‘Summer Recital’ cho piano tại Long Beach

 


Ðức Tuấn/Người Việt


 


LONG BEACH (NV ) –Buổi “Summer Recital” dành cho các môn sinh piano của nhạc sĩ Ngô Quang Minh sẽ được tổ chức lúc 3:30 chiều ngày 19 Tháng Tám tại Gerald Daniel Recital Hall, Bob Cole Conservatory, CSULB – 1250 Bell Flower Blvd, Long Beach CA 90840.










Pianist Ngô Quang Minh. (Hình: Ngô Quang Minh cung cấp)


“Tôi mở lớp dạy đàn piano và vocal từ hơn 5 năm nay rồi, phần đông học trò đến nhà tôi học, ngoài ra tôi cũng nhận đến nhà dạy riêng từng em,” thầy giáo Ngô Quang Minh giới thiệu về lớp dạy đàn dương cầm của mình.


Theo thầy giáo Ngô Quang Minh, “recital” là cơ hội để mỗi học sinh biểu diễn, “giống như một cuộc thi trắc nghiệm để các em có dịp thể hiện những gì mình đã học được.”


Hiện nay, phong trào học đàn dương cầm hay guitar hoặc học hát nở rộ khắp nơi, và được học viên đủ mọi lứa tuổi tham gia.


Thầy giáo Ngô Quang Minh chia sẻ: “Học trò của tôi đủ mọi lứa tuổi, trình độ – từ các em bé bắt đầu vỡ lòng đến trình độ cao cấp, và tôi nhận dạy từ nhạc cổ điển đến phổ thông, nhạc đệm, và cả nhạc Việt Nam.”


Nói về buổi “Summer Recital,” thầy giáo Minh cho biết ngoài sự tham dự của các học trò, còn có một số ca sĩ thân hữu nhận lời đến chung vui, và “dĩ nhiên các ca sĩ thân hữu sẽ có phần biểu diễn của họ trong chương trình.”


“Sẽ có khoảng 30 em học trò biểu diễn hôm đó, với đủ loại nhạc từ cổ điển đến nhạc phổ thông và nhạc Việt Nam.” Thầy giáo Ngô Quang Minh cho biết.


“Vào cửa tự do và sẽ không có kêu gọi đóng góp hay ‘donation’ cho chương trình vì đã có một số mạnh thường quân bảo trợ rồi.”

Hạ Viện Mỹ chấp thuận tu chính đạo luật RESPA

 


HOA KỲ – Hôm 1 Tháng Tám, Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua dự luật được gọi HR 2446 minh định việc bảo hành nhà (home warranty: hợp đồng bảo đảm việc sửa chữa hoặc thay thế một số dụng cụ trong nhà), được quy định trong đạo luật RESPA.



Dự luật mới sẽ chính thức loại bỏ những bảo hành nhà khỏi các dịch vụ thỏa thuận địa ốc, bị giới hạn theo đạo luật quy định các thủ tục thỏa thuận địa ốc RESPA (Real Estate Settlement Procedures Act). Nếu dự luật được ký thành luật, các chuyên viên địa ốc một lần nữa lại có thể quảng cáo những chính sách bảo hành nhà cho giới tiêu thụ một cách dễ dàng hơn.


Hợp đồng bảo đảm sửa chữa các hư hỏng của căn nhà trong thời hạn một năm kể từ khi bản hợp đồng mua bán nhà được ký kết (home warranty plan) thường hay được người mua nhà đề nghị người bán cung cấp hầu tránh những sửa chữa và tốn kém bất ngờ.


Những người ủng hộ dự luật nói nó tái lập các ý định nguyên thủy khi Quốc Hội thông qua đạo luật RESPA vào năm 1974 nhằm cung cấp cho giới tiêu thụ những tiết lộ về phí tổn cho các dịch vụ dàn xếp mua bán bất động sản. Bởi vì những vụ bảo hành nhà không bị đòi hỏi cho việc thỏa thuận thế chấp, chúng không được coi như nằm dưới sự chi phối của dự luật.


