Ðại Hội Ðiện Ảnh Việt Nam Quốc Tế 2013 tuyển phim

 


 


Hạn chót gởi phim: 1 Tháng Mười Hai, 2012


 


IRVINE (NV) Ðại Hội Ðiện Ảnh Việt Nam Quốc Tế 2013 cho biết bắt đầu tuyển phim tham dự cho năm tới, với hạn chót là ngày 1 Tháng Mười Hai.







Từ trái, tài tử Ngô Thanh Vân, tài tử Johnny Trí Nguyễn, và Giáo Sư Lan Dương,
tại buổi họp báo chuẩn bị cho ViFF 2011. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Ðại Hội Ðiện Ảnh Việt Nam Quốc Tế (Vietnamese International Film Festival-ViFF) do hai tổ chức bất vụ lợi gồm Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) và Hội Văn Hóa & Ngôn Ngữ (VNLC) tổ chức, sẽ được diễn ra từ 4-7 và 11-14 Tháng Tư, 2013 tại đại học UC Irvine, đại học UCLA, và viện bảo tàng Bowers ở Santa Ana.


Ðêm khai mạc sẽ diễn ra tại rạp Edwards University Cinema 6, Irvine.


ViFF nhận tác phẩm của các đạo diễn cư ngụ tại tất cả quốc gia trên thế giới với điều kiện sau đây:


-Phim của đạo diễn người Việt hoặc gốc Việt có thể đề cập bất cứ đề tài nào, không nhất thiết phải mang đề tài về con người hoặc văn hóa Việt Nam.


-Phim của các đạo diễn không phải người Việt hoặc gốc Việt thì phải liên quan đến con người hoặc văn hóa Việt Nam.


-Phim phải có phụ đề tiếng Anh nếu không nói tiếng Anh.


ViFF 2013 nhận phim dài và phim ngắn ở các thể loại như phim truyện, phim tài liệu, phim thử nghiệm, hoạt họa, video clip ca nhạc.


Gởi phim dự thi không cần đóng lệ phí. Phim gởi đến phải có dấu bưu điện trễ nhất là ngày 1 Tháng Mười Hai, 2012.


Xin vào thăm trang nhà www.VietFilmFest.com để lấy đơn nộp phim.


Ban tổ chức sẽ thông báo kết quả tuyển chọn phim vào Tháng Ba, 2013.


Mọi thắc mắc xin email về [email protected].


ViFF 2013 nhận bản nháp (rough cut), tuy nhiên, bản chính phải được hoàn tất kịp thời để chiếu vào Tháng Tư, 2013.


Kể từ năm 2003, ViFF được biết đến như một đại hội điện ảnh Việt lớn nhất tại hải ngoại. Trong một thập niên qua, ViFF đã thu hút hàng ngàn người tham dự và trình chiếu phim từ các quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Úc, Canada, Pháp, Ðức, Israel, Ba Lan, Anh và Việt Nam.


Nối tiếp sự thành công của năm lần đại hội điện ảnh trước đây, ViFF 2013 sẽ kỷ niệm 10 năm thành lập và tiếp tục truyền thống cách mỗi năm một lần để trình chiếu tác phẩm của các đạo diễn gốc Việt.


Chủ đề của ViFF 2013 là “Flashback/Flashforward.” Với “flashback” (hồi tưởng), ViFF 2013 nhìn lại một thập niên của điện ảnh Việt, và sau đó sẽ “flashforward” (viễn tưởng) – hướng tới tương lai. Từ những tác phẩm của các đạo diễn tiên phong như Trần Anh Hùng, Tony Bùi, Timothy Linh Bùi, và Charlie Nguyễn đến một thế hệ đạo diễn mới gốc Việt trên toàn thế giới, điện ảnh Việt đang cố gắng nới rộng khán giả toàn cầu. Ở giữa phần “flashback” và “flashforward,” ViFF dừng lại để chiêm nghiệm những sáng kiến, nhất là lãnh vực kỹ thuật, vốn góp phần làm nên điện ảnh Việt ngày nay.


Mục đích của ViFF gồm hỗ trợ và quảng bá tác phẩm của các đạo diễn người Việt trên toàn thế giới. Ðại hội cũng hỗ trợ và quảng bá phim mang đề tài về con người hoặc văn hóa Việt Nam.


Như mọi năm, ViFF 2013 sẽ trao giải Trống Ðồng dành cho phim hay nhất (phim dài và phim ngắn), và giải tài tử xuất sắc (nam và nữ). Khán giả của ViFF cũng sẽ được bầu chọn phim dài và phim ngắn hay nhất. Tất cả giải thưởng sẽ được công bố trong buổi lễ bế mạc của ViFF.


Mọi chi tiết về ViFF 2013, xin liên lạc email [email protected], điện thoại (714) 893-6145 hoặc vào trang nhà www.VietFilmFest.com.

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 9)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 9


 


Tôi dừng lại. Khi vừa thấy tôi, tiếng cười của các cô vụt tắt. Khuôn mặt các cô khi thấy một người đàn ông, chợt khép lại một cách hung dữ. Từ đầu tới chân, thân thể của các cô giữ thế thủ và ngón tay các cô hốt hoảng bíu chặt lấy áo cánh cài khuy chặt.


Sợ hãi nổi lên trong máu các cô. Trên suốt một miền bờ biển Crete quay về Phi Châu này, từ nhiều thế kỷ nay, quân cướp biển thường đột nhập, cướp đi dê cừu, đàn bà, trẻ con. Chúng trói họ bằng những sợi dây lưng đỏ, ném họ vào hầm tầu và nhổ neo để đem bán ở Algiers, Alaxandria, Beirut. Từ nhiều thế kỷ nay, trên miền duyên hải viền những bím tóc này, biển đã thốt lên lời than thở. Tôi nhìn đám thiếu nữ hung tợn đang lại gần, cô nọ bám sát vào cô kia, như để làm thành một hàng rào không thể vượt qua. Ðó là một phản ứng tự nhiên, không thể thiếu trong những thế kỷ qua, và ngày hôm nay trở lại không duyên cớ, theo nhịp một điều tất yếu đã biến mất.


Khi các thiếu nữ đi qua mặt tôi, tôi lặng lẽ tránh sang bên, mỉm cười. Thế là ngay lập tức như thể các cô đột nhiên cảm thấy nỗi nguy hiểm sợ hãi đã qua hàng thế kỷ rồi, thảng thốt thức dậy trong thời đại an bình của chúng ta, khuôn mặt các cô tươi lên, chiến tuyến hàng ngũ chặt chẽ giãn ra và nhất loạt, các cô cất tiếng vui tươi và trong trẻo chào tôi. Ngay lúc đó, chuông ở tu viện xa xa, reo vui, cuồng nhiệt, vang rền không gian với những âm thanh hân hoan.


Mặt trời đã lên cao, bầu trời trong vắt. Tôi thu mình trong đá, đậu như một con hải âu trên một tảng đá ngầm, và ngắm biển. Tôi cảm thấy thân thể tôi đầy sinh lực, tươi mát, thuần thục. Và tâm trí tôi, theo sóng trở thành một lượn sóng và cũng tuân theo nhịp biển, không chống cưỡng.


Tim tôi dần dần căng phồng lên. Nhiều giọng nói mờ ám, hống hách và nài nỉ cất lên trong tôi. Tôi biết ai đang kêu gọi tôi. Bất cứ khi nào tôi ở một mình trong giây lát, nó lại kêu gào, xao xuyến vì những linh cảm kinh khủng, vì những mối sợ hãi điên cuồng, vì những cảm hứng bồng bột và chờ đợi nơi tôi sự giải thoát.


Tôi vội vàng mở Dante, người “bạn đồng hành” ra, để không nghe và để yểm trừ con quỉ khủng khiếp. Tôi lật giở đọc chỗ này một câu, chỗ kia một tiết, hồi tưởng lại cả đoạn ca dài, và từ những trang mãnh liệt đó, những bị kẻ đọa đầy vừa đứng lên vừa gào thét. Trên cao hơn, những linh hồn bị thương đang cố gắng trèo lên một sườn núi cheo leo. Cao hơn nữa, trong những cánh đồng ngọc bích, những tâm hồn được ân phúc thơ thẩn tựa những con đom đóm sáng rực. Tôi đi đi lại lại từ trên xuống dưới tòa dinh thự khủng khiếp của định mệnh, tôi lang thang dạo chơi trong Ðịa Ngục, Lò Luyện Tội, Thiên Ðàng như ở nhà riêng. Tôi đau khổ, hy vọng hay thưởng thức vĩnh phúc trong khi buông theo những vần thơ kỳ diệu.


Ðột nhiên tôi gập Dante lại và nhìn ra khơi. Một con hải âu, bụng đặt trên mặt nước, lên xuống dập dình theo sóng biển, sung sướng hưởng niềm hoan lạc tuyệt vời của buông xả. Một thiếu niên sạm nắng hiện ra bờ nước, đi chân không và miệng hát những bản tình ca. Có thể cậu ta hiểu nỗi đau khổ những bài hát đó diễn tả, bởi giọng cậu ta bắt đầu khan như giọng một con gà trống con.


Trong bao năm, bao thế kỷ nay, những vần thơ của Dante cũng được ngâm lên như thế trong xứ sở của thi sĩ. Và giống như những bản tình ca sửa soạn cho thanh thiếu nữ yêu nhau, những vần thơ nóng bỏng Florentine sửa soạn trai tráng Ý tranh đấu cho giải thoát. Tất cả, từ thế hệ nọ sang thế hệ kia, cảm thông với tâm hồn thi nhân, đổi nô lệ họ thành tự do.


Tôi nghe thấy tiếng cười sau lưng và lập tức rớt từ những đỉnh cao của Dante xuống. Tôi quay lại và thấy Zorba đứng sau lưng tôi, tươi cười rạng rỡ.


– Làm cái trò gì lạ vậy, ông chủ? Hắn nói to. Tôi đi kiếm ông cả giờ, nhưng biết ông ẩn ở đâu mà kiếm?


Thấy tôi yên lặng, hắn tiếp:


– Quá trưa rồi, con gà đã chín; con vật đáng thương đó sắp rừ nát ra cả rồi đấy! Ông biết chưa?


– Tôi biết rồi, nhưng tôi không đói.


– Không đói! Zorba vừa kêu lên vừa vỗ đánh đét một cái vào đùi. Nhưng từ sáng tới giờ ông đã có chút gì dính răng đâu. Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Ðó là con lừa kéo xe của chúng ta, ông thấy không? Nếu mình không cho nó ăn, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi.


Từ bao năm nay tôi khinh miệt những lạc thú của xác thịt, và nếu thuận tiện, tôi ăn vụng trộm, như phạm một hành động nhục nhã. Nhưng để Zorba khỏi kỳ kèo, tôi nói:


– Ðược rồi, tôi tới đây.

Bộ mặt thật của Bắc Kinh: Lòng dân đã rõ, còn đảng?

 


Song Chi/Người Việt


 


Mới cách đây chừng một vài năm thôi, báo chí chính thức ở Việt Nam còn rất dè dặt khi đưa những thông tin trung thực về mối quan hệ bất cân xứng mọi mặt giữa Việt Nam và Trung Quốc, hay sự lấn lướt, bắt nạt Việt Nam của Trung Quốc trên Biển Ðông.









Khi Bắc Kinh xua 23,000 tàu cá xuống Biển Ðông, Hội Nghề Cá Việt Namgọi hành động này là “xâm lược.” (Hình: Tân Hoa Xã)


Vả lại, nếu báo chí Việt Nam có đưa tin, thì ngay lập tức, nếu “nhà nước ta” không nhắc nhở thì “nhà nước bạn” cũng tỏ ý không bằng lòng!


Một trong những ví dụ như vậy là khi những ngư dân Việt Nam lên tiếng về cách đối xử thiếu nhân đạo và trái luật pháp quốc tế của tàu hải giám, tuần tra trên biển Trung Quốc. Như đánh đập, cướp phá tài sản, ngư cụ… của ngư dân Việt Nam, lúc họ chạy vào trú bão tại quần đảo Hoàng Sa. (“Chuyện kể của những ngư dân trở về từ cõi chết,” VietnamNet).


Ông đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam lúc bấy giờ, Tôn Quốc Tường, trong buổi họp báo ngày 6 Tháng Giêng năm 2010 tại Hà Nội, đã nhắc nhở, khuyên răn báo chí Việt Nam:


“Không nên đưa tin những việc xấu như thế này. Phóng viên Việt Nam kiểm tra lại, báo chí Trung Quốc ít đưa tin về tranh chấp trên biển, tranh chấp về nghề cá và chúng tôi luôn xuất phát từ đại cục, tuy rằng chúng tôi có lý nhưng chúng tôi thấy cũng không nên đưa tin.” (“Chờ điều kiện chín muồi giải quyết tranh chấp Biển Ðông, VietnamNet)!


Ngay cả những tin tức có thể tạo ra hình ảnh không đẹp về một “nước Trung Quốc đàn anh” như thực phẩm nhiễm độc, hàng hóa độc hại, kém chất lượng, những kiểu làm ăn gian dối, lừa lọc của thương lái, các công ty Trung Quốc… Báo chí cũng chỉ đưa tin ở mức độ vừa phải.


Nhưng bây giờ, ngay trên báo chí chính thức ở Việt Nam, người ta có thể thấy tràn ngập những “thông tin không thuận lợi” về Trung Quốc, và quan hệ Việt-Trung.


Nguyên nhân do chính từ phía nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng, gây hấn.


Trung Quốc ngày nay không còn che giấu tham vọng độc chiếm Biển Ðông và ý đồ vươn lên bá chủ thế giới nữa.


Riêng với Việt Nam, Trung Quốc đã và đang nuốt dần Việt Nam bằng mọi thủ đoạn, trên biển lẫn trên đất liền, đã và đang kiểm soát, khống chế Việt Nam nặng nề từ chính trị, quân sự, ngoại giao cho đến kinh tế.


Trước thực tế đó, ngoại trừ một số ít bài viết lạc lõng, tiếp tục trơ trẽn ca ngợi tình hữu nghị Việt-Trung, khẳng định sự bền vững trong mối quan hệ giữa hai đảng, hai nước, báo chí “lề phải” không thể lảng tránh trách nhiệm/chức năng báo chí của mình. Ðó là phản ánh trung thực nhất, trong giới hạn có thể được, những gì đang diễn ra.


Và bên dưới những thông tin, bài viết, người đọc có thể cảm nhận thái độ, quan điểm của những nhà báo trong khi họ vẫn bị trói bởi cái “vòng kim cô kiểm duyệt” của nhà cầm quyền, và nỗi sợ hãi phải vượt qua.


Còn báo chí “lề trái” thì thoải mái. Từ các báo, đài lớn ở hải ngoại, các diễn đàn độc lập, trang blog cá nhân, các trang mạng xã hội với hàng triệu người Việt trong và ngoài nước tham gia… tin tức, tình hình đất nước được đăng tải, cập nhật nhanh chóng, phong phú, đa chiều, được bình luận, bàn tán… từng giờ từng phút.


Người Việt, bất kể đang sống ở đâu, nhân thân, quan điểm chính kiến như thế nào, nhưng nếu còn quan tâm đến chính trị, đến đất nước, thảy đều lo lắng trước diễn biến tình hình biển Ðông ngày càng trở nên căng thẳng. Và những hành động ngày càng quyết liệt từ phía Trung Quốc.


Nhiều nhà phân tích bình luận chính trị lẫn người dân bình thường đã phải nghĩ đến những cuộc xung đột võ trang sẽ xảy ra, không sớm thì muộn, và những kịch bản xấu nhất, có thể, cho Việt Nam.


Cũng có người đã so sánh Việt Nam hiện nay, khi đang phải đối diện với họa bành trướng từ phương Bắc dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, tình hình còn tệ hơn, nguy ngập hơn cả thời nhà Nguyễn khi đối diện với âm mưu xâm lược của Pháp.


Một số văn nghệ sĩ, nhà thơ như Trần Mạnh Hảo, Ðỗ Trung Quân, Bùi Chí Vinh… đã lên tiếng bày tỏ tâm tư qua những bài thơ.


Một số trí thức, nhân sĩ trong và ngoài nước, kể cả những đảng viên cộng sản lão thành, công thần của chế độ, các cựu tướng lĩnh trong quân đội đã lên tiếng, bằng những bài viết, thư ngỏ, kiến nghị gửi tới nhà cầm quyền.


Mới đây nhất là thư ngỏ của 71 nhân sĩ, trí thức gửi tới Quốc Hội, lãnh đạo nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam cảnh báo tình hình nguy cấp của đất nước trước hiểm họa xâm lược của Trung Quốc và kiến nghị cần phải cải cách toàn diện về chính trị.


Trong Tháng Bảy, Tháng Tám vừa qua, người dân cũng đã tự phát tổ chức những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc tại Sài Gòn, Hà Nội. Tiếp nối những cuộc biểu tình cùng mục đích đã từng nổ ra trong những năm 2007, 2008, 2011…


 


* Bộ mặt thật của Bắc Kinh đã lộ rõ


 


Lòng người dân Việt Nam đối với giặc bành trướng bá quyền phương Bắc từ ngàn đời xưa cho đến bây giờ như thế nào cũng đã rõ ràng.


Lòng dân là sức mạnh lớn nhất cho mọi chế độ nói chung và cho nhà cầm quyền Việt Nam nói riêng. Ðặc biệt trong hoàn cảnh Việt Nam không có đồng minh thực sự và trước một kẻ thù vừa hung hăng, tàn bạo đồng thời thâm hiểm, thủ đoạn, đổi trắng thay đen như Trung Quốc.


Nhưng ý hướng của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam thì cả nhân dân Việt Nam lẫn thế giới vẫn chưa thật hiểu rõ.


Họ có thực tâm muốn bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước? Họ sẽ làm gì?


Nhân dân Việt Nam và thế giới, cho đến tận giờ phút này, đều không thể hiểu và tin tưởng được nhà cầm quyền Việt Nam.


Nếu nhìn từ các biện pháp, chính sách cụ thể cho đến chiến thuật, chiến lược lâu dài nhằm đối phó với nguy cơ bị lệ thuộc, xâm lăng về mọi mặt, từ đường lối ngoại giao, chính trị cho đến cách hành xử đối với người dân… Có thể thấy, nhà cầm quyền Việt Nam không/chưa có gì thay đổi. Thậm chí ngày càng bạc nhược trước kẻ thù và tàn tệ với nhân dân.


Chưa bao giờ trong suốt lịch sử cầm quyền hơn 6 thập kỷ, tính chính danh, vai trò và khả năng lãnh đạo đất nước của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam lại bị thử thách nặng nề như lúc này.


Trong nỗi bức xúc trước sự im lặng một cách không hiểu nổi của nhà nước, người Việt nhìn sang các quốc gia khác để cay đắng nhận ra nỗi bất hạnh của Việt Nam!


So với Việt Nam, ngay cả những quốc gia nhỏ bé yếu ớt nhất hoặc hà khắc bảo thủ nhất trong khu vực cũng xử sự đúng đắn hơn với nhân dân, với nước láng giềng Trung Quốc trong những tình huống tương tự. Hoặc có những thay đổi về đường lối chính trị, ngoại giao phù hợp hơn với tình thế.


Campuchia, quốc gia nhỏ yếu hơn Việt Nam nhiều lần, lại bị kẹp bởi cả hai “ông anh” Việt Nam và Trung Quốc, nhưng từ lâu, Campuchia đã không đi theo mô hình độc đảng của Việt Nam, Trung Quốc, không nhất nhất học theo Trung Quốc như Việt Nam.


Campuchia không có tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Ðông, ngược lại, chính phủ Hun Sen lại bị các đảng đối lập cáo buộc là đã để mất đất vào tay Việt Nam khi cắm mốc biên giới đường bộ.


Áp lực của các đảng đối lập cộng thêm quyền lợi kinh tế to lớn cho Campuchia từ Trung Quốc đã khiến Thủ Tướng Hun Sen chọn đứng về phía Trung Quốc tại hội nghị Ngoại Trưởng ASEAN lần thứ 45 vào Tháng Bảy, mặc dù chế độ của ông ta thường bị cho là do Việt Nam dựng nên.


Philippines, một nước cũng yếu hơn Việt Nam về quân sự nhưng vẫn cương quyết đối đầu với Trung Quốc trong vụ xung đột quanh bãi cạn Scarborough vừa qua.


Lần lượt các nhân vật lãnh đạo cao nhất, kể cả tổng thống của Philippines, đã lên tiếng bày tỏ quan điểm cứng rắn trong việc bảo vệ lãnh thổ, tố cáo chính sách hung hăng bắt nạt các nước láng giềng của Trung Quốc với thế giới. Chính phủ Phillipines còn ráo riết tranh thủ sự liên minh với Hoa Kỳ và các nước khác trong khu vực, tích cực mua sắm vũ khí, đòi đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế…


Còn Miến Ðiện, quốc gia hà khắc nhất trong khu vực đã thay đổi, tìm cách thoát ra khỏi sự lệ thuộc của Trung Quốc và tiến hành những cải cách chính trị để tiến gần hơn với phương Tây và thế giới.


Có nghĩa là chính phủ của các quốc gia, dù khác nhau về thể chế chính trị, dù có lúc thế này thế khác, cuối cùng vẫn đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của chế độ.


Chỉ có nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục im lặng, câu giờ và tính toán cho quyền lợi của đảng và của chính họ!

Bỏ Cộng cứu nước

 


Ngô Nhân Dụng


 


Bài Giải Cộng Nhi Thoát của Hà Sĩ Phu mới được công bố có thể gửi ngay cho các đảng viên cộng sản Việt Nam để giúp họ tự thoát khỏi những sai lầm, những điều mê hoặc được cố kết từ lâu nên rất khó tự mình cởi bỏ.


Ðây là những lời tâm huyết, lý luận chặt chẽ, nhắm vào lương tri và lương tâm của những ai còn đang suy nghĩ, lo lắng cho tương lai dân tộc.


Giải là cởi trói. Có cởi bỏ chủ nghĩa Cộng sản thì mới thoát được. Không phải chỉ giải thoát cho các cá nhân các đảng viên cộng sản; mà là cứu dân tộc thoát khỏi mối đe dọa của chính quyền Trung Quốc. Chính quyền đó do một đảng cộng sản cầm đầu nên chúng ta gọi là Trung Cộng. Thời chiến tranh, miền Nam đã đưa ra khẩu hiệu “Diệt Cộng cứu nước.” Bây giờ, mục tiêu của dân tộc Việt Nam không phải là tiêu diệt những người theo cộng sản. Dân Việt Nam chỉ cần xóa bỏ một chế độ độc tài tham nhũng đang nhân danh chủ nghĩa Cộng sản để tiếp tục đàn áp dân trong khi nhu nhược, hèn yếu trước áp lực xâm lấn của Trung Cộng. Muốn xóa bỏ chế độ đó, trước hết phải giúp cho chính các đảng viên cộng sản tự cởi trói lấy, tự giải mê cho họ.


Bài nhận định của Hà Sĩ Phu có mục đích đó. Ngay từ đầu ông đã nói đến lá thư của nhà văn Phạm Ðình Trọng gửi cho những đảng viên vẫn còn lưu luyến với Chủ nghĩa Cộng sản. Phạm Ðình Trọng muốn thuyết phục các đồng chí cũ phải biết một sự thật, là: “Chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xóa bỏ tận gốc.” Rất nhiều người đã nêu ra điều đó trong không biết bao nhiêu bài viết từ lâu rồi. Hà Sĩ Phu đã làm một bản tổng kết các ý kiến được viết từ lâu nay, và ông nhấn mạnh đến một nhu cầu cần thiết của đất nước ngay bây giờ. Là phải xóa bỏ ngay cái chế độ đang còn tôn thờ Chủ nghĩa Cộng sản. Vì chỉ xóa bỏ chế độ tham tàn đó, mới giải thoát được dân tộc qua tình trạng nguy hiểm trước mối đe dọa của đế quốc Trung Cộng.


Chắc chắn quý vị phải đọc kỹ bài viết của Hà Sĩ Phu, và gửi cho tất cả các đảng viên cộng sản mà quý vị biết, để giúp họ tự cởi trói. Không phải chỉ vì muốn giúp họ, mà vì tương lai dân tộc. Hà Sĩ Phu là người đầu tiên ở nước ta đã dùng ngòi bút sắc bén trình bày những sai lầm của chủ nghĩa Mác xít; trước khi các chính quyền cộng sản ở Châu Âu sụp đổ. Từ đó, trong ba chục năm nay, ông đã bị đảng Cộng sản Việt Nam bỏ tù, quản thúc; đời sống hàng ngày của ông và gia đình luôn luôn bị đặt dưới các thủ đoạn sách nhiễu hăm dọa của guồng máy công an. Bài viết mới của ông sẽ là cái đinh cuối cùng đóng trên chiếc quan tài của Chủ nghĩa Cộng sản và chế độ cộng sản tại Việt Nam. Ông báo động: “Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa.” Vì thế phải giải Cộng, vì theo ông “Chừng nào còn giữ chế độ gọi là ‘Xã hội chủ nghĩa’ bên cạnh anh Cộng sản khổng lồ Trung Quốc, thì họa mất nước là thường trực.” Hà Sĩ Phu đã trình bày đầy đủ, rõ ràng, rành mạch, những lý luận vững vàng để giúp người đọc thấy hai sự thật trên. Ngày xưa Phùng Quán đã thề: “Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.” Với bài tham luận này, Hà Sĩ Phu đã viết văn lên đá. Những đảng viên cộng sản còn giữ được lòng yêu nước, mà không bị trói chặt về địa vị, quyền lợi riêng, không bị che mắt vì ngã mạn hẹp hòi, đọc kỹ bài này xong sẽ phải quyết định ra khỏi đảng. Họ có thể làm nên lịch sử, nếu gây được một phong trào đảng viên bỏ đảng. Trong ba triệu đảng viên chỉ cần một trăm người bắt đầu công khai bỏ đảng thì sẽ lôi kéo hàng ngàn người khác ngay. Ngàn người này sẽ khích lệ nhiều ngàn người khác dứt khoát. Khi mỗi thành phố có một trăm, hai trăm người đứng ra đốt, xé thẻ đảng trước công chúng, thì nhân dân sẽ hết sợ công an. Người dân sẽ được giải thoát.


Hà Sĩ Phu vạch rõ tình trạng hiện nay, từ trên xuống dưới các đảng viên cộng sản đang đóng tuồng giả dối với nhau. Trên thì biết cả cái chủ nghĩa, tư tưởng của đảng là rỗng tuếch, nhưng cứ phải bám lấy để giữ quyền hành. Dưới thì biết bên trên đóng kịch nhưng cũng giả bộ tin để được chia chác lợi lộc nhờ tham nhũng. Giống trong truyện cổ tích kể chuyện ông vua không mặc quần mà các tay chân bộ hạ vẫn xun xoe nịnh vua mang cái quần đẹp quá! Hai bên cùng nói dối vì cần cấu kết với nhau để bám lấy quyền lợi, địa vị. Chúng đàn áp tất cả các ý kiến và hành vi phản kháng dù chỉ phản đối hết sức ôn hòa. Hà Sĩ Phu nói thẳng tình trạng “Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội KIÊU BINH khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.” Ông nói sự thật, “Kiêu binh vừa gắn chặt với Ðảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật…”


Người Việt Nam nào có mắt đều phải thấy mình đang phải sống trong tình cảnh đó. Nhưng người dân cũng không dám nói sự thật “Ông Vua không mặc quần.” Người dân Việt Nam cũng biết, như Hà Sĩ Phu viết: “Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã ‘khỏa thân tới số’ thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được?” Cho nên trên các blog người ta đã gọi thẳng Hồ Chí Minh bằng cái tên “Ku Nghệ!”


Trong bài mới công bố của Hà Sĩ Phu, phần có trọng lượng nhất vạch rõ âm mưu thôn tính nước Việt Nam của đảng Cộng sản Trung Quốc. Âm mưu này được thực hiện từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh cầu viện Trung Cộng; Hà Sĩ Phu phân tích: “Sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn ‘quốc tế đại đồng’ che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân.” Ðến nay, Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự tìm chui vào bẫy, “cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận.” Còn phía Trung Cộng, họ hành động ngày càng trắng trợn, như thể họ công nhiên thách thức: “Ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy, làm gì được ông?”


Xưa nay Cộng sản mạnh vì họ dối trá giỏi. Những lời dối trá còn di họa tới ngày nay; cần phải giúp chính các đảng viên ít hiểu biết thấy sự thật. Nhiều luận điệu cũ rích vẫn ám ảnh họ, cần được cởi trói. Như Hà Sĩ Phu nêu ra, một luận điệu quen thuộc: “Ðảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ?” Và ông chỉ rõ: Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam được đội lốt dưới chiêu bài yêu nước. Sức mạnh là do người Việt được kích thích bằng lòng yêu nước, không biết mình đang hy sinh cho một chủ nghĩa quốc tế, bất cần quốc gia. Ðảng Cộng sản biết lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt Nam để cướp lấy chính quyền, thực hiện giấc mơ hoang đường của Marx, Lenin, vì bắt toàn dân Việt Nam thế rơi vào cái bẫy của đế quốc Mao Trạch Ðông.


Một thứ luận điệu tương tự, là trong thời 1945 đảng Cộng sản phải cướp chính quyền vì “lúc đó ai là người lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn đó, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước tiến bộ như ngày hôm nay?”


Sự thật là: Năm 1945 Việt Nam đã có một chính phủ, mặc dù do người Nhật giúp dựng lên nhưng toàn những người yêu nước và có khả năng giúp nước. Trước khi Nhật bại trận, đã có rất nhiều đảng phái “quốc gia” tức là không theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế, cùng đấu tranh giành độc lập, chống Nhật, chống Pháp. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tìm cách ký kết thỏa hiệp với quân Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, vân vân, lên tiếng tố cáo Hồ Chí Minh đi đêm với Pháp, với Tàu, cho nên bị đảng Cộng sản tìm mọi cách thủ tiêu. Trong những năm 1945-46, Hồ Chí Minh theo Ðệ Tam Quốc Tế nên đã giết những người yêu nước như Trương Tử Anh (Ðại Việt), Lý Ðông A (Duy Dân), Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch (Cộng Sản Ðệ Tứ), học giả Phạm Quỳnh, các nhà văn Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Ðảng), và biết bao nhiêu người yêu nước theo khuynh hướng“quốc gia” khác, trước khi phải chống Pháp vì không thỏa hiệp được. Mục đích của họ là chiếm “độc quyền” lãnh đạo nước Việt Nam để thực hiện chủ nghĩa cộng sản.


Một sự thật cần được vạch rõ là sau khi Ðại Chiến Thứ Hai chấm dứt, trên thế giới các dân tộc bị trị đều vùng lên. Tất cả cuối cùng đều giành được độc lập, mà không cần có đảng cộng sản nào cầm đầu cả. Chỉ có nước Việt Nam bất hạnh rơi vào tay cộng sản, mối họa đó kéo dài cho tới bây giờ.


Bây giờ ai còn nói đảng Cộng sản “xây dựng đất nước tiến bộ” thì đúng là đang chui đầu trong bùn đen không trông thấy gì cả! Cứ nhìn vào tình cảnh hiện nay ở nước Việt Nam mà so sánh với các nước Á Ðông khác thì biết. Các nước Phi Luật Tân, Indonesia, Thái Lan, Nam Hàn, Mã Lai, Ðài Loan, có dân nước nào nghèo nàn và chịu nhục nhã như nước mình hay không?


Tất cả những lời dối trá, mê hoặc như các luận điệu kể trên sẽ được giải mê khi bộ mặt thật của chế độ cộng sản bị phơi bày. Một trong những người đóng góp lớn cho công việc giải mê này trong gần 30 năm qua là Hà Sĩ Phu. Các bạn trẻ ở trong và ngoài nước có thể đọc bài viết mới của ông trong nhiều lần, mỗi lần một đoạn, mỗi lần lại thảo luận và nhờ những người lớn tuổi có hiểu biết giúp giải thích thêm cho rõ.

Bắt nghi can ném mìn vào quán ăn vì ghen tức

 


HÀ NỘI (NV) – Một nghi can là chủ quán ăn vì ghen tức đã ném mìn vào quán của đối thủ ở Hà Nội.










Nghi can Thiều Văn Hiếu tại cơ quan điều tra. (Hình: Báo Dân Việt)


Báo Dân Việt cho hay, “Khoảng 1 giờ sáng 10 tháng 8, anh Nguyễn Văn Tuất đang dọn quán ăn đêm ở thôn Phú Mỹ, Mỹ Ðình, Từ Liêm, Hà Nội, thì thấy có một bọc nylon lạ. Theo phản xạ, anh đá ra ngoài nhà thì phát ra tiếng nổ lớn.”


Rất may, vào lúc này, khách hàng ở quán đã về hết, trong nhà cũng chỉ còn em của anh Tuất nên không có ai bị thương.


Sau khi vụ nổ xảy ra, công an điều tra đã triệu tập nghi can Thiều Văn Hiếu (22 tuổi), ở xã Ðội Bình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội.


Tại cơ quan điều tra, nghi can khai nhận, vì nghĩ rằng quán của anh Tuất đã hút hết khách của nhà mình nên Hiếu đã dùng mìn tự tạo để trả đũa. Hiếu khai mua mìn của người ở gặp ở Bến xe Mỹ Ðình với giá 150,000 đồng Việt Nam. (KN)

Một tổ chức Công Giáo ở Việt Nam đòi nhà cầm quyền thả người

 


NGHỆ AN (NV) – Một tổ chức Công Giáo ở Việt Nam phổ biến lời kêu gọi “Các cá nhân, đoàn thể, tổ chức, các chính phủ yêu chuộng công lý và sự thật trên toàn thế giới” đòi hỏi chế độ Hà Nội trả tự do cho 17 thanh niên Công Giáo và Tin Lành bị giam giữ cả năm qua.









Các thanh niên Công Giáo đang bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ suốt một năm qua. (Hình: Thanh Niên Công Giáo)


Những người đó, tổ chức Thanh Niên Công Giáo cáo buộc, CSVN đã bắt cóc, giam giữ tùy tiện “vi phạm các công ước quốc tế về nhân quyền, công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, và nghiêm trọng hơn cả là chà đạp lên chính luật pháp mà họ đã tạo nên.”


Tổ chức Thanh Niên Công Giáo nói đã hơn một năm qua kể từ khi họ bị bắt, “nhà cầm quyền đã không cho họ được tiếp xúc với luật sư, không được hỗ trợ về tư pháp như luật pháp Việt Nam đã quy định. Ðiều đáng chú ý là đến nay, nhà cầm quyền vẫn chưa đưa ra được bất cứ một bằng chứng nào để buộc tội.”


Trong khi đó, 2 trong số 17 người mẹ của các thanh niên này đã “chết trong nỗi buồn phiền, uất ức, sợ hãi và quẫn bách vì bị chính quyền khủng bố tinh thần. Như bà Ðỗ Thị Tần, mẹ của blogger Lê Văn Sơn và bà Ðặng Thị Kim Liêng, mẹ của nhà báo tự do, blogger Tạ Phong Tần.”


Danh sách các người bị bắt và không biết bao giờ ra tòa gồm có “anh Ðặng Xuân Diệu, anh Hồ Ðức Hòa, anh Nguyễn Văn Oai, anh Chu Mạnh Sơn, anh Ðậu Văn Dương, anh Trần Hữu Ðức, anh Lê Văn Sơn, anh Nông Hùng Anh, anh Nguyễn Văn Duyệt, anh Nguyễn Xuân Anh, anh Hồ Văn Oanh, anh Thái Văn Dung, anh Trần Minh Nhật, chị Tạ Phong Tần, anh Trần Vũ Anh Bình, anh Nguyễn Ðình Cương và anh Hoàng Phong.”


Thân nhân nhiều người trong số đó không được thăm gặp và không biết tình trạng sức khỏe của họ ra sao. Blogger và nhà báo tự do Tạ Phong Tần được biết đã tuyệt thực nhiều lần và cương quyết phủ nhận các cáo buộc.


Tổ chức nói trên kêu gọi, “Các cá nhân, tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội, các chính phủ yêu chuộng công lý và sự thật tiếp tục lên tiếng và bằng những hành động cụ thể để đòi buộc nhà cầm quyền CS Việt Nam thả ngay tức khắc và vô điều kiện đối với 17 thanh niên Công Giáo và Tin Lành này.”


Nhóm Thanh Niên Công Giáo cũng kêu gọi, “Các tổ chức các tôn giáo người Việt trong nước cũng như ở nước ngoài yêu mến công lý và sự thật tiếp tục tổ chức cầu nguyện và lên tiếng bênh vực cũng như truyền đạt cho những anh chị em chưa có thông tin về việc bắt bớ và giam cầm trái pháp luật này.”


Ðồng thời họ đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN “phải tôn trọng bản tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký kết. Ðồng thời chấm dứt ngay những hành động bắt bớ và giam cầm trái pháp luật như đã đối xử với 17 thanh niên Công Giáo và Tin Lành này.”


Nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế đã lên tiếng kêu gọi Hà Nội trả tự do cho họ nhưng không thấy kết quả.


Bà Tạ Phong Tần dự trù ra tòa ngày 7 tháng 8, 2012 vừa qua cùng với các ông Nguyễn Văn Hải tức Blogger Ðiếu Cày và Phan Thanh Hải tức blogger Anhbasaigon, nhưng vụ xử bị hoãn lại, chưa biết bao giờ. (TN)

Nóng, ‘không có sôi’

 


Về “Nước ao hồ Mỹ nóng sôi, hàng ngàn cá chết”



Nước ao hồ Mỹ nóng, không có sôi.


Andy Diep

Giải Cộng Nhi Thoát

 


(Bỏ cộng sản thì thoát)


 


Hà Sĩ Phu


 


Trong “Thư gửi người đang yêu” nhà văn Phạm Ðình Trọng đã nói với những bạn bè còn vương vấn chút “yêu đương” với Chủ nghĩa Cộng sản, rằng chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xóa bỏ tận gốc.


Có một thực tế là trong nước cũng không ít người đã suy nghĩ gần giống như vậy nhưng còn đắn đo chưa nói hết ra thôi. Nhưng kẻ xâm lược đâu có chờ ta, chúng cứ khẩn trương lấn tới, ngày một nguy hiểm. Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa.Trước tình hình ấy, nhiều Blogger đã bày tỏ ý kiến rốt ráo quyết liệt hơn trước. Tôi xin liên kết nhiều ý kiến về lý luận và thực tiễn đã có trên công luận, từ gốc đến ngọn, nói gọn lại cho rõ ràng hơn.


 


1. Nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lê đã xong về lý luận:


Chủ nghĩa Mác-Lê [1] là một lý thuyết muốn làm điều tốt nhưng nội dung tư duy lại phi khoa học, hoang tưởng, nên sau những phấn khích ban đầu, cuối cùng chỉ tạo ra những xã hội phi lý, đảo ngược luân thường, kìm hãm và phá nát xã hội, tạo những cơ hội bằng vàng cho những kẻ cơ hội chính trị lợi dụng nhảy lên thành những bạo chúa mới, và gây những tai họa cực lớn cho nhân loại, vì thế cần phải vứt bỏ.


Trải hơn một thế kỷ và trên phạm vi toàn nhân loại, đến nay nhận thức khoa học đào thải chủ nghĩa hoang tưởng ấy đã hoàn tất. Quanh vấn đề phê phán chủ nghĩa này bây giờ nói gì cũng chỉ là lặp lại (hoặc nhai lại) những điều đã giải quyết xong. Với một chân lý đã hiển nhiên thì mọi lý luận dài dòng đều là thừa. Chân lý đã có (căn cứ vào nhân loại văn minh) thì mặc nhiên sử dụng đâu cần chứng minh lại? Chân lý nằm ở cộng đồng nhân loại 200 nước, trong đó có tất cả những những nước tiêu biểu nhất cho tri thức nhân loại, hay nằm ở 4 nước Cộng sản tàn dư đang cố biến thái để tồn tại?


Với người có tim óc bình thường, chân lý ấy khỏi cần bàn cãi. Còn với những luận điểm “chày cối” thì vấn đề lại sang một bình diện khác, không còn ở lý luận khoa học, càng lý luận khoa học bao nhiêu lại càng vô ích bấy nhiêu.


 


2. Vấn đề Mác-Lê chưa xong trong thực tế Việt Nam


Mặc dù chân lý đã hiển nhiên, nhưng ở Việt Nam, với 3 “típ” người này thì chân lý ấy vẫn cứ “có vấn đề” để tranh cãi mãi không dứt:


– những người quá yếu về tư duy khoa học nên lạc hậu về nhận thức,


– những người có tư duy nhưng còn nặng duy cảm hơn duy lý, nên lúng túng chưa biết xử lý ra sao với gánh nặng tình nghĩa và di sản trong quá khứ


– những kẻ cố tình cãi chầy cãi cối vì mục đích duy lợi.


Tổng số 3 “típ” người này đang còn rất đông và còn chi phối xã hội, nên trong thực tế câu chuyện Mác-Lê chưa thể chấm dứt.


Tùy theo mức độ và động cơ khước từ chân lý mà họ có thể còn những nét đáng yêu, đáng thông cảm, hoặc đã thành đáng trách, đáng giận, hoặc đáng ghét. Với những trường hợp ấy hoặc chỉ cần nói ngắn gọn, chỉ nói vào những chuyện thực tế, hoặc phải ứng xử bằng cách khác, tuyệt nhiên không cần lý luận bài bản dài dòng như một đề tài triết học chuẩn mực cho phí công.


Lại có người suy nghĩ đơn giản: Chính ÐCS ngày nay thực chất có theo Mác-Lê nữa đâu, ta nói Mác-Lê nữa làm gì? Xin thưa, ÐCS chỉ bỏ một phần trong “Mác Kinh tế” thôi, đâu có bỏ lề lối chuyên chính Mác-Lênin-Staline trong hệ thống chính trị? ÐCS còn cần đến Mác-Lê cả về danh nghĩa lẫn nội dung.


Chủ nghĩa Mác-Lê (và dẫn xuất là tư tưởng HCM) vẫn là cơ sở để một đảng CS độc quyền có thể tồn tại, vẫn là yêu cầu có tính chất sinh-tử để duy trì một xã hội với nhiều điều ngang trái như hiện nay, mất nó điều 4 Hiến Pháp sẽ không có lý do tồn tại, đảng phải giữ nó như giữ con ngươi của mắt mình chứ không phải chỉ là cái vỏ hờ bên ngoài. Có điều là cái mà người ta cần đặt lên bàn thờ để sử dụng chưa hẳn đã là cái người ta coi là thiêng liêng (như sẽ nói thêm ở phần sau).


Thực chất khẩu hiệu “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” không phải nhằm cái đích XHCN xa xôi mà ai cũng biết là không có thật, mà phải hiểu một cách thiết thực đó là “Kinh tế thị trường kiểu Cộng sản,” tức là quá trình “tư bản hóa theo những bài bản có lợi nhất mà giới CS chóp bu độc quyền mong muốn,” là dùng chuyên chính vô sản độc tôn để độc quyền tích lũy tư bản, không loại trừ quyền buôn bán tài nguyên và lãnh thổ quốc gia. Chừng nào quá trình tư bản hóa ấy đã xong thì cái vỏ Mác-Lê sẽ hết tác dụng, và buộc phải hết tác dụng, nếu không thì những nguyên lý “có áp bức thì có đấu tranh” và “đào mồ chôn Tư bản” sẽ quay ngược mũi dùi vào chính giai cấp Tư bản đỏ do Mác-Lê đẻ ra.


 


3. Vua đã cởi truồng, dân làm sao còn giữ “Lễ”?


Tại sao sự giả dối lại phát triển thành căn bệnh phổ biến và trầm kha như hiện nay?


Một chủ nghĩa phi khoa học lại muốn được mọi người tôn vinh là duy nhất khoa học để cả xã hội tuân theo thì đương nhiên phải lừa bịp, kết hợp với bạo lực áp đặt. Nhưng trong hai biện pháp đó thì cách lừa bịp, ngụy biện, giả khoa học để ngụy tạo sự “tự nguyện” mới là chủ yếu, là sở trường, còn bạo lực với nhân dân chỉ là phương án 2, phương án bất đắc dĩ. Nhưng sang giai đoạn mạt kỳ, thực tế đã phơi bày hết thảy, sự mị dân mất tác dụng, thì phương án 2 dần trở thành chủ yếu, các ÐCS phải bỏ sở trường dùng sở đoản là dùng bạo lực với nhân dân. Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội Kiêu Binh khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.


Công an thì ngang nhiên tuyên bố “chỉ biết còn Ðảng còn mình,” quân đội chẳng những tuyên thệ trung với Ðảng mà còn tuyên bố nhân dân nào theo đảng mới được coi là nhân dân! Tóm lại, dưới gầm trời Việt Nam thì công an, quân đội đã là của đảng mà dân cũng là của đảng luôn (nếu không chấp nhận điều ấy thì thành thù địch). Kiêu binh vừa gắn chặt với Ðảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật, kiêu binh thản nhiên làm điều vô pháp luật, luật là tao, tao thích bắt là bắt cần gì phải lệnh, kiêu binh đánh chết người nếu thích, kiêu binh sẵn sàng văng cả đồ dơ vào mặt những vị đương quyền tối cao của họ nếu cần thiết,… khi kiêu binh đã muốn ra oai với dân thì mặt mũi các quan đương triều cũng chẳng là cái đinh gì, vì họ thừa biết lúc này ai đang cần đến ai?


Phơi hết sự tàn bạo bất cận nhân tình không cần che đậy, đấy là sự tự bóc trần, tự “khỏa thân chính trị” của chế độ chuyên chính trong nước. Ðồng thời, sự chuyên chính trong thế giới Cộng sản với nhau cũng “khỏa thân” luôn không che đậy: việc chính thức thành lập thành phố biển Tam Sa với đầy đủ quy chế hành chính và quân sự, việc kêu gọi đầu tư ngay trong thềm lục địa đương nhiên của Việt Nam, đưa 23,000 tàu đánh cá tràn vào vùng biển Việt Nam… đã tự lột trần cái bản mặt giả dối của chủ nghĩa quốc tế Cộng sản đến mức không còn một chút lá nho, cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận. Làm những điều quá hạ sách ấy, cả thế giới Mác-Lê như muốn thách thức công luận rằng “ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy làm gì được ông?”


Thế là vua đã cởi truồng tồng ngồng giữa phố như trong truyện ngắn Andersen mà hết thảy vẫn cứ đeo mặt nạ để ca ngợi bộ áo choàng quang vinh vô địch muôn năm! Thực chất chế độ Cộng sản chỉ là một chế độ phong kiến biến tướng [2], nên suốt nửa thế kỷ nay, dù oan ức đến mấy người dân vẫn phải cư xử, ăn nói nhỏ nhẹ cho phải đạo, nói có chỗ dù không bao giờ được trả lời, chỉ nói râu ria cấm nói vào chỗ phạm. Ngay cả khi có báo chí “lề trái” ở trong nước thì lúc đầu cũng chỉ dám nói vào những việc cụ thể, không chạm đến Ðảng, nếu muốn chạm đến gốc rễ của chủ nghĩa và lãnh tụ thì nói theo kiểu “ám chỉ” xa xôi nhưng ai cũng hiểu… Tất cả những hành vi đeo mặt nạ giả dối ấy chẳng qua là giữ Lễ trong một thể chế phong kiến cho phải đạo, ăn nói ra vẻ cung kính nể nang nhưng trong lòng đã hết tin yêu rồi.


Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã “khỏa thân tới số” thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được? Dùng súng hoa cải uy hiếp kẻ cưỡng chế đất, bắt nhốt công an để hỏi cung, phụ nữ liều mạng khỏa thân để giữ đất… là những hành động “phá cách”! (Nhưng mẹ con bà Lài đã lầm, cái giới hạn nhân cách tuyền thống mà bà tưởng là ranh giới phòng vệ cuối cùng thì trong thế giới của những Nguyễn Trường Tô-Hô đâu có giá trị gì?).


Ðến giai đoạn này thì các blogger trong nước cũng không giữ Lễ nữa: không cần ám chỉ mà kể thẳng tên người tên việc dù là thủ tướng hay tổng bí thư, hay Bộ Chính Trị. Mác-Lê không còn là điểm nhạy cảm phải kiêng, lại còn nghi ngờ rằng Ðảng và nhà nước có định chống xâm lược thật không (hay đã đồng tình với giặc xâm lược?), coi chính quyền chỉ là một đám cướp lớn phản động đã rõ ràng…


Một blogger tối thân cận với trùm chuyên chính vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là “Ku Nghệ” mà không bị khiển trách thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì. Lại xuất hiện Blog quanlambao (là tiếng nói của nội bộ Ðảng, phe chỉnh đốn đảng chống phe tham nhũng) chửi thẳng như tát nước vào mặt đương kim thủ tướng còn hơn đánh kẻ thù mà không bị trừng trị.


Những ranh giới cũ đã bị phá hết. Một giai đoạn đối thoại mới, bằng ngôn ngữ khác trước, đã bắt đầu. Phía Ðảng và nhà nước đã dùng “ngôn ngữ” mới (gồm cả ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ hành động) thì nhân dân cũng dùng “ngôn ngữ” mới tương xứng. Vua đã cởi truồng, sao dân còn giữ Lễ mãi được? Tinh thần nói đúng sự thật, nói hết sự thật đang sang một chất lượng mới…


Cuộc đối thoại mới đã bớt đi rất nhiều mặt nạ phù phiếm để đến gần với sự thật hơn, bổ ích hơn, khẩn trương hơn, hiệu quả hơn. Những lời mạn đàm này gửi đến bạn bè cũng trên tinh thần mới và ngôn ngữ mới ấy.


Một khía cạnh khác của nhu cầu nói thật là nhu cầu về phương pháp. Nếu phía quyền lực đã dùng phương pháp che đậy, ngụy trang, mơ hồ, chung chung… mà phía phản biện cũng chơi đúng theo cách ấy thì thua! Trong bóng đá người ta bảo thế là “bị áp đặt lối chơi,” phải hết sức tránh. Lúc đầu nói thật quá e sẽ bị quy chụp nên phải thủ thế, nhưng nay đã khác.


 


4. Tình hình đã quá chín muồi cho một cuộc xâm lược


Khi Trung Quốc chính thức thành lập thành phố Tam Sa (gồm 2 quần đảo HS và TS của Việt Nam) và đưa 23,000 tàu đánh cá vào vùng biển VN nhiều người gọi hành động ấy là liều lĩnh và lấy làm ngạc nhiên. Thực ra không đáng ngạc nhiên và Trung Quốc không hề liều lĩnh khi đã thiết kế chiến lược một cách vững chắc và tính toán cụ thể chắc ăn trăm phần trăm.


Do vị trí địa-chính trị nên Việt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Ðại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía nam, nhưng Việt Nam trước đây đã kiên cường và mưu lược, phá tan mộng xâm lăng ấy của Trung Quốc.


Bất hạnh thay, sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn “Quốc tế đại đồng” che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân. Những năm 1949-1950 khai thông biên giới Việt Trung, một VN đã kiệt lực buộc phải dựa hẳn vào Trung Quốc để có sức đánh nhau với Pháp, những món hàng viện trợ từ vũ khí, quân trang quân dụng đến nhu cầu dân sinh là khởi đầu những trói buộc có tính chiến lược, là sợi dây thòng lọng đầu tiên, tận dụng những quan hệ thân thuộc của những người lãnh đạo đã có với Trung Quốc làm sợi dây liên kết.


Cái thòng lọng thứ hai là do chuyến ngoại giao cầu hòa của Việt Nam diễn ra tại Thành Ðô ngày 3-4 tháng 9, 1990. Xét trong quan hệ có tính lịch sử giữa 2 kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hòa này chính là cuộc tuyên bố đầu hàng. Với hiệp ước Thành Ðô (nhất định lịch sử sau này sẽ bạch hóa) Trung Quốc đã tẩy rửa được dấu vết chống Trung Quốc của Việt Nam tượng trưng bởi ý chí chống Tàu cứng rắn của TBT Lê Duẩn và cuộc chiến biên giới 1979. Sau hội nghị Thành Ðô kế hoạch xâm lược đã thiết kế xong những nước cờ căn bản.


Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam , tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy phải giữ cho VN yên vị theo chế độ Cộng sản, không được dân chủ hóa, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.


Kết quả của chủ trương liên kết chiến lược với Trung Quốc và liên kết lửng lơ với Hoa Kỳ là đã tạo những “điều kiện cần” và “điều kiện đủ” cho cuộc thôn tính Việt Nam một cách hòa bình. Ðiều kiện “cần” là một bộ máy lãnh đạo Việt Nam phải là bộ máy thân thiện Trung Quốc, không coi Trung Quốc là xâm lược, đồng thời nhân dân Việt Nam thì tinh thần bạc nhược, không quan tâm đến sự đe dọa của Trung quốc, chấp nhận để “Ðảng và Nhà nước lo.” Ðiều kiện “đủ” là làm sao khống chế được sự phản kháng của lực lượng tinh hoa là những người Việt còn giữ được sự cảnh giác và lòng quyết tâm bảo vệ đất nước, không cho họ đánh thức được dân chúng, đồng thời Hoa Kỳ và quốc tế không can thiệp.


Khi ÐCSVN đã cam kết với ÐCS TQ thực hiện đủ những điều kiện ấy, thì (xin lỗi) chỉ một Trung Quốc ngu mới không tiến hành xâm lược Việt Nam.


Giữa lúc quân xâm lược kéo binh mã rầm rập vào trong biên cương Tổ quốc mà các thủ lĩnh tối cao thì im phăng phắc, nhưng ra lệnh cho khắp nơi hát vang lời hữu nghị và tri ân, cho tướng lĩnh đứng ra tay bắt mặt mừng, và ra sức bắt giữ những người phản đối xâm lược! Cảnh tượng diễn ra như một trận công thành được chuẩn bị chu đáo, có nội công, vô hiệu hóa lính gác, vô hiệu được quân lính trong thành, lại tổ chức sẵn một đội kèn trống chào mừng, nghênh đón sứ quân của thiên triều. Tất cả như có sự phân công, phối hợp trong ngoài vậy. Chẳng trách người dân phải đặt thẳng sự nghi ngờ vào lòng dạ của người cầm vận mệnh đất nước:


“Nguy cơ mất nước là hoàn toàn có thật. Ðến lúc này nhân dân buộc phải hỏi: Ðảng và Nhà nước có thực sự muốn chống xâm lược không?”


(Cả đến việc thông qua Luật Biển, làm nức lòng nhiều người, nhưng tiến hành song song với những động tác ve vãn kẻ xâm lược và cấm dân biểu tình thì có đáng tin không hay chỉ là “đánh trận giả” để đánh lừa dân chúng, giúp kẻ địch tiến thêm một bước nguy hiểm?).


Thiên vạn cổ chưa có trận chiến nào được bố trí vẹn toàn như thế, sao lại bảo cuộc tấn công ấy là liều lĩnh được? Chiến thắng trong tầm tay, an toàn 100% như thế mà không tiến công thì Trung Quốc ngu à?


 


5. Giải Cộng nhi thoát!


Có từ bỏ Mác-Lê cùng với cái gọi là XHCN mới cứu được nước!


Xem như vậy thì suốt từ 1950 tới nay (2012), tất cả những thiết kế chiến lược và thực thi từng bước chiến thuật cho sự thôn tính Việt Nam kiểu mới của Trung Quốc đều phải dựa trên một nhân tố trung tâm và quán xuyến là đảng Cộng sản, thiết chế Cộng sản, và quan hệ Cộng sản. Việt Nam nếu không là Cộng sản thì Trung Quốc hoàn toàn bó tay.


Vậy, theo lô-gích, đáp số của bài toán phòng thủ đất nước trước nạn Tân Bắc Thuộc đã hiện ra rõ mồn một. Một Việt Nam 90 triệu dân, dân chủ pháp quyền phi Cộng sản, có bầu bạn khắp năm châu, chẳng có lý gì phải nằm trong vòng tay “ôm ấp” của Trung Quốc thì anh bạn khổng lồ xấu tính buộc phải nhớ đến những Chi Lăng, Bạch Ðằng, Ðống Ða mà chìa bàn tay hữu nghị giao thương với sự bình đẳng và kính nể.


Truyện kể rằng: Tướng nhà Minh Lưu Bá Ôn vào thăm mộ Khổng Minh, mặc giáp sắt khi đi qua cổng lát bằng nam châm liền bị hút chặt xuống đất. Lưu Bá Ôn đang luống cuống bỗng ngước nhìn lên thấy một bức hoành trên đề bốn chữ “Giải y nhi thoát.” (Cởi áo ra thì thoát) bèn làm theo…


Nay chủ nghĩa Mác-Lê đối với ÐCSVN cũng chỉ như chiếc áo giáp sắt, mặc vào là bị thanh nam châm khổng lồ Trung quốc hút chặt, không ngẩng lên được. “Giải Cộng nhi thoát,” là cách tự cứu duy nhất, đẹp lòng dân tộc, và vẹn cả đôi đường.


 


Kết luận: giờ nguy biến đã điểm!


 


1. Trước mắt, muốn cứu nước, dân ta cần phá cho được cái chiến lược “diễn biến hòa bình” trong quan hệ Trung-Việt, mà thực chất là xâm lược hòa bình và làm mất nước một cách hòa bình! Họ muốn đô hộ một nước khác mà không cần gây một cuộc chiến tranh xâm lược, kế hoạch thật là thâm độc!


Chiến lược xâm lược hòa bình này do nhà cầm quyền Tân Ðại Hán khởi thảo và áp đặt, ÐCSVN tự sa vào thế kẹt buộc phải làm theo. Hai đảng thỏa thuận kín, quyết định số phận của Việt Nam là nước nhỏ hơn, nhân dân cả hai nước đều được sử dụng như những công cụ.


Chỉ có nhân dân Việt Nam mới giúp được ÐCSVN ra khỏi thế bị kìm kẹp này. Nhưng muốn vậy ÐCS phải dũng cảm chịu đau một chút, khiêm nhường một chút, giảm đi một chút lòng “kiêu ngạo cộng sản” vô lối, để thừa nhận nhân dân, để “lột xác,” thoát khỏi chủ nghĩa hoang tưởng phản tiến hóa để trở về với dân tộc, tìm lại sự vinh quang chính đáng trong niềm kiêu hãnh chung của cả dân tộc.


Bằng sự gặm nhắm của chiến lược Việt-Trung hữu hảo diễn biến hòa bình, “cái ổ chim đại bàng” mà tổ tiên ta gây dựng đang từng ngày từng giờ chật hẹp dần lại một cách toàn diện, thành“cái tổ con chim chích” như vua Trần Nhân Tông đã lo trước nhiều thế kỷ. Họa mất nước đã nhỡn tiền!


Không nhân dân nào thích chiến tranh, nhưng lời QUYẾT CHIẾN, chứ không HÒA, của Hội Nghị Diên Hồng là vết son trong lịch sử. Hòa bình là quý, nhưng hòa bình để mất nước êm như ru là thứ hòa bình đáng nguyền rủa, không thể so với sự diễn biến hòa bình để tự chuyển hóa thành một nước dân chủ văn minh, chính là thứ hòa bình công chính và kiêu hãnh, không kẻ nào chống được.


2. Về căn bản và lâu dài, xuất phát từ nhu cầu xây dựng đất nước cũng như từ yêu cầu bảo vệ đất nước khỏi hiểm họa Bắc thuộc, xã hội Việt Nam phải từ giã ảo tưởng Cộng sản, trở về một chế độ dân chủ lành mạnh thông thường như các nước văn minh, không có con đường nào khác. Chừng nào còn giữ chế độ gọi là “Xã hội chủ nghĩa” bên cạnh anh Cộng sản khổng lồ Trung Quốc, thì họa mất nước là thường trực.


Có thể ÐCSVN lường trước bước thứ hai này nên nghi ngờ và cấm người dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược?


Tôi nghĩ mọi việc hoàn toàn trong sáng, không có gì thủ đoạn ở đây. Cần nói thật với nhau rằng việc trước mắt cũng như lâu dài đều đòi hỏi phải tháo vòng Kim-Cô chuyên chính Vô sản, nhưng tính chất hai việc khác nhau xa. Kẻ xâm lược là giặc đến từ bên ngoài, cần phải làm cho họ thất bại trong âm mưu đó, việc ấy phải làm ngay không thể chần chừ, hoàn toàn không giống với quan hệ người trong một nước với nhau, quan hệ được cố kết bởi tình yêu Tổ quốc ngàn đời thiêng liêng, để cùng xây dựng một đất nước văn minh là điều hoàn toàn có thể thực hiện được, mà nước Ðức là một tấm gương đầy thuyết phục.


(9 tháng 8, 2012)


H.S.P.


(Nguồn: Ðàn Chim Việt)


 


Chú thích:


[1] Sai lầm gốc từ Mác nhưng phải cộng với Lênin mới thành một thể hoàn chỉnh về chính trị và lan rộng ra thế giới.


[2] Hà Sĩ Phu : http://www.hasiphu.com/ll3.html


 


Phần viết thêm


 


Cần thoát khỏi một vài ngụy biện và những suy nghĩ tự trói buộc


* Nhiều đảng viên rất lo ngại cho hiện tình xuống dốc và bất lực của đảng hiện nay, nhưng băn khoăn trước câu hỏi: Ðảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ? Ðảng cũng làm được nhiều việc tốt đấy chứ? Ba triệu đảng viên hầu hết là tốt thì đảng sao lại xấu được? Xin nêu tóm tắt mấy ý góp phần giải đáp:


1. Mác-Lê vào được Việt Nam là do tháp tùng lòng yêu nước, những thành tựu có được là do tựa vào sức mạnh yêu nước của dân tộc mà có. Ở đâu và khi nào nhân tố chuyên chính vô sản phát huy tác dụng, lấn át truyền thống dân tộc, thì ở đó, khi đó, phát sinh sai lầm và tổn thất.


2. Cái tốt chủ yếu ở giai đoạn đầu, khi cầm quyền là bắt đầu thoái hóa, càng củng cố được quyền lực thì càng thoái hóa, càng về sau càng thoái hóa. Muốn lấy lại thiện cảm thì phải “ăn mày quá khứ.”


3. Cá nhân đảng viên có thể tốt, nhưng đứng trước tổ chức thì những cái tốt cá nhân bị vô hiệu hóa. Tổ chức Cộng sản là phép cộng những “số dương” thành một “số âm,” sử dụng rất nhiều người tốt để thực hiện một điều huyễn hoặc, không tốt. Càng lên trên thì tính “bản thiện” của con người càng bị tính chuyên chính sai lầm của tổ chức lấn át, cho nên càng lên trên càng tiêu cực. Tham nhũng độc quyền ghê gớm nhất đều ở cấp cao. Chính gương tốt, liêm chính, của các đảng viên ở cơ sở là tấm bình phong che cho tội lỗi của cấp cao


4. Bởi là người tốt, người yêu nước, nhưng bị dòng lịch sử cuốn vào một trào lưu huyễn tưởng nay đã bị lịch sử đào thải, thì mỗi người đảng viên cộng sản đều phải chọn một trong hai sự “phản bội” không thể thoái thác: hoặc cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa thì phản bội dân tộc, hoặc đặt dân tộc lên trên thì sẵn sàng từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê ảo tưởng, đó là sự từ bỏ, sự “phản bội” đáng ca ngợi.


5. Một ngụy biện nhằm chống biểu tình:


Người dân muốn biểu thị quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ đất nước thì phương pháp truyền thống ở mọi quốc gia là biểu tình. Muốn giúp cho quân xâm lược khỏi bị làm phiền thì nhà cầm quyền Việt Nam hứa với họ là kiên quyết cấm dân VN mình biểu tình. Nhưng không thể công khai cấm biểu tình (vì cấm là phi lý và thất nhân tâm) thì cấm những gì liên quan không thể tách rời với biểu tình là đi đông người trên phố, bèn quy tội là gây rối trật tự, ảnh hưởng đến giao thông. Ðây là ngụy biện dùng “mẹo Trạng Quỳnh”: nếu không thể cấm ỉa thì cấm đái, không được đái thì làm sao mà ỉa? Thế là không cấm biểu tình mà dân không biểu tình được.


Nhà nước ta quả là nhiều sáng kiến và tận tâm với bạn vàng xâm lược. Nhưng xin thưa điều quy kết này là bậy bạ và phạm pháp. Ðường sá là của toàn dân, người dân được sử dụng để đi lại thông thường và đi lại trong những việc đông người chính đáng: đám cưới, đám tang rất cản trở giao thông, đón rước, hội hè rất cản trở giao thông&thì giao thông tạm ngừng một thời gian ngắn, có sao đâu? Biểu tình bảo vệ Tổ quốc còn chính đáng và quan trọng hơn mọi sinh hoạt khác, giao thông phải tạm dừng để phục vụ biểu tình cũng là chính đáng, huống chi lèo tèo vài trăm người thì cản trở nỗi gì? Mẹo “cho ỉa nhưng cấm đái” này sẽ còn phát huy nhiều ngụy biện xảo trá khác nữa, nhưng nhân danh một “Chính” quyền mà dùng mẹo bẩn như vậy thì còn “chính” nữa không?

Tại sao lại sợ?

 


Về “Tại sao Việt Nam sợ biểu tình chống Trung Quốc?”


 


Trước khi vào vấn đề, xin có câu chuyện nhỏ về 2 em bé. Em A hung dữ muốn trấn áp em B; Nó nói, “Nếu mầy không nghe lời tao, tao sẽ mét bố mẹ mầy về hành động của mầy (hành động của em B bị em A hung dữ bày để em B dính bẫy). Em B sợ và sẵn sàng tuân phục theo ý em A. Việc lớn hơn là quốc gia. Cộng Sản VN đi đêm bán nước cho TC (Trung Cộng) từ lâu, chức lớn bán lớn, chức nhỏ bán nhỏ. Lịch sử hiện đại đã chứng minh.


Trở lại chuyện 2 em bé kể trên, áp dụng vào đất nước, có thể nhà cầm quyền VN đã ký văn bản bán nước rồi; nên phải theo lệnh bọn Hán Cộng thôi: Là triệt tiêu những nhóm biểu tình để củng cố quyền cai trị của chính quyền CSVN và thần phục CSTQ. Những màn chống TC (Trung Cộng) chỉ là những màn trình diễn sân khấu được thông qua với TC để chứng tỏ mình đang chống; nhưng thực ra là đã bán nước rồi!


Nhà cầm quyền CSVN sẽ ra sức chống mọi biểu tình chống TC theo lệnh của TC…


Làm sao đảng cầm quyền VNCS không thể không tuân lệnh!!!


Câu trả lời muốn giữ nước VN là cho toàn dân VN, trong nước và hải ngoại!!!


an danh


 


Bất hạnh cho đất nước Việt Nam, bất hạnh cho dân tộc Việt kiêu hùng đã và đang bị một lũ ươn hèn đốn mạt cai trị, những kẻ có thể làm bất cứ điều gì để được “vinh thân phì gia,” kể cả việc kính cẩn dâng cho ngoại bang giang sơn gấm vóc mà bao đời nay dân Việt đã đổ bao xương máu để bảo vệ và gìn giữ…


 


Hung


 


Chính xác là một bộ phận trong chính quyền CSVN thực sự sợ Trung Cộng. Những người này run sợ trước TC không phải là do sức mạnh quân sự vượt trội mà là vì TC nắm rất rõ những “fault” của những vị này. Nếu TC nêu ra những trò ma mãnh, tham ô, hối lộ, tài khoản ở nước ngoài thì chắc chắn dân sẽ không để yên cho họ lãnh đạo dân tộc VN. Thế nên tốt nhất là đàn áp dân để “show” cho TC thấy lòng trung thành với “mẫu quốc.” Thế nên một chính thể được xây dựng trên cơ sở tham nhũng thì đừng nói đến lòng yêu nước, dũng khí, họ chỉ nghĩ đến cái tôi riêng của họ thôi. Họ sử dụng các lực lượng công an mật vụ để đàn áp những người yêu nước VN chân chính, để TC giữ kín những trò hắc ám của một nhóm chóp bu, tuy nhiên lịch sử sẽ làm rõ vấn đề này rất sớm.


Tien Long


 


Là người đã từng sống trong chế độ CS hơn nửa đời người, cho nên tôi hiểu rất rõ cái lý do vì sao ÐCSVN cấm người dân biểu tình? Thật ra giới cầm quyền CSVN chẳng có nổi một cái đầu ra hồn để có thể phân tích thế trận và kế sách với Trung Cộng được như chúng ta đã và đang phân tích trên các phương tiện thông tin như hiện nay. Ðối với họ thì cái làm họ lo sợ nhất là sự nguy hiểm từ các cuộc biểu tình có tính cách chống Trung Cộng sẽ lan rộng và chuyển sang thành các cuộc biểu tình bạo động nhằm lật đổ chính quyền, do vậy họ thẳng tay đàn áp nhằm dập tắt cho dù đó là các cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Cộng. CSVN thật sự là bậc thầy trong việc kích động, điều khiển và sử dụng đám đông quần chúng nhân dân phục vụ cho các mục đích đen tối của họ, cho nên họ thật sự rất sợ hãi khi thấy đám đông quần chúng tụ tập. Không phải chỉ có bây giờ họ mới lo sợ các cuộc biểu tình không do chính họ tổ chức và điều khiển. Ngay từ sau năm 1975, họ đã cấm đoán các cuộc biểu tình tự phát, đối với tất cả các cuộc biểu tình kiểu như vậy đều bị họ gán ghép chụp mũ là phản động, là tụ tập gây rối chống đối chính quyền cách mạng. Chung quy lại cũng là do cái bản chất giảo quyệt và hèn nhát trước sức mạnh lẽ phải của nhân dân, cộng với nỗi sợ hãi bị mất ngôi vị độc tôn của ÐCS cho nên họ vẫn sẽ tiếp tục ra tay đàn áp tất cả các cuộc biểu tình cho dù với bất cứ hình thức nào và với bất cứ nội dung gì.


Như HCM đã từng phát biểu (nếu tôi nhớ không lầm) thì chỉ có CS mới diệt được CS (như đã từng xảy ra với khối Ðông Âu đầu thập niên 90), do vậy chúng ta hãy tiếp tục chờ xem diễn biến tình hình chính trị tại VN thêm một thời gian (ngắn) nữa, tôi cho rằng đã đến thời điểm ấy khi mà sự ủng hộ từ nhân dân và cả chính các đảng viên CS dành cho giới lãnh CSVN hiện nay ngày càng ít đi, ngược lại lòng căm thù ngày càng tăng lên, tình trạng tranh chấp đấu đá trong nội bộ lãnh đạo đảng, tình trạng lãnh đạo CS địa phương tự tung tự tác, bất tuân lệnh cấp trên (trung ương), nhanh chóng vơ vét của cải là những dấu hiệu cho thấy ngày tàn của chế độ đã điểm. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi các bạn!


Phu Du


 


 

Về “Dân Việt và Olympic London”

 


 Về “Dân Việt và Olympic London”


Tôi đề nghị báo NV hãy làm phóng sự về một người Việt Nam ở Ðức đang được hai huy chương bạc về môn gymnastic. Ðây là một vinh dự lớn cho người Việt trong nước và ngoài nước. http://en.wikipedia.org/wiki/Marcel_Nguyen


Bruce Tran


 


 

Số điện thoại để liên lạc giúp đỡ thương binh VNCH

 


Về “Làm sao giúp đỡ thương binh VNCH?”


Tôi đã liên lạc với website TPB. Nhưng gần cả tuần không được trả lời. Tôi cần danh sách TPB/VNCH đang sinh sống tại Ðà Nẵng để có thể tiện bày tỏ một tấm lòng!


nguyen my khe


 


Tòa soạn trả lời: Ðộc giả có thể liên lạc với Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH tại hai số điện thoại (714) 590-8534 và (714) 539-5345.


 


 

Thắp nến tưởng niệm bà Ðặng Thị Kim Liêng

WESTMINSTER (NV) – Một số hội đoàn cộng đồng Việt Nam vừa tổ chức đêm thắp nến tưởng niệm bà Ðặng Thị Kim Liêng tại thương xá Asian Village, Westminster, tối Thứ Năm. Bà Liêng vừa qua đời vì tự thiêu tại Bạc Liêu mới đây.



Bà là mẹ của blogger Tạ Phong Tần, hiện đang bị an ninh Việt Nam giam giữ và truy tố tội “tuyên truyền chống nhà nước.” Trong hình, ông Lâm Quang Hải, hội trưởng Hội Ðồng Hương Bạc Liêu, chuẩn bị nhang cho đồng hương tại lễ tưởng niệm. Xin xem chi tiết vào số báo sắp tới. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Tác giả của ‘Thép Ðen’ và nỗi trăn trở vì quê hương

 


Hà Giang/Người Việt


 


LTS: Nhân dịp về thăm California, nhà văn Ðặng Chí Bình, tác giả bộ sách Thép Ðen, kể lại một cách sống động, tỉ mỉ nhà tù Hỏa Lò của Cộng Sản tại Hà Nội, nơi ông bị giam cầm trong thời gian 18 năm, những cuốn sách mà bất cứ ai cầm lên đều khó bỏ xuống cho đến khi đọc hết. Trước năm 1975, ông từng ra Bắc thi hành nhiệm vụ trong vai trò điệp viên VNCH. Ông đã dành cho nhật báo Người Việt cuộc phỏng vấn sau đây, do Hà Giang thực hiện.


 


Hà Giang (NV): Nhà văn Ðặng Chí Bình, xin ông cho biết tại sao có mặt tại California?


Ðặng Chí Bình: Ðúng là một cái cơ duyên. Tôi sang California chơi chỉ có mấy ngày, sáng mai đã phải trở về Boston, hân hạnh có mặt. Ông cụ 80 rồi.


NV: Cuốn sách định đọc một vài trang là không thể bỏ xuống được. Phải mất bao lâu thì ông mới thực hiện xong bộ sách Thép Ðen, và điều gì khiến ông cho những dòng viết của ông nó rõ mồn một như sự kiện đang xẩy ra trước mắt, và khiến cho người đọc cảm thấy như mình đang đứng ở trong tù, và đang đứng ở trong cảnh như một cuốn phim vậy?









Nhà văn Ðặng Chí Bình trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Ðặng Chí Bình: Cám ơn cô Hà Giang, câu hỏi của cô khiến óc tôi trở lại với những năm tháng ở trong Hỏa Lò Hà Nội. Phải nói rằng nó quằn quại lắm. Tôi đến đây, khi tôi (bắt đầu) viết, có một số bạn bè tôi bảo anh đừng có viết nữa, bởi vì ở hải ngoại này, đấy là năm 1984, hải ngoại này rất nhiều những hồi ký viết về tù đày rồi, anh có viết nữa thì cũng xuôi theo dòng đời. Tôi cũng đồng ý, tôi đi làm, nhưng rồi những đêm khắc khoải, nhìn về quê hương dân tộc, nó còn băn khoăn, khắc khoải, dằn vò trong lòng tôi, cho nên tôi quyết định là phải viết, dù mình không bao giờ viết, nhưng cứ viết, chỉ cần sự thật.


Thưa với cô, như tôi đã nói lúc nãy, tôi là một điệp viên do bối cảnh đẩy xô, nhưng tôi học hành giáo huấn của tổ tiên dân tộc Việt là thật thà là cha quỷ quái. Không phải nhà văn, không viết bao giờ cả, thì cứ viết thật nó ra, cần nhất có trí nhớ. Giai đoạn tôi viết, ở ngay Boston, tôi vừa vượt biên tôi đến đây, phải đi làm tôi mới có tiền để thuê một cái buồng, tôi không có chỗ nào tôi ở, không có tivi tủ lạnh, không có bạn bè, không có phương tiện gì để nghỉ ngơi. Vì vậy tôi chỉ xin ai cho tôi một cái gầm cầu thang, một basement nào đó, tôi ngồi một mình tôi, không cần biết gì với cuộc đời. Tôi tìm lại óc tôi, những năm tháng 40 năm xưa.


NV: Tại sao cuốn sách này lôi cuốn mình đến thế, có phải là vì tác giả là một điệp viên, nên có một nhận xét tinh vi sâu sắc, nhớ nhiều được chi tiết? Theo ông thì yếu tố nào quan trọng, hay vì tâm tư mình muốn chuyển tải hay vì trí nhớ của mình?


Ðặng Chí Bình: Có mấy yếu tố, nhưng yếu tố cao nhất là vì nỗi quằn quại vì quê hương tôi vẫn còn ở trong chế độ cộng sản.


NV: Khi thành hình xong được cuốn sách thì cảm tưởng đầu tiên của nhà văn là như thế nào?


Ðặng Chí Bình: Vì viết ba, bốn giai đoạn, khi tôi viết xong cuốn thứ 4, năm 2005 mới là xong. Lúc đó tôi cảm thấy còn một trằn trọc, khắc khoải nợ với quê hương dân tộc là rõ ràng trong khi tôi ở tù, khi ra khỏi tù, khi đi ra hải ngoại, tôi vẫn niêm trong lòng, tôi là người có tội với quê hương, đã làm việc nhỏ cho quê hương mà đã không hoàn thành, vì do bất tài, do kém khả năng, cho nên vì khắc khoải mà còn tí trí nhớ nào nữa, còn máu còn xương tí nào nữa, thì tôi cũng vận dụng, dù khổ cực, đói khổ như tôi đã vừa trình bày, tôi đã sẵn sàng hy sinh để cố gắng hoàn thành, và khi xong thì tôi thấy mình đã trang trải được lòng ra, đã trả được một món nợ nhỏ với quê hương dân tộc.


NV: Ðược biết nhà văn Ðặng Chí Bình phải ở tù trong một thời gian dài 18 năm, ông có thể chia sẻ là thời gian ở tù đó đã thay đổi con người của ông như thế nào, và những tâm tư gì làm ông dằn vặt nhất trong thời gian dài đằng đẵng ở trong Hỏa Lò như vậy?


Ðặng Chí Bình: Ngay từ khi tôi bắt đầu vào cái ngành nghề này, thì tôi hiểu, và nhiều người cũng hiểu như thế là cái ngành nghề này nó là chết và sống. Tôi đã gọi cái nghề này là cái nghề hang một lỗ, tức là không có lối thoát nào khác. Bị đối phương bắt, hay là nếu không bị đối phương bắt mà ở nhà thì người ta cũng không dùng nữa đâu. Vì thế quan niệm của tôi lúc đó là khi nhận nhiệm vụ đẹp nhất là hoàn thành nhiệm vụ trở về. Không được như thế, cái thứ nhì là bị bắn chết, một cái chết đàng hoàng, đối với tôi cái chết nó không là gì cả, ngay bây giờ vẫn thế.


Còn cái thứ ba, cái xấu nhất là cái bị bắt thì tôi lại rơi vào cái đó. Rơi vào cái thứ ba thì trước sau gì cũng chết thôi, nhưng trước khi chết thì còn bị quằn quại, đau thương, chịu biết bao tra tấn, vì mình là điệp viên mà. Cho nên vào trong tù rồi, thì tôi đã chấp nhận nó rồi. Khi mà mình không có cái mình muốn, thì mình phải tạo điều kiện để mình thích cái mình có vậy. Cô có biết không, ở trong tù, hai chân tôi ở trong cùm, chân tay tôi nó sưng vù không có ai nom dòm gì đến, một thằng điệp viên mà.



Nhà văn Ðặng Chí Bình (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Mấy người phi công Mỹ, họ ở trại chung, họ ngang tàng đánh nhau đấy, họ bị phạt, hai người bị mang ra hai nơi. Tôi nhớ lúc đó tôi đang ở xà lim số 1, hai người kia, một người ở xà lim số 8, một người ở xà lim 14, cách xa nhau lắm, còn tôi thì ở khoảng giữa này. Ngày xưa mình xem phim Mỹ xem phim Tarzan, phim mọi da đỏ, tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng Mỹ khóc. Ðêm hôm đó, tôi nghe thấy tiếng gấu kêu, đêm không ngủ được, khắc khoải. Nghe thấy tiếng gấu kêu thì tôi bò dậy tôi xác định, định vị lại thì tôi biết đó là từ buồng số 8 của người Mỹ, vậy là lần đâu tiên tôi nghe thấy Mỹ khóc, mà nó mới vào được khoảng 20 ngày thôi, mà nó không bị cùm, mà tôi còn đang bị cùm hai chân. Thế rồi một thằng khóc, rồi cái thằng kia chắc nó cũng chạnh lòng quê hương, thế là hai thằng cùng khóc, tôi nghe như gấu kêu. Phải hiểu rằng tôi sáu năm ở trong xà lim kín một mình tôi, sáu năm đó nó dài như thế nào.


NV: Trong thời gian dài đằng đẵng như thế thì cái ý nghĩ gì, tâm nguyện gì đã nuôi sống nhà văn để cho ngày hôm nay ông vẫn còn quắc thước, tinh anh, còn oai vệ, và không thấy dấu tích gì của một người bị tù khổ sai trong thời gian lâu như vậy?


Ðặng Chí Bình: Ít nhất cô phải đồng ý với tôi rằng ý chí của một con người rất quan trọng. Nếu người nào có ý chí mạnh, tức là “strong-will” đó, thì sẽ có khả năng giải quyết được nhiều khó khăn của cuộc đời mình. Ở trong tù, tôi bị cùm như thế ở trong xà lim, tôi bắt chước Nguyễn Công Trứ, để tâm hồn mình siêu thoát. Tôi mơ những giấc mơ mà tôi không có.


NV: Với đầu óc tinh vi, và cái nhìn sâu sắc của một cựu điệp viên, nhìn về đất nước Việt Nam, ông có nhận định nào khác với suy nghĩ của những người bình thường chung quanh không?


Ðặng Chí Bình: Nói thật với cô, nghĩ về đất nước Việt Nam, tim gan tôi vẫn còn rỉ máu ngày đêm, mặc dù cười nói với vợ với con, vui vẻ với mọi người. Không phải bây giờ, mà khi còn trong tù, con người của tôi là con người sống thật, tôi được tiếp xúc với một số cán bộ Cộng Sản, có những người đã coi tôi như một người đặc biệt, họ nói với tôi những điều mà họ không dám nói với ai. Họ nói với tôi rằng, anh ơi, đất nước này ở trong tay của Trung Quốc.


Vậy thì lúc còn ở trong tù, tôi đã biết người Trung Quốc nó kinh khủng lắm. Tôi nhớ là Napoleon Ðệ Nhất, khi đã bách chiến bách thắng, thành vĩ nhân của thế giới rồi, ông ta tuyên bố rằng cái con sư tử Á Ðông hãy để cho nó nằm yên, đừng đánh thức nó dậy, đánh thức nó dậy là phiền. Vậy mà năm 1972, Nixon sang bên Trung Quốc, sang Bắc Kinh để gặp Mao Trạch Ðông, chuyện gì khác không biết, nhưng Nixon cũng nói rằng cứ để cho Trung Quốc bế môn tỏa cảng, đừng có mở cho nó ra, nhưng có lẽ vì những hoàn cảnh đẩy xô, nước Mỹ để cho Trung Quốc thành một cường quốc thứ hai, vậy thì ráng mà chịu thôi.


NV: Cảm ơn nhà văn Ðặng Chí Bình đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn.

Cảnh Sát Biển Việt Nam bác tin bị tàu Trung Quốc đuổi

ÐÀ NẴNG (NV) –Lực Lượng Cảnh Sát Biển của Việt Nam vừa lên tiếng bác bỏ đoạn phim do đài truyền hình Trung Quốc phổ biến hôm 3 tháng 7 cho thấy, 4 tàu hải giám của Trung Quốc đuổi một tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam trên vùng biển Trường Sa.










Một tàu cá Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển bị tàu cảnh sát biển đuổi. (Hình: Báo Tiền Phong)


Theo các bản tin của đài truyền hình Trung Quốc, đoàn tàu hải giám của Trung Quốc đã ngăn chặn và đuổi ở khu vực quần đảo Trường Sa một tàu cảnh sát biển của Việt Nam.


Bản tin thuật lời Hoàng Dũng (Huang Yong), thuyền trưởng tàu hải giám 83 (tàu chỉ huy trọng tải hơn 3,200 tấn), ra lệnh buộc “tàu lạ” rời khỏi khu vực. Các tàu hải giám Trung Quốc thay đổi đội hình và tàu chỉ huy tiến về phía tàu Việt Nam với sự bao vây của 3 tàu (hải giám) khác.


“Sau khoảng 10 phút, tàu Việt Nam giảm bớt tốc độ rồi cuối cùng rút lui.”


Sau hơn một tháng im lặng, hôm 10 tháng 8, Trung Tá Lê Trọng Phổ, chủ nhiệm chính trị của Vùng Cảnh Sát Biển 2, khẳng định với báo Tiền Phong rằng, “Cảnh Sát Biển Việt Nam có đầy đủ chứng cứ chứng tỏ Trung Quốc cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật. Không hề có chuyện như phía Trung Quốc đã đưa ra.”


Ông Phổ nói thêm rằng, khi tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam phát hiện 4 tàu Trung Quốc ở khu vực tiếp giáp lãnh hải nên tiếp cận để giám sát. Hành trình theo dõi kéo dài 80 hải lý. Khi thấy tàu Trung Quốc chưa vi phạm, tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam quay lại, “lập tức, phía Trung Quốc quay hình và xuyên tạc rằng Tàu cảnh sát biển ‘bỏ chạy.’”


Vẫn theo lời ông Phổ, Cảnh Sát Biển Việt Nam đã nhiều lần đuổi tàu đánh cá của Trung Quốc tại khu vực miền Trung phải tháo chạy.


Người đại diện của Cảnh Sát Biển vùng 2 còn cảnh báo rằng, “Tình hình trên Biển Ðông ngày càng phức tạp hơn sau khi Trung Quốc hết ban hành lệnh cấm đánh bắt cá, lại thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa cũng như cố tình xuyên tạc sự thật để đánh lừa dư luận Trung Quốc và thế giới.”


Theo báo Tiền Phong, Vùng Cảnh Sát Biển 2 phụ trách tuần tra kiểm soát một khu vực biển dài khoảng 720km gồm bờ biển và vùng biển ngoài khơi với phạm vi từ đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) đến Cù Lao Xanh (Bình Ðịnh).”


“Ðây là khu vực thường xảy ra nhiều giông bão và là ngư trường làm ăn của hàng ngàn ngư dân miền Trung, cũng là khu vực tàu Trung Quốc xâm phạm trái phép lãnh hải Việt Nam.”


Báo Tiền Phong trích lời Trung Tá Lê Phổ nói rằng, “Các tàu cá Trung Quốc xâm phạm thường đi thành nhóm 18-30 chiếc, đánh bắt theo hình thức hủy diệt, và có xu hướng liều lĩnh, ngoan cố hơn trước.”


Tin cho biết, kể từ đầu năm 2012 đến nay, lực lượng Vùng Cảnh Sát Biển 2 “mỗi tháng xua đuổi vài ba chục lượt tàu Trung Quốc xâm phạm. Ðể ngăn chặn tàu cá Trung Quốc xâm nhập, Vùng đã tăng cường lực lượng, huy động toàn bộ tàu cảnh sát biển luân phiên tuần tra kiểm soát bảo vệ vùng biển.”


Trung Tá Phổ nói thêm rằng, “Sắp tới lực lượng CSB sẽ có máy bay tuần thám tham gia tuần tra trên biển.”


Ðồng thời “sẽ xây dựng trạm cảnh sát biển trên các đảo trọng yếu để phối hợp máy bay tuần thám xử lý tàu nước ngoài xâm nhập.” (KN)

TinLuot, 10 tháng 8

Việt Nam


 



  • Ðoàn Việt Nam đi thi Olympic London trở về “tay trắng” sau khi nữ võ sĩ Tae Kwondo Chu Hoàng Diệu Linh thua Fromm Helena của Ðức ngay trong vòng loại.

 



  • Gần 23% người dân Việt Nam thừa nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân. Ðông nhất ở độ tuổi 18-34.

 



  • Một ông chồng ở Hà Nội đòi tình địch nộp 100 triệu đồng VN, sau khi phát hiện tình địch này “tắm chung” với vợ mình ngay tại nhà.

 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


 



  • Bố ráp băng đảng ở Anaheim, bắt 33 người, tịch thu 40 súng.

 



  • Biện Lý Quận Cam ngừng truy tố Rafael Garcia Miranda với cáo buộc giết nhân viên cải huấn vì không đủ chứng cớ.

 



  • Một nghi can băng đảng gốc Việt bị tù chung thân và không có cơ hội tại ngoại vì giết chết đồng bọn năm 1995.

 



  • Trung tâm cao niên H. Louis Lake, có máy điều hòa nhiệt độ, mở cửa đến 5 giờ chiều để đón tiếp mọi người khi nhiệt độ lên đến 95 độ.

 


Hoa Kỳ


 



  • Giá xăng toàn quốc tăng 34 cent từ ngày 1 Tháng Bảy do cháy và trục trặc xưởng lọc dầu ở West Coast, Midwest, California.

 



  •  Fareed Zakaria, editor của tạp chí Time kiêm người dẫn chương trình của CNN, mất việc cả hai nơi vì đạo văn.

 



  • Một đồng xu 10 cent đúc năm 1873 bán đấu giá ở Philadelphia được $1.6 triệu.

 



  • Papa Jones Pizza nói “do các mâu thuẫn về đạo luật cải tổ y tế của TT Obama, chúng tôi tăng giá pizza từ 15% đến 20%.”

 



  • Chính sách về năng lượng gió có thể sẽ trở thành đề tài quan trọng trong tranh cử tổng thống Mỹ 2012.

 



  • Một đại tá huấn luyện Không Quân của Hoa Kỳ bị giải nhiệm vì tai tiếng tình dục tại căn cứ Không Quân Lackland.

 



  • Giới quan sát chính trị cho rằng TT Obama đang dẫn điểm trước ƯCV Romney.

 



  • Trong khi đó, đại điện của ƯCV Romney nói các kết quả thăm dò có thể thay đổi trong tuần sau.

 



  • Một đền thờ Hồi Giáo ở Missouri bị cháy rụi trong một tai nạn đáng ngờ; tiền trợ giúp đến từ khắp nơi, gần $300,000.


Thế Giới


 



  • Tình báo Mỹ nói al-Qaeda gia tăng hoạt động ở Syria, e sẽ tạo tình trạng khó khăn như ở Iraq.

 



  • CLB bóng đá Anh, Manchester United, bắt đầu “go IPO” – lên sàn chứng khoán New York.

 



  • Không Quân Nga kỷ niệm 100 năm tuổi bằng cuộc phi diễn lớn với nhiều loại máy bay tại phi trường Zhukovsky ngoại ô Moscow.

 



  • Ðập nước cao 28.5 mét ở Chiết Giang, Trung Quốc, bị vỡ do mưa lớn. Ít nhất 10 người chết và 27 người bị thương.

Trung Quốc vận động để có lợi thế tranh chấp Biển Ðông

Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đến Indonesia, Brunei và Malaysia



 


HÀ NỘI (NV) – Rất có thể phiên họp của ASEAN về Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Ðông dự trù vào tháng 9, 2012 tới đây sẽ không diễn ra vì những đòi hỏi của Bắc Kinh.









Một phụ nữ biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ngày Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012 tại Hà Nội với tờ áp phích vẽ “Lưỡi Bò” bị cắt. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/GettyImages)


Ngoại trưởng Trung Quốc, Dương Khiết Trì, công du từ ngày 9 đến 13 tháng 8, 2012 đến Indonesia, Brunei và Malaysia mà tin tức thời sự nói lý do chính liên quan đến vận động tranh chấp Biển Ðông.


Việt Nam và Philippines là hai nước tranh chấp chính yếu với Trung Quốc về Biển Ðông lại không nằm trong chuyến thăm viếng.


Một số tiết lộ trong giới ngoại giao ASEAN, theo tờ South China Morning Post ở Hongkong, báo động gần đây rằng qua những lời tuyên bố từ các viên chức Bắc Kinh, đó là những dấu hiệu báo động các cuộc họp về một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Ðông (gọi tắt là COC) để tránh xung đột võ trang, dự trù tháng tới nhiều phần sẽ không có.


Sau khi cuộc họp cấp ngoại trưởng ASEAN ở thủ đô Cam Bốt không ra nổi bản tuyên bố chung vì vấn đề Biển Ðông, ngoại trưởng Indonesia vội vã đi du thuyết một số nước, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, cố sản xuất ra được một bản tuyên bố trễ tràng.


Nhưng Bắc Kinh, qua các lời tuyên bố của nhiều viên chức ngoại giao từ bộ trưởng, thứ trưởng đến phát ngôn viên, đều lập đi lập lại điều kiện chỉ thương thuyết tay đôi với từng nước tuyên bố chủ quyền và chỉ có một bộ COC “khi điều kiện chín mùi” theo ý của Bắc Kinh áp đặt.


Bắc Kinh đổ tội cho “một số nước tuyên bố chủ quyền” ám chỉ Việt Nam và Philippines “khiêu khích” và “muốn áp đặt lập trường riêng lên cả tổ chức” ASEAN.


Tuy chưa bao giờ các chức sắc Bắc Kinh nói thẳng ra nhưng Dương Bảo Vân (Yang Baoyun), giáo sư Ðại Học Bắc Kinh nói trong một cuộc phỏng vấn rằng điểm chính yếu để đạt được sự đồng thuận cho một bộ COC là “đừng thách đố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.”


Những năm gần đây và đặc biệt những tháng gần đây, căng thẳng Biển Ðông diễn ra ngày càng căng hơn giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines.


Việt Nam ra Luật Biển hồi tháng 6 xác định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Lập tức Bắc Kinh cho thành lập thành phố cấp huyện “Tam Sa” bao gồm cả hai quần đảo đó và khu vực bãi đá ngầm Philippines tuyên bố chủ quyền, bầu cử “Hội Ðồng Nhân Dân” và cử tư lệnh quân đội. Hàng chục ngàn tàu đánh cá được lùa xuống Biển Ðông vơ vét thủy sản.


Cùng với những hành động vừa kể, Bắc Kinh cho gọi thầu 9 lô dò tìm dầu khí ngay thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, có lô chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa tới 40 hải lý. Ðây là hành động thách đố rất nghiêm trọng đến chủ quyền Việt Nam mà một số nhà bình luận quốc tế nói họ không tin có công ty dầu khí lớn tầm vóc quốc tế nào lại muốn chen vào chỗ tranh chấp nguy hiểm để kiếm ăn.


Bắc Kinh coi hơn 80% khu vực Biển Ðông (họ gọi là Nam Hải) là ao nhà của họ bất chấp bản Công Ước Quốc Tế Luật Biển (UNCLOS) mà họ cũng là thành viên ký cam kết tôn trọng. Chiếm của người rồi đòi hỏi người phải thương thuyết với mình để ban phát ân huệ.


Báo chí Bắc Kinh liên tiếp có những bản tin, bài viết đả kích và đe dọa cả Việt Nam và Philippines trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo. Trong khi đó, vẫn hô hào tăng cường hợp tác với các nước ASEAN về kinh tế theo kiểu “vừa ăn cướp, vừa la làng.”


Bà Phó Oánh, thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc gần đây tuyên bố “không muốn thấy ASEAN chia rẽ.”


Trước thái độ ngày càng lộ rõ chủ trương bá quyền nước lớn của Trung Quốc, cả Quốc Hội và chính phủ Hoa Kỳ đều lên tiếng đả kích Bắc Kinh. Tờ Nhân Dân nhật báo, cơ quan tuyên truyền chính thức của Bắc Kinh liền lên tiếng đòi Mỹ “ngậm miệng.”


Chuyến đi của Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì đang diễn ra có thể đưa ra các mồi mới cho Malaysia, Indonesia và Brunei để ASEAN chia rẽ nặng hơn mà thủ lợi. Bản COC kiểu này càng thấy xa vời hơn và báo dầu hỏa www.OilPrice.com ngày 9 tháng 8, 2012 đặt dấu hỏi rằng, “Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Ðông có dẫn tới chiến tranh không?”


Một số chuyên gia thời sự quốc tế không tin chiến tranh xảy ra nhưng tất cả vẫn chỉ là giả thuyết và bình luận.


Trong khi đó, nhiều người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội mang theo tấm hình cái “Lưỡi Bò” bị kéo cắt. Một số người thì mặc áo thun với cái “Lưỡi Bò” bị gạch chéo. (TN)

Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 6 đã sẵn sàng vào Chủ Nhật này

 


Linh Nguyễn/Người Việt


 


GARDEN GROVE (NV) – Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 6 đã bắt đầu được chuẩn bị từ chiều Thứ Sáu, tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove.









Dựng sân khấu và lều cho Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 6 tại sân vận động trường Bolsa Grande. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Từ 2 giờ trưa, ban tổ chức đã cho chuẩn bị sân khấu, xếp ghế, dựng lều, và mang nhà vệ sinh đến, cùng các công việc khác.


Ông Cang Nguyễn, một thành viên ban tổ chức, cho biết đã xếp 7,000 ghế ngồi giữa sân, có lều che nắng. Ngoài ra, hai bên sân vận động có khoảng 4,000 chỗ ngồi nữa.


Ðại nhạc hội sẽ được bắt đầu lúc 12 giờ trưa Chủ Nhật, 12 Tháng Tám, nhằm gây quỹ giúp thương phế binh và cô nhi quả phụ VNCH tại quê nhà. Giá vé đồng hạng $10.


Ðại Nhạc Cám Ơn Anh kỳ 6 do Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH tổ chức với sự phối hợp của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, Trung Tâm Asia, đài truyền hình SBTN và đại truyền hình SET-TV 57.4. Chương trình sẽ được chiếu trực tiếp trên hai đài truyền hình này.


Ðồng hương theo dõi qua truyền hình có thể gọi điện thoại đóng góp tài chánh trực tiếp qua số 1-888-339-8247, hoặc có thể liên lạc qua số điện thoại Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH (714) 539-3545.


Mọi đóng góp khác cũng có thể gởi về cho hội qua địa chỉ: Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, PO Box 25554, Santa Ana, CA 92799.

Dân chủ hay độc tài?

 


Lê Phan


 


Tại Thế Vận Hội Luân Ðôn 2012, trong cuộc đua thể dục dụng cụ nhảy ngựa gỗ có một thanh niên với mái tóc rất điệu tên là Louis Smith. Mẹ Smith, năm nay 47 tuổi, một mình nuôi hai đứa con trai sau khi ly dị người chồng năm Smith mới có ba tuổi.


Bà bảo với các nhà báo là cậu con trai Louis của mình lúc nào cũng thích chạy. Năm bảy tuổi, nó bị định bệnh ADHD, một căn bệnh của những cậu bé quá nhiều năng lực, không tập trung chú ý được. Bác sĩ cho cậu uống Ritalin nhưng bà bảo bà không thích cho con uống thuốc vì bà nghĩ cậu con trai của mình có thể sử dụng năng lực vô biên đó vào một cái gì tốt đẹp hơn nếu có một hoàn cảnh tốt hơn. Anh Louis tập thể dục dụng cụ và Louis cũng muốn theo anh. Bà kể, “Họ cho nó bắt đầu năm mới có lên bốn. Có thể thấy tiềm năng của nó. Nó cứ chạy tối ngày như gà mắc đẻ nhưng nó dẻo người lắm.”


Bà kể tiếp, “Năm bảy tuổi, Louis được chọn để theo học một huấn luyện viên hàng đầu ở Huntingdon Gym, như vậy có nghĩa là phải đi mỗi ngày và cả weekend nữa. Tôi đón nó ở trường, nó thay quần áo và ăn tối trong xe. Ðến khuya chúng tôi mới về đến nhà. Nhưng tôi không coi đó là một sự hy sinh. Tôi biết đó là chỗ tốt nhất cho con tôi. Có điều tôi phải tính toán rất kỹ bởi gym tốn tiền lắm, quần áo, dụng cụ rồi tiền xăng nữa. Mẹ tôi, nay đã qua đời vẫn phải phụ thêm tiền cho chúng tôi. Ðến năm 11 tuổi, Louis không cần Ritalin nữa bởi nó quá bận rộn với thể dục. Nó hết sức tập trung và kỷ luật. Năm 14 tuổi, nó lãnh huy chương vàng ở Giải Vô Ðịch Thiếu Niên Âu Châu. Năm 16 tuổi, nó được huy chương vàng ở Vận Ðộng Hội Khối Thịnh Vượng Chung Anh. Năm 17 tuổi, nó không học lên nữa mà trở thành vận động viên toàn thời gian. Khi nó được chọn sang thi đấu ở Bắc Kinh, mẹ tôi và dì tôi cho tôi tiền đi theo nó. Tôi ước gì tôi không phải xem nó biểu diễn, nhưng khi nó được huy chương đồng tôi khóc. Tôi thật tự hào. Biết rằng suốt những năm tháng đó đã đạt được kết quả với tấm huy chương làm tôi đờ đẫn. Ðến ngày nay, Louis đã ra ở riêng, gần nhà tôi, và tôi vẫn giặt giũ, nấu ăn cho nó bởi nó bận tập dợt, điều duy nhất tôi ao ước là nó được vui hưởng mùa Hè năm nay.”


Tạp chí Foreign Policy, vào cuối tháng 7 có một bài tiên đoán về ai sẽ đạt được nhiều huy chương nhất ở Thế Vận Hội Luân Ðôn 2012, trong đó tạp chí cho là một quốc gia muốn đạt được vinh quang ở thế vận hội, khẩu hiệu không phải là Citius, Altius, Fortius (nhanh hơn, cao hơn, mạnh hơn) mà phải là Maior, Ditiores, Communistarum (lớn hơn, giàu hơn, cộng sản).


Dựa trên hai nghiên cứu được đưa ra để tiên đoán số huy chương tại Thế Vận Hội Sydney 2000, Foreign Policy giải thích: Vận động viên cũng giống như những bộ máy phức tạp. Càng có nhiều người thì càng có nhiều máy. Càng có nhiều tài nguyên so với người thì càng nhiều bộ máy được đầu tư vào để tạo thành vận động viên thế vận, và cộng sản là vì công thức đã được Liên Xô sáng chế đã rất thành công.


Công thức này hiện nay vẫn được Trung Quốc theo đuổi. Như thông tín viên Bắc Kinh của đài NPR đã tả, sở dĩ Trung Quốc đạt được nhiều huy chương thế vận đến thế là vì họ đã tổ chức một guồng máy để huấn luyện vận động viên.


Phóng viên kể lại, “Ở sân tập, một cô bé la lớn ‘bảy phút’, trong khi những giọt mồ hôi nhỏ từ trán của em xuống cái đồng hồ được đặt dưới đất trong khi em đang giữ thế đứng bằng tay. Em có nhiệm vụ giữ giờ và đang đếm để cho các bạn tập đứng bằng tay trong 10 phút. Xung quanh, những em nhỏ, trạc cỡ năm sáu tuổi đang cố gắng hết sức, đỏ cả mặt vì mệt, có em bắt đầu rên lên vì mệt. Ông huấn luyện viên thản nhiên đứng xem.”


Và công việc lọc lựa tìm người để huấn luyện bắt đầu rất sớm. Cô vận động viên 16 tuổi đã đạt huy chương vàng trong giải 400m bơi hỗn hợp giải thích cô được lựa chọn vào môn bơi lội từ năm lên 6 bởi “thầy em thấy em có cánh tay thật dài.”


Việc huấn luyện cũng rất cam khổ. Thời khóa biểu tám giờ một ngày, sáu ngày một tuần với việc học cũng như gia đình bị bỏ quên. Hơn thế một khi đã vào hệ thống rồi, bỏ cuộc không phải dễ vì nhà nước đã đầu tư hơn 4.5 tỷ đô la để tạo nên những huy chương vàng tương lai.


Chương trình huấn luyện mà một viên chức trong Tổng Cục Thể Dục nhà nước Trung Quốc đã diễn tả như là một kim tự tháp, với những trung tâm huấn luyện nội trú ở các tỉnh như trung tâm ở tỉnh Hồ Bắc mà phóng viên của đài NPR đã đến viếng chỉ là cái đáy. Những em nhỏ được đưa vào đó, và từ từ tiến lên nếu đủ khả năng, để sau cùng là những vận động viên tuyệt hảo.


So với cái hệ thống đó, kinh nghiệm của Louis và bà mẹ thật khác hẳn. Nhưng ở đa số những quốc gia dân chủ, đó chính là kinh nghiệm của các vận động viên.


Cũng có những sự giúp đỡ của chính phủ. Ở Hoa Kỳ, hệ thống các trường đại học là lò huấn luyện cho tương lai. Một khi được học bổng hay được nhận vào một trường đại học với học bổng thể dục thể thao, sinh viên đó sẽ được giúp đỡ, từ huấn luyện viên đến dụng cụ đến cơ hội thi đấu. Những trường này, đa số là đại học công, được trợ cấp của chính phủ.


Ở Anh Quốc cũng vậy. Năm 1996, tại Thế Vận Hội Atlanta, toàn thể đội tuyển quốc gia Anh chỉ đạt được có mỗi một huy chương vàng và tổng cộng chỉ có 15 huy chương. Trước sự việc được coi như là nhục quốc thể đó, năm sau, chính phủ đã quyết định trao một số tiền từ xổ số quốc gia để giúp đỡ những môn thể thao thế vận. Chẳng mấy lâu sau, ở Thế Vận Hội Sydney năm 2000, Anh đạt 11 huy chương, lần đầu tiên Anh đạt được trên 10 huy chương vàng kể từ Antwerp 1920, và tổng cộng 28 huy chương đủ loại. Athens 2004 cũng vậy. Ðó là thế vận hội cuối cùng trước khi Anh được trao cho tổ chức Thế Vận Hội 2012.


Ðể chuẩn bị cho thế vận hội, ngân sách dành cho thể thao tăng vọt. Khi Anh đến dự Bắc Kinh 2008, đội tuyển quốc gia đã được đầu tư 235 triệu bảng Anh cho những chương trình huấn luyện cho đến thế vận hội, một sự gia tăng gấp bốn lần so với Athens 2004. Khoảng 60 phần trăm ngân sách huấn luyện đến từ tiền xổ số. Khoảng 40 phần trăm là trích thẳng từ ngân sách quốc gia. Còn khoảng 7 triệu đến từ cố gắng xin tài trợ của đội tuyển 2012. Tổng cộng như vậy mỗi người dân đóng thuế phải chi ra 80 xu một năm.


So với ngân sách 4.5 tỷ đô la một năm của Trung Quốc thì ngân sách khoảng 370 triệu đô la cho suốt bốn năm chuẩn bị cho thế vận là quá rẻ.


Ðiều quan trọng hơn là những huy chương vàng của Anh đa số là từ những bà mẹ như bà mẹ của Louis Smith, hay mẹ của Michael Phelps, mà câu chuyện cũng không khác chuyện của Smith bao nhiêu.


Cái công thức Maior, Ditiores, Communistarum, như vậy có vẻ không đúng. Anh Quốc không lớn, không có nhiều tiền và không phải cộng sản nhưng nếu tính theo dân số, đứng thứ nhì trong bảng huy chương thế vận trong khi Trung Quốc đứng thứ 10. Nhất là so sánh số phận của Smith với số phận của những em bé được huấn luyện ở Trung Quốc thì khuôn mẫu Anh Quốc tử tế hơn và nhân đạo hơn.

Sư Phạm Qui Nhơn, một bệ phóng cho nền giáo dục VNCH

 


Nguyên Huy/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Vào những năm trước 1975, tuổi trẻ miền Nam Việt Nam trong giới học sinh, sinh viên đã có không ít người biết đến trường Sư Phạm Qui Nhơn, trong mạng lưới các trường sư phạm do Bộ Giáo Dục VNCH mở ra để đào tạo thầy cô đáp ứng nhu cầu gia tăng mãnh liệt cho hệ thống giáo dục của miền Nam đang trong thời kỳ phát triển.









Thành viên Ban Chấp Hành Hội Ái Hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại trình diện trong buổi hội ngộ lần thứ 20. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Sư Phạm Qui Nhơn còn là nơi tu nghiệp cho giáo chức đang phục vụ tại các tỉnh miền Trung với một cơ sở trường lớp, thực tập rộng lớn, khang trang, đầy đủ tiện nghi lại còn cả hai khu nội trú cho nam và nữ giáo sinh.


Có lẽ vì những yếu tố trên, cựu giáo sinh của Sư Phạm Qui Nhơn từ 21 năm nay năm nào cũng có cuộc họp mặt mà cuộc họp mặt nào cũng không dưới 300 người tham dự.


Năm nay, các cựu giáo sinh này lại có dịp hội ngộ nhau trong một buổi lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ngôi trường.


Bà Nguyễn N. Nghĩa, hội trưởng Hội Ái Hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại, cho biết: “Năm nay chúng tôi tập trung tại nhà hàng Paracel Seafood, Westminster, lúc 10 giờ 30 sáng Chủ Nhật, 12 Tháng Tám. Ðã qua 20 lần hội ngộ, chúng tôi cứ tăng dần lên sự gắn bó mật thiết. Mười ba khóa học của chúng tôi với nhiều ngành, nhiều cấp nhưng chúng tôi vẫn là một khối, khối giáo sinh mà tương lai khi ra trường chúng tôi phải mang nặng một trọng trách thể hiện được những tinh hoa của nền giáo dục VNCH là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Ðã qua 37 năm phải rời trường lớp nhưng mỗi lần hội ngộ là lại tìm thêm được những dấu chỉ của thành quả công việc mà mình đã được Sư Phạm Qui Nhơn đào tạo. Nên hội ngộ thường niên đã như một sợi dây vô hình trong suốt 21 năm qua từ ngày hội được thành lập. Tình thân hữu, mối tương trợ giữa các giáo sư và thầy cô cùng với các giáo sinh Sư Phạm Qui Nhơn đã thành một tập thể vững chắc, đó là Hội Ái hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại.”


Nhớ về trường cũ, bà hội trưởng nhắc lại không chỉ vị trí ngôi trường trong thị xã mà còn nhắc đến cái trọng trách của Sư Phạm Qui Nhơn. Bà cho biết từ ngày trường được thành lập, đã có tất cả là 13 khóa học, mỗi khóa là 2 năm để đào tạo các giáo sinh cho cấp tiểu học và trung học đệ I cấp tại các tỉnh miền Trung. Và vì tình hình ở nhiều địa phương có khác biệt nên Sư Phạm Qui Nhơn có những chương trình đào tạo đặc biệt như giáo học bổ túc cho bậc tiểu học cộng đồng. Giáo sinh không chỉ được học lý thuyết mà còn được thực hành ngay những điều mình được học tập. Ðó là trường Sư Phạm Thực Hành được tổ chức ngay bên cạnh trường với các lớp tiểu học kiểu mẫu của nhà trường.


Bà mỉm cười kết luận: “Ðó chính là cái sợi dây vô hình đã kết nối chúng tôi cho dù thời gian đã qua đi hàng mấy chục năm.”


Theo một tài liệu của Giáo Sư Ðào Ðức Chương, Sư Phạm Qui Nhơn nằm giữa hai trường trung học là trung học Vi Nhân và trung học Kỹ Thuật trên đường Nguyễn Huệ. Ðó là một trường sư phạm cao cấp nhất vào lúc đó. Trường được khánh thành ngày 3 Tháng Mười, 1962 với nhiều phòng học, giảng đường, thư viện, câu lạc bộ và trung tâm y tế. Qua năm 1967, trường xây cất thêm hai dẫy nội trú cho nam giáo sinh và nữ giáo sinh riêng biệt lúc đó khoảng gần 400 nam và trên 300 nữ giáo sinh. Sư Phạm Qui Nhơn đào tạo thầy cô cho bậc tiểu học và trung học đệ I cấp trong thời gian hai năm với các chương trình học về sư phạm lý thuyết, sư phạm chuyên biệt, giáo dục cộng đồng, hoạt động thanh niên… Qua năm thứ hai chương trình giáo dục hướng về thực hành, quản trị và thanh tra học đường, giao tế xã hội, chính trị và kinh tế bên cạnh các môn học thường xuyên khác.


Nói đến Sư Phạm Qui Nhơn mà không nói đến Sư Phạm Thực Hành thì thật là thiếu sót. Thực hành trong chương trình học là giáo sinh được thực tập giảng dạy ngay trong các lớp tiểu học mẫu của nhà trường. Ngoài ra còn phải đi nghiên cứu tại các địa phương để từ đó tiếp cận được với cộng đồng, thấy được những nhu cầu của dân chúng như nước uống, y tế, giáo dục tráng niên, rồi đặt ra kế hoạch để giải quyết những nhu cầu ấy qua các sinh hoạt hoạt động xã hội, văn nghệ mà nhắc nhở mọi người cùng góp tay cải thiện cuộc sống của chính mình.









Một màn vũ dân tộc do các thành viên Hội Ái Hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại trình diễn. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Nhắc đến việc này, bà hội trưởng, xuất thân từ khóa 6 Sư Phạm Qui Nhơn, cho biết: “Tiểu học cộng đồng là tiểu học phải phù hợp với tình trạng, hoàn cảnh từng địa phương. Giáo sinh sau những cuộc thực tập trong khóa học khi đến địa phương mình phụ trách phải nghiên cứu tìm hiểu ngay tình hình dân trí của địa phương, hoàn cảnh sinh sống của người dân và con em tại vùng này rồi đề ra chương trình học dựa trên những điểm chính của chương trình từ Bộ Giáo Dục đề ra sao cho các em thấm nhuần được những tinh hoa của chương trình giáo dục của bộ. Nghĩa là giáo sinh nay đã là thầy cô không chỉ là những con vẹt nhắc lại chương trình học chung chung từ bộ đưa xuống. Thầy cô phải là những người sáng tạo để sao cho những tinh hoa của nền giáo dục VNCH là nhân bản, dân tộc và khai phóng không còn là những từ ngữ mơ hồ đối với học trò, đối với phụ huynh mà phải được thấm nhuần vào nếp nghĩ, nếp sống của tuổi trẻ và người dân địa phương. Chính vì thế mà có nhiều thầy cô trong chúng tôi đã tự ví trường Sư Phạm Qui Nhơn chúng tôi là một trong những bệ phóng cho nền giáo dục của VNCH đào tạo được một thế hệ sống có thủy có chung, có trên có dưới mà ngày nay chúng ta thường gọi là truyền thống văn hóa của dân tộc.”


Quí độc giả từng là giáo sinh hay thân hữu của Sư Phạm Qui Nhơn, Sư Phạm Thực Hành muốn biết chi tiết về buổi gặp gỡ này có thể liên lạc qua hai số điện thoại (714) 898-2700 và (714) 554-1290.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

IYF tổ chức Trại Hè Thế Giới 2012 San Diego

 


Linh Nguyễn/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Hội Ái Hữu Giới Trẻ Quốc Tế (International Youth Fellowship – IYF) vừa mở một cuộc họp báo vào lúc 6 giờ chiều Thứ Ba tại hội trường Văn Lang, Westminster, để quảng bá một sinh hoạt lớn nhất hàng năm.


 







Một màn trình diễn múa nón do các em nhóm Việt Nam phụ trách. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


 Ðó là Trại Hè Thế Giới 2012, được tổ chức từ 19 đến 23 Tháng Tám, tại khách sạn Town and Country Resort Hotel, 500 Hotel Circle North, San Diego, CA 92108.


Hạn chót ghi danh là 15 Tháng Tám, để đặc biệt được giảm $50 trại phí, vì có một mạnh thường quân bảo trợ. Lệ phí bình thường là $199/một người.


“Chúng tôi mời quý vị dùng bữa ăn tối, sau đó chúng tôi sẽ giới thiệu hình ảnh các sinh hoạt của các Trại Hè Thế Giới do IYF tổ chức trước đây, và quý vị cũng sẽ được xem các bạn trẻ trình diễn văn nghệ giúp vui,” anh Noah Nguyễn, 45 tuổi, giám đốc chương trình liên lạc với các trại sinh gốc Việt, mời khách tham dự.


Cô Ngọc Hạnh Lê, thành viên Hội Truyền Giáo Tin Lành Good News, hướng dẫn chương trình, chào mừng quan khách và các đại diện truyền thông. Cô giới thiệu các diễn giả trên bàn chủ tọa và mời Phó Thị Trưởng Westminster Trí Tạ phát biểu trước, vì ông từng tham dự Trại Hè Thế Giới 2011.


“Tôi thấy sinh hoạt này nặng tính chất giáo dục và rất bổ ích cho giới trẻ học hỏi khả năng lãnh đạo và dấn thân. Tôi chứng kiến các em tự thay đổi để có đời sống tích cực, yêu đời. IYF rất xứng đáng được các phụ huynh khuyến khích con em tham dự,” ông Trí nói.


Theo lời cô Ngọc Hạnh Lê, Trại Hè Thế Giới là “một chương trình giáo dục trí tuệ được khởi xướng từ năm 2001 và diễn ra hàng năm trên 40 quốc gia khác nhau, với mục đích đào tạo, gieo trồng một thế hệ lãnh đạo trong tương lai.”


Trại Hè dành cho các bạn trẻ học lớp 7, trở lên và bao gồm cả phụ huynh, nếu muốn tham gia. Thời gian trại kéo dài 5 ngày và 4 đêm.


Một người khác đại diện cho nhóm IYF là anh John Lê. Anh cho biết chương trình chính của trại Hè sẽ gồm năm phần. Phần đầu là thảo luận Kinh Thánh, dạy về “thế giới tấm lòng” với Mục sư Cố vấn Ock Soo Park để các trại sinh biết được ý nghĩa thật sự của cuộc sống ngoài việc cắp sách đến trường.


“Tôi theo cha mẹ vượt biên năm 1990 và đến được đảo Galang, Indonesia, và ở tại đó bảy năm. Tôi gặp được một giáo sĩ người Nam Hàn có tên Việt là Nam và ông đã giúp tôi hai năm gần đây có đời sống tích cực hơn,” anh John Lê giải thích và thêm rằng: “Ban tổ chức mời những người thành công, nổi tiếng để nói cho các trại sinh nghe về những gì họ phải trải qua để thành công, chẳng hạn như Phó Thị Trưởng Trí Tạ ngày hôm nay.”


Anh cũng nhắc đến các phần thưởng như máy ipad 2 cho cuộc thi chạy bộ.


Phần hai của chương trình Trại Hè Thế Giới ở San Diego là về âm nhạc. Những màn trình diễn như kịch ngắn, các vũ điệu truyền thống của các quốc gia khác nhau, biểu diễn Tae Kwon Do, các nhạc cụ và chương trình hòa nhạc Cantata sẽ mang lại sự tĩnh lặng trong lòng người nghe.


Kế đến là những sinh hoạt ngoài trời và chạy việt dã 5,000 mét, để các bạn trẻ thể hiện năng lực và đạt mục đích của mình.


Phần hội thảo quan trọng nhấn mạnh các chuyên đề về lãnh đạo do các chuyên gia, các khoa học gia, các nhà giáo dục, chính trị gia và các chuyên gia khác trình bày để các bạn trẻ có thể nhìn cuộc đời qua một lăng kính rộng hơn.


Các trại sinh cũng có thể chọn tham gia các buổi huấn nghệ như công nghệ tế bào gốc, làm sushi, cấp cứu, nhạc võ Brazil, thời trang, chăm sóc móng tay, văn hóa Triều Tiên, nhiếp ảnh, Thái Cực Ðạo, khiêu vũ, Ðông Y học, dưỡng da, sửa chữa tân trang nhà cửa, vũ Zumba và báo chí.


Năm ngoái, các trại sinh được học hỏi từ Hiệu Trưởng Andy Mazda thuộc Ðại Học Sushi, cựu ký giả truyền hình Jacqueline Cacho, Giáo Sư Ron Pastuca thuộc ngành mô hình ba chiều (3D) và nhiếp ảnh gia Iva Block của National Geography.


Nói về sự hấp thụ của các trại sinh, anh Noah Nguyễn giải thích thêm: “Các em được chia nhóm 10-12 người và có một mục sư luôn sinh hoạt, tâm sự và đi sát với các em trong thời gian tại trại.”


Anh tiếp: “Cha mẹ các em cũng nhận thấy sự khác biệt trước và sau khi các em tham dự trại về. Các em có sự ‘mở lòng’ với cha mẹ. Các em thường chơi game bây giờ lại muốn đi học để thiết kế các game!”









Thành viên ban tổ chức Trại Hè Thế Giới 2012 và Phó Thị Trưởng Westminster Trí Tạ (giữa) tại cuộc họp báo. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Trên bàn chủ tọa có một giáo sĩ gốc Nam Hàn, 28 tuổi, sau khi được giới thiệu tên Việt là Kim Hoàng, anh nói tiếng Việt chưa sõi lắm, anh cho biết: “Sau khi tốt nghiệp đại học ở Nam Hàn, tôi đến Hà Nội năm 2006 để dạy tiếng Triều Tiên và máy điện toán cho người Việt. Tôi thích ăn phở bò, nem và bún chả. Tôi không ăn được ngò!”


Thành phần chủ tọa có em Amy Bùi là trẻ tuổi nhất và cho biết em sinh hoạt năm thứ hai với IYF: “IYF đem đến cho em sự yêu đời, tình bạn trong sáng và cơ hội học hỏi rất nhiều.”


Về phía người tham dự, bà Phương Ðỗ, 60 tuổi, ở Fountain Valley, nhận xét: “Tôi nghe radio và đọc báo Người Việt mới biết đến sinh hoạt này. Thật là một chương trình bổ ích cho thiếu niên.”


Chồng bà, ông Nam Ðỗ, 75 tuổi, cho biết: “Tôi thấy phải phổ biến mạnh mẽ trong cộng đồng Việt Nam để các con cháu tham dự. Không đi để lỡ cơ hội này thật là phí!”


Anh Noah Nguyễn cho biết là Trại Hè Thế Giới IYF 2012 không phải chỉ chú trọng đến tôn giáo mà còn có mục đích đào luyện các bạn trẻ trở nên những người lãnh đạo tốt trong các môi trường của xã hội.


Khẩu hiệu của Trại Hè Thế Giới IYF 2012 là Thách Thức, Ðổi Thay và Hiệp Nhất và câu nói bất hủ nhắc nhở trại sinh của Mục Sư Ock Soo Park, người sáng lập IVF: “Ðừng chú tâm đến bạn hôm nay là ai. Hãy kỳ vọng ở những gì bạn trở thành sau này!”


Mọi chi tiết về trại Hè, xin liên lạc (714) 622-9412 hay (714) 260-2676, hoặc vào trang nhà www.ivfworldcamp.com.


–-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tin mới cập nhật