa vấn đề này, trình bày cho tòa Tòa Kháng Án Khu Vực 9 là làm như vậy, là đi ngược lại lương tâm và lòng nhân đạo của nước Mỹ dựa trên Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn (United Nations Convention Against Torture). Phải chăng, sự trình bày về nguyên tắc đó là một điều chính đáng, cho nên hồ sơ trục xuất Nguyễn Tấn Vinh bị giữ lại và xét cho đến bây giờ. Trong thời gian chờ đợi trục xuất, Hiến Pháp Hoa Kỳ cho phép người có thể bị trục xuất có thể được tại ngoại hậu tra, thay vì phải nằm chờ quyết định ở trong tù, tùy theo trường hợp.


NV: Như vậy việc ông Vinh được tự do có liên quan gì đến lập luận của luật sư ông về Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn không? Tức là nếu trục xuất ông Vinh về Việt Nam là vô nhân đạo vì đẩy ông vào chỗ bị tra tấn?


Võ Ðức Văn: Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn được dùng như một phương tiện về pháp lý để chống lệnh trục xuất cho Nguyễn Tấn Vinh về Việt Nam thôi, điều đó nằm trong phạm vi của tòa kháng án. Còn việc anh Nguyễn Tấn Vinh được tự do ngày hôm nay là quyết định của Bộ Nội An cho anh được tự do trong thời gian chờ đợi thủ tục kháng án. Phiên tòa xin đóng tiền thế chân là phiên xử trước tòa di trú, thuộc Bộ Nội An.


NV: Ông Vinh rút ra kinh nghiệm gì quý báu nhất trong thời gian 11 năm ở tù vừa qua?









Ông Nguyễn Tấn Vinh đến thăm nhật báo Người Việt sau khi được trả tự do: “Ðêm đầu tiên ra tù nhất định không ngủ được, bao suy nghĩ, bao nỗi niềm, vui buồn lẫn lộn.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Nguyễn Tấn Vinh: Sau 11 năm lao lý từ Philippines về Mỹ, tôi chiêm nghiệm thấy trước đây mình đi đấu tranh chỉ có nhào vào mục đích, vốn liếng là con tim yêu nước, không nhận định rõ về luật di trú và không hiểu rõ luật pháp nước Mỹ. Giờ đây, qua 11 năm ở tù, tôi đã trường thành và hiểu biết được một số vấn đề và muốn chia sẻ kinh nghiệm đó với những người cùng chí hướng là phải lựa một cái thế đấu tranh thích hợp với chính sách của người Mỹ. Nếu mình cứ cường điệu quá, bất chấp luật pháp, sẽ không đạt được kết quả tốt. Tiện đây, tôi xin mượn mặt báo bày tỏ lòng nhớ ơn những thân hữu đã vận động cho tôi, những bô lão đã dầm mưa dãi nắng biểu tình ủng hộ tôi, những hình ảnh đó là niềm an ủi giữ được cho tôi được sống mãi đến ngày hôm nay, và là những hình ảnh suốt đời tôi sẽ không quên.


NV: Cảm ơn hai ông trả lời phỏng vấn.

Bà Nguyễn Thị Tân

Ông Nguyễn Quang Đình

Bà QP Nguyễn Thị Nghĩa

Bà Matta Vũ Thị Tình

Bà QP Trần Ngọc Liên

Ông Phêrô Nguyễn Ngọc Châu

Tin mới cập nhật