Vào năm 1992, Bộ Gia Cư và Phát Triển Ðô Thị Hoa Kỳ (HUD) đã mâu thuẫn với định nghĩa này của việc bảo hành nhà đã có từ hàng thập niên. HUD lại im lặng về vấn đề này cho tới khi bộ đưa ra một thông tư bán chính thức chất vấn lề lối này vào năm 2008, và rồi gây phức tạp thêm cho vấn nạn với một quy định có tính cách giải thích được đưa ra vào năm 2010. Sự hàm hồ đã gây ra những tranh chấp pháp lý và đã giới hạn trầm trọng sự tham gia của các chuyên viên địa ốc vào ngành kinh doanh bảo hành nhà. Ngay từ đầu, Hiệp Hội Ðịa Ốc Toàn Quốc (NAR) đã tranh đấu để có một cách hành xử minh bạch hơn về những bảo hành nhà theo quy định của đạo luật và đang tìm cách để dự luật được Thượng Viện cứu xét.


Dự luật, được đệ trình vào năm ngoái bởi các dân biểu Judy Biggert (Cộng Hòa, Illinois) và William “Lacy” Clay (Dân Chủ, Missouri) đã được sự ủng hộ của cả hai đảng và có 40 dân biểu đồng bảo trợ.


“Dự luật này sẽ giúp các doanh nghiệp nhỏ. Nó sẽ giúp các chuyên viên địa ốc. Quan trọng hơn cả, nó sẽ giúp các chủ nhà bằng cách làm sáng tỏ đạo luật về việc bán các chính sách bảo hành nhà,” theo lời Dân Biểu David Scott (Dân Chủ, Georgia) khi phát biểu tại diễn đàn Hạ Viện, “Nó rất giản dị, nhưng rất quan trọng để kỹ nghệ địa ốc và kỹ nghệ thế chấp nhà của chúng ta có thể tiến hành một cách trôi chảy hơn.”


Vào cuối Tháng Ba, Ủy Ban Dịch Vụ Tài Chánh Hạ Viện đã thông qua dự luật HR 2446 với một tu chính nhằm gia tăng sự trong sáng. Tu chính đòi hỏi các nhà môi giới khuyến cáo những bảo hành nhà phải tiết lộ rằng họ có thể nhận được sự tưởng thưởng nhờ sự khuyến cáo, và rằng người mua nhà không bắt buộc phải mua bất cứ một chính sách bảo hành nhà nào, càng không cần phải mua từ công ty mà nhà môi giới đã khuyến cáo. (nn)

3 tiên đoán quan trọng cho địa ốc

 


HOA KỲ – Một vài tiên đoán quan trọng phát xuất từ cuộc thảo luận của ủy ban đã mở đầu cuộc hội thảo về địa ốc, được gọi là Real Estate Connect, của công ty tham vấn kỹ nghệ địa ốc Inman vào buổi sáng ngày 1 Tháng Tám ở San Francisco.



Cuộc hội thảo, dưới sự điều hợp của sáng lập viên của Inman News, ông Brad Inman, có sự hiện diện của các chuyên viên thuộc giới địa ốc và tài chánh. Sau đây là một vài tiên đoán quan trọng nhất cho kỹ nghệ địa ốc.


 


1. Lãi suất sẽ tiếp tục thấp ít nhất một năm nữa


Bà Amy Brandt, tổng giám đốc của công ty đầu tư Vantium Capital, đưa ra lời tiên đoán dè dặt nhất: lãi suất có thể sẽ khởi sự tăng đáng kể vào mùa Hè năm tới. Ông Bill Emmons, phụ tá phó chủ tịch và cũng là kinh tế gia của Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang ở St. Louis, cho biết ông hy vọng Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Fed) sẽ làm bất cứ điều gì có thể làm được để duy trì lãi suất thấp cho tới cuối năm 2014.


 


2. Bất kể điều gì xảy ra, chính phủ sẽ tiếp tục đóng một vai trò lớn trong việc tài trợ thế chấp


Bà Brandt vạch rõ rằng hơn 90% các món thế chấp nhà ngày nay phần nào được hỗ trợ bởi chính phủ liên bang. Ðiều đó có thể tiếp tục diễn ra vì một vài lý do, lý do đầu tiên là các nhà đầu tư muốn như vậy, theo lời ông Joel Singer, tổng giám đốc của Hiệp Hội Ðịa Ốc California (CAR). Nhưng một vấn đề khác là không có thực thể hoặc nhóm tư nhân nào đủ lớn để trám vai trò đó ngay bây giờ. Tuy nhiên, không rõ là liệu cơ quan tài trợ gia cư liên bang FHA hay một định chế thoát thai từ Fannie Mae và Freddie Mac sẽ nắm vai trò chủ chốt.


 


3. Các tài sản có giá trị nội tại như dầu hỏa, vàng và bất động sản có thể sẽ tăng vào một lúc nào đó trong thời gian tới


Mọi chuyên viên trong ủy ban đều đồng ý, với vài ngoại lệ nhỏ, rằng bất động sản là một đầu tư tốt ngay bây giờ. Và cũng như những tài sản hiển nhiên khác, nó có thể sẽ gia tăng giá trị trong thời gian vài năm tới.


Họ cũng đều đồng ý rằng sẽ cần một thời gian trước khi nền kinh tế trở lại sự phát triển ổn định, kéo dài. Lý do? Sự suy sụp là do những vấn nạn lớn trong lãnh vực tài chánh, và hệ thống bị đổ vỡ sẽ phải được tái trang bị trước khi nền kinh tế có thể thực sự phát đạt, theo lời ông Patrick Stone, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Williston Financial Group.


Ông Singer nói thêm việc tái xây dựng đó có thể cần thời gian. “Sự chuyển tiếp này sẽ cần một thời gian. Sự thất bại của các định chế trong việc nhận thức vấn nạn và đi tới các giải pháp là những gì khiến tình trạng này kéo dài lâu như vậy.”


Ông Emmons nói giới kinh doanh hiện giờ hết sức tránh rủi ro, khiến dòng tư bản chảy vào những tài sản có rủi ro thấp, tiền lời thấp. Ông nói điều này sẽ phải cải thiện, nhưng mức độ nợ nần công và tư chưa từng thấy có thể kềm chế sự phát triển. Ông giải thích: “Vẫn có nhiều nợ nần phải giải quyết. Trên vài phương diện, chúng ta trông giống như Nhật Bản. Thay vì chấp nhận 18 tháng cực khổ để vượt qua, chúng ta đá nó tới cuối đường.”


Tuy nhiên, ủy ban nói chung lạc quan về các triển vọng dài hạn của nền kinh tế.


Ông Stone nói: “Chúng ta huấn luyện và giáo dục những nhà cải cách của ngày mai. Và không có nước nào nối kết tư bản và cải cách tốt hơn chúng ta.”


Bà Brandt cũng bày tỏ tin tưởng vào khả năng của hầu hết các chuyên viên địa ốc để thích ứng với bất cứ biến chuyển lớn nào của nền kinh tế, giống như khi họ đã làm với sự ra đời của Internet. “Tôi nghĩ đây là một nhóm cải cách có thể đi tới các giải pháp,” bà nói, nhưng nhấn mạnh rằng những người hành nghề cần gia tăng cảnh giác và sự tham gia của họ về mặt tài trợ thế chấp trong vụ giao dịch.


Bà nói: “Nếu tôi điều hành một công ty địa ốc, tôi sẽ cố gắng hợp tác chặt chẽ hơn với bên tài chánh.” (nn)

Nhân chứng

 


* Phương Nam


 


Ðời ta hai lần nhìn cờ sao phất phới


Hai lần tang thương, hai lần đau nhói…


khi sinh ra mang dòng máu Việt.


 


Ðời ta hai lần nhìn thấy màu cờ đỏ rực


của kẻ chiến thắng mang chủ nghĩa bạo tàn…


Chúng cùng nhau gọi là đồng chí


cùng thờ một chủ nghĩa Mác Lê


 


Hôm xưa ta chết lịm trong ngày vui thống nhất…


Và hôm nay ta tủi nhục đắng cay với lễ hội Tam Sa


của lũ ngoại xâm Tàu cộng


trên chính đất tổ quê cha


 


Ta bàng hoàng khản cổ


Màu da vàng bỗng trở thành xanh mét


Dân tộc tôi đâu


sao triệu người im lặng


 


Sao cứ cúi đầu


với nỗi nhục Tam Sa


 


Ta khóc ngất


từ cõi xa xăm


 


của cội nguồn


của mẹ cha


và quê hương đánh mất


 


Ta căm hận “bọn ngoại xâm đồng chí”


Những kẻ bán nước non


làm ô nhục dòng máu Lạc Hồng.


 


Lịch sử và lương tâm


sẽ phán xét hành hình


 


Và nơi đó ta vẫn mong mình


sẽ là nhân chứng.

Bụi Hồng

 


* Nghiêu Minh


 


Mái đình trong suốt hoàng hôn xuống


Mưa lên vang vọng tiếng hư không


Lá thu ai quét theo gió cuốn


Lời kinh đã lẩn vào bụi hồng


 


Chân hoa thong thả giẫm bầu sương


Dừng bên hang đá niệm vô thường


Bên chiêng bên trống bầy chim ngủ


Mơ giấc nhân gian lối thiên đường


 


Rừng hạnh phế hoang vắng tiều phu


Mãnh thú lấn chen búa vô ưu


Trăm năm vô ngã tìm hạt lộc


Gieo trên đất cằn đợi phù du


 


Hoàng hôn xuống và đêm tối mãi


Ngọn nến tàn kéo tuổi vụt qua


Bờ lấp xấp con đò tự tại


Chốn bụi hồng ta gọi mình ta!


 


Muốn thoát tục mà nợ còn kéo


Mãi ly cạn rồi lại ly đầy


Ðạo khả đạo trăm đường vạn nẻo


“Bởi có em tôi ở lại đây”!


(Nguồn: [email protected])

Âm bản Tháng Bảy

 


* Nguyễn Lương Vỵ


 


Rất nhiều câu thơ viết hoài chưa xong


Ðành phải chia tay mà lòng vẫn xót


Câu thơ bay đi mượt hết mênh mông


Chỉ còn mình ta ngồi thương tóc bạc


 


Thương giọt nắng chiều bèo giạt mây trôi


Và những ai kia vừa mới đi rồi


Và những ai kìa vừa cất tiếng khóc


Trời đất thở dài trời đất mồ côi


 


Ta mồ côi em ngồi chơi với nắng


Khúc nhạc chiều tà Schubert nhói tim


Chìm khuất phố xưa chìm tan huyết phượng


Chìm lặng môi khô mắt ướt lắng chìm


 


Ta mồ côi em ngồi im nghe nặng


Rớt rơi âm vang mà sao quá vắng


Mà sao quá nhiều những lóng xương mây


Hèn chi câu thơ viết hoài chẳng đặng


 


Rất nhiều quán không ở trong mỗi chữ


Rất nhiều bóng đời ở trong mỗi câu


Rất nhiều sinh linh ở trong mỗi tứ


Chẳng biết mần sao chẳng biết mần sao


 


Chẳng biết đi đâu chẳng biết về đâu


Chỉ biết đinh ninh giọt nắng nghiêng đầu


Rủ ta hồn nhiên cất giọng hát xẩm:


Huyết phượng trên đường hãy thắm dài lâu


 


Ta mồ côi em ngồi khâu mộng ảo


Những vết thương tâm chưa ráo sắc màu


Tháng Bảy trong veo treo một tà áo


Náo nức thiên thanh bay vút lên cao


 


Ta mồ côi em ngồi tìm bóng ta


Bóng đổ liêu xiêu là bóng không nhà


Là bóng thất thanh là bóng thất sắc


Cô liêu chín chiều là bóng nhện sa


 


Em gần tươi bông em xa rợp nắng


Nắng đỏ rung cương ngựa trắng lam hồng


Bài thơ chưa xong bài thơ chẳng đặng


Ta quên mất rồi sao vẫn thương mong?!…


Tháng 7, 2012


(Nguồn: sangtao@org)

Thơ Huy Trâm

 


Hiền Lương


(Thân tặng Hạnh)


 


Cuối đời hạnh phúc đến cùng anh


Như hạt sương mai lấp lánh cành


Mới gặp được em – người mộng tưởng


Sao ngày vui vội sớm qua nhanh?


 


Em phải lên đường nhận việc xa


Nửa do thương chị – nửa thương nhà


Em luôn lấy nghĩa nhân làm trọng


Ở đất này, không dễ kiếm ra.


 


Nơi em sau trước có hai điều


Một nắng hai sương – đời hắt hiu


Không nghĩ đến thân – không hưởng lạc


Sầu vương đôi mắt – nét đăm chiêu.


 


Anh thương, không rõ cớ sao thương


Trăng lạnh đêm buồn dạ lý hương


Ðã gặp được em là thấy quý


Ra đi mang hình ảnh hiền lương!


_________________________


 


Hồng Ân


(Thân tặng Lara)


 


Cành cam chín – một hồng ân


Thêm hồng ân nữa! đầy sân lúa vàng


Mây chiều lơ đãng qua ngang


Khơi nguồn mỹ cảm Trời ban cho mình


Bao nhiêu ân sủng chung quanh


Mà em không biết Trời dành cho em!


Còn nguồn ân nữa trong tim


Biết thương yêu, để vơi niềm khổ đau


Ôi! Hồng ân quá nhiệm mầu


Cám ơn Tạo Hóa – ngẩng đầu trông lên.


Tháng 12, 2010

Thơ Giao Yên

 


Thơ Giao Yên


 


Nghêu ngao phố thị


Em áo lụa vàng bay về đâu đó!?


 


Ðể ta buồn nằm mốc cả phù vân


Thời trai trẻ đọng hoài xanh ký ức


Vung vãi phong sương đến bạt gót trần


Nay đã quá nhổ giò sang bóng xế


Ánh tà huy suồng sã phủ vây quanh


Những ân oán lẻ trang lần giở mãi


Ân nặng lòng ghi-oán lại vẫn rần


Khiến lỡ dở non mây quày nện bước


Về nghêu ngao phố thị chút thanh ngâm


Nhìn mây chở trăng tàn xa bến nước


Cuộn dập dềnh kỷ niệm thuở xa xăm


Rượu chẳng nỡ im lìm không gọi bạn


Chuốc một mình chẳng hứng chuốc không xong.


_________________


 


Rượu bụi


Ngồi đại xuống đây làm ít xị


 


Vỉa hè chạm cốc thế mà vui


Làm sang chi lắm cho xa cách


Ðạm bạc như vầy dễ tới lui


 


Lại gặp đôi người không dốc túi


Ðể cho tàn cuộc phải buồn thiu


Chén tàn dĩ đã sao còn trách


Ðáng kiếp đìu hiu phủ dập dìu


 


 


Lại cảnh không ngờ đâu có hiếm


Ra rìa, thất thế gặp cùng say


Ô hô! Ân oán ngồi chung góc


Chén chén đưa cay uống bóng ngày


 


Uống tới cái lo từ vạn thuở


Uống hai vùng mướt mắt xanh tươi


Uống bao bát ngát, bao màu mỡ


Uống lãng mạn Em mới nửa trời.


_______________________


 


Hàng keo xanh mắt


 


Mắt còn xanh một hàng keo


Hàng keo che mát xóm nghèo mình thương


Cành sương đọng đóa sao hườm


Hồn sao cảm tạ hồn sương diệu hiền


Ta cầm tuổi mới lớn lên


Thuở còn ngượng ngập chửa quen câu thề


Sợi buồn nay bỗng lê thê


Gởi về đâu những bộn bề ngóng không?


Giờ đây chợt biết buốt lòng


Hoa keo chen trái hương nồng đường xưa


Bây giờ trái mộng đong đưa


Gió lay hương ngát em vừa sang sông.

Còn gì nữa không?

 


Thái Bá Tân


 


Một lần, khi thuyết pháp ở làng nọ, bỗng có người chạy lại nhổ vào mặt Ðức Phật rồi buông lời thóa mạ.


Các đệ tử định can ngăn nhưng Ngài giơ tay ra hiệu đừng, rồi ôn tồn hỏi người kia: “Còn gì nữa không?”


Câu nói ấy sau này được nhiều người nhắc lại khi chuyện liên quan đến sự nhẫn nhục. Phật hỏi: “Còn gì nữa không?” vì Ngài nghĩ có thể người ấy còn điều ấm ức chưa nói hết. Thì để cho anh ta nói hết.


Sừng sờ trước thái độ nhẫn nhục ấy của Phật, người kia không nói gì thêm, hôm sau đến cúi rạp trước Ngài xin tha tội. Phật nói: “Trong một ngày có nhiều nước chảy qua sông Hằng. Ta không còn là ta của ngày hôm qua. Cả ông cũng vậy. Hôm qua ông phỉ nhổ, hôm nay ông xin tha lỗi. Cả người nhổ và người bị nhổ đã đổi khác. Mọi vật cũng đổi khác, chỉ trong một ngày ngắn ngủi. Vậy hãy đứng dậy, mong ông từ nay chỉ bình tĩnh dùng lời bày tỏ lòng mình.”


Rồi Ngài lại hỏi: “Còn gì nữa không?”


***


Ðúng mười một giờ, giờ lên giường, chuông điện thoại di động kêu. Ông cầm máy.


“Tôi cảnh cáo ông: Già rồi nên nghỉ ngơi vui vầy với con cháu. Ngứa nghề thì viết thơ trẻ con như xưa nay vẫn viết. Và thôi đi cái cái trò bài tung bài lên mạng chửi đảng, chửi chế độ!”


“Dạ, xin hỏi ông là ai ạ?”


“Không cần biết.” Im lặng.


“Tôi không chửi đảng, chửi chế độ. Tôi chỉ nói lên suy nghĩ của mình. Một cách trung thực và có trách nhiệm. Tôi ký tên thật tất cả các bài mình viết, còn ghi cả địa chỉ nhà riêng và điện thoại.” Ông đáp, có ý trách người gọi điện không chịu nói tên.


“Những bài báo phản động! Ăn phải bã nước ngoài rồi làm phản động, hại dân, hại nước!”


Người kia, giọng trong và trẻ, còn tuôn ra một thôi những lời buộc tội gay gắt, đôi lúc tục tĩu và hăm dọa.


Khi thấy anh ta ngừng, ông nhẹ nhàng nói: “Tôi vẫn nghe. Còn gì nữa không?”


Ðầu dây bên kia tắt máy.


Ba hôm sau, khi ông đăng một bài ngắn trên mang “lề trái”, người kia lại gọi điện, vẫn đúng mười một giờ đêm, và anh ta nhắc lại gần toàn bộ những gì đã nói lần trước, nhưng lời lẽ bớt căng thẳng hơn.


Ông vẫn kiên nhẫn lắng nghe, cuối cùng nhắc lại cái câu nói ấy của Phật: “Anh còn muốn nói gì nữa không?”


Ðến lần thứ năm, anh ta chỉ nói: “Dẫu sao tôi nghĩ bác nên thôi đi thì hơn. Ðỡ phiền cho mình, và cho cả người khác.”


Ông hiểu “người khác” là anh ta. Anh ta được giao nhiệm vụ này. Rồi ông nhẹ nhàng nói: “Tôi tôn trọng anh, và đã lắng nghe những gì anh muốn nói. Giờ anh có muốn nghe tôi không?”


“Bác nói đi.”


“Thực ra tôi không nói. Tôi chỉ muốn đọc anh nghe một bài thơ nới về Ðức Phật. Anh có vội không?”


“Không. Bác đọc đi.”


Và ông đọc một truyện thơ ông tìm thấy trên mạng cách đây không lâu:


 


Một ngày nọ, Ðức Phật


Ði qua một ngôi làng


Có một người thô lỗ


Sỉ nhục Ngài sỗ sàng.


 


Anh ta còn trẻ tuổi,


Ăn nói như người điên,


Bảo Ngài cũng ngu dốt


Như người khác, tuy nhiên,


 


Do rất giỏi lừa phỉnh


Nên người ta tin Ngài.


Tóm lại, toàn nhảm nhí,


Không đáng lọt vào tai.


 


Ðức Phật nghe, bình thản


Trước lời nhục mạ này.


Bất chợt, Ngài khẽ hỏi:


“Xin anh nói tôi hay.


 


Nếu anh tặng ai đó,


 


Thí dụ, chiếc áo dài,


Nhưng người ấy không nhận,


Thì nó là của ai?”


 


Anh kia hơi bối rối,


Nhìn Ðức Phật, và rồi


Liền đáp: “Món quà ấy


Tất nhiên là của tôi!”


 


Ðức Phật cười thân mật:


“Anh nói đúng, vậy thì


Những lời anh vừa nói


Là của anh, nhận đi.


 


Anh mắng tôi thậm tệ,


Tôi không nhận, làm thinh,


Nghĩa là anh thực sự


Ðang mắng bản thân mình.


 


Ở đời, anh bạn ạ,


Ðừng gây ra cho người


Những gì mình không muốn.


Ðược thế, sẽ tuyệt vời.


 


Anh thù hận người khác,


Tức là thù hận anh.


Chính anh sẽ đau khổ,


Vì anh làm hại mình.”


 


“Cảm ơn.” Anh kia nghe xong nói, rồi tắt máy.


Ông vẫn tiếp tục viết bài cho các báo mạng “lề trái.” Chỉ nêu vấn đề, phân tích sự kiện với những lập luận xác đáng và không một từ mang tính thóa mạ, theo đúng phong cách xưa nay ông vẫn viết.


Người gọi điện thoại giấu tên không gọi cho ông lần nào nữa. Mãi gần đây ông mới nhận được tin nhắn của anh ta với vẻn vẹn ba chữ: “Xin lỗi bác.”


(Hà Nội, tháng 5, 2012)


(Nguồn: [email protected])

Ðể tỏ lòng tôn kính đến Ðại úy Ngữ

 


* Uwe Siemon-Netto


* Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền dịch


 


“Người Mỹ… không có sự kiên nhẫn cho loại chiến tranh này.”


(Sir Robert .K. Thompson).


 


“Ở đây không ai quan tâm đến số phận của những người dân Miền Nam Việt Nam nào đã tin tưởng vào các cam kết của Hoa Kỳ và đã mