Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 6)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 6


 


Tôi dừng lại giây lát và ngắm nhìn. Nỗi cô liêu thiêng liêng trải rộng trước mặt tôi, u hoài, nhưng quyến rũ, như sa mạc. Bài thơ Phật giáo bốc khỏi lên mặt đất và len lỏi vào trong tận đáy lòng tôi.


Bao giờ sẽ rút vào trong cô liêu, đơn độc, không bạn đồng hành, không vui mà cũng chẳng buồn, với một niềm xác tín thiêng liêng duy nhất rằng tất cả chỉ là giấc mộng? Bao giờ quần áo tả tơi – không dục vọng – tôi sung sướng ẩn mình trong núi? Bao giờ thấy rằng thân thể chỉ là bệnh hoạn và tội lỗi, già lão và tử diệt – tự do, không sợ hãi đầy hân hoan, – tôi sẽ rút vào rừng? Bao giờ? Bao giờ? Bao giờ?


Zorba lại gần, santuri cặp dưới nách.


– Mỏ than bùn kia! Tôi nói để che giấu cảm xúc. Và giơ tay về phía ngọn đồi giống như khuôn mặt đàn bà.


Nhưng Zorba cau mày không ngoái lại.


– Ðể sau sẽ hay. Bây giờ chưa phải lúc, thưa ông chủ, hắn nói. Trước hết, phải chờ trái đất ngừng. Nó hãy còn tròng trành, con chó, nó tròng trành như một con tầu say, con đĩ chó. Chúng ta hãy vào trong làng.


Nói đoạn hắn rảo bước đi.


Hai đứa trẻ đi chân đất, sạm đen như dân Ả Rập chạy tới và đỡ va-li. Một nhân viên quan thuế to lớn, mắt xanh đang rít ống điếu trong căn lều dùng làm trụ sở quan thuế. Hắn liếc mắt nhìn chúng tôi, uể oải đưa mắt nhìn mấy cái va-li, cựa quậy một chút trên ghế như để đứng dậy. Nhưng hắn không có can đảm. Hắn chậm rãi nâng cái xe điếu lên và nói bằng giọng còn ngái ngủ:


– Chào các ông!


Một trong hai đứa trẻ lại gần tôi. Nó nháy cặp mắt xanh màu ô-liu:


– Chả không phải dân Crete đâu! Nó nói, giọng chế nhạo. Trông chả làm biếng quá!


– Dân Crete không làm biếng sao?


– Họ làm biếng… phải, họ cũng làm biếng… đứa trẻ Crete trả lời, nhưng làm biếng cách khác.


– Làng có xa đây không?


– Ngay kia! Bằng một tầm đạn! Kìa, sau những vườn cây, trong khe suối. Làng đẹp lắm, ông chủ. Có đủ thú – cây minh quyết, cây đậu ván, đậu Hòa Lan, dầu, rượu vang. Còn đằng kia, trong đụn cát, dưa chuột, cà tô mát, cà và dưa hấu sớm nhất ở Crete. Gió Phi Châu làm cho chúng mau lớn, ông chủ. Nếu ông chủ ngủ trong vườn cây ăn trái ban đêm, ông chủ sẽ nghe thấy chúng nó kêu: rắc! rắc! Và lớn như thổi.


Zorba đi trước, hơi xiên lệch. Ðầu óc hắn hãy còn choáng váng.


– Cố gắng lên, Zorba! Tôi gọi với. Chúng ta thoát nợ rồi. Không việc gì phải sợ hết.


Chúng tôi đi nhanh. Ðất cát trộn lẫn với vỏ sò vỏ ốc. Thỉnh thoảng có một cây tân-hà-liễu, một cây vả dại, một bụi cói, một vài cây thảo-bản bông vàng hắc. Không khí ngột ngạt. Mây mỗi lúc một thêm lũng thấp, gió tắt dần.


Chúng tôi đi qua một cây vả lớn thân chẻ đôi, ngoằn ngoèo bắt đầu rỗng ruột vì già cỗi. Một đứa trẻ dừng lại. Nó hất cằm chỉ cho tôi cây cổ thụ.


– Cây vả của Cô! Nó nói.


Tôi sửng sốt. Trên đất Crete này, mỗi hòn đá, mỗi cái cây đều có một lịch sử bi thảm.


– Của Cô! Tại sao vậy?


– Thời ông nội tôi, con gái của một kỳ mục phải lòng một mục đồng. Nhưng cha cô ta không chịu; cô gái khóc lóc, kêu la, van xin lậy lục, nhưng ông già vẫn không đổi ý! Thế rồi một đêm cả hai cô cậu biến mất. Người ta đổ đi tìm, một, hai, ba hôm, một tuần cũng không thấy họ đâu hết! Nhưng họ bắt đầu bị bệnh truyền nhiễm, bởi thế người ta lần theo mùi hôi thối và tìm thấy họ dưới cây vả này, thối rữa, nhưng vẫn ôm ghì lấy nhau. Ông thấy chưa, người ta tìm thấy họ vì mùi hôi thối.


Ðứa trẻ phá lên cười. Chúng tôi nghe tiếng xôn xao trong làng. Chó bắt đầu sủa, đàn bà nói the thé, gà gáy báo hiệu sự thay đổi trong thời tiết. Trong không khí thoang thoảng mùi bã nho bốc lên từ những thùng cất rượu raki.


– Làng đây rồi! Hai đứa nhỏ la lên và lao đầu chạy.


Khi chúng tôi đi vòng hết đồi cát, thôn làng nhỏ hiện ra, cheo leo trên sườn suối nước. Những ngôi nhà thấp, quét vôi trắng, sát vách nhau; và vì những cửa sổ mở làm thành những chấm đen, những ngôi nhà giống như những cái sọ người nêm trong đá.


Tôi theo kịp Zorba.


– Bây giờ chúng ta đã vào đến trong làng rồi, phải để ý lắm đến cách cư xử đấy nhé, Zorba, tôi khẽ ra lệnh cho hắn. Không được để họ nghi ngờ gì hết, Zorba! Mình hãy tỏ ra là những người làm ăn đứng đắn: Tôi là chủ và bác là đốc công. Dân Crete không đùa giỡn đâu, bác phải biết điều đó. Một khi họ để mắt tới mình là họ khám phá ra ngay cái kỳ cục nơi mình và gán cho mình một biệt hiệu. Không có cách nào thoát được. Tựa một con chó chạy rong với cái xoong cột vào đuôi.


Zorba đưa bàn tay to lớn lên vuốt râu và chìm đắm trong suy tư. Sau cùng hắn nói:


– Này ông chủ nếu có một bà góa trong nội địa, ông không việc gì phải sợ cả. Nếu không có…

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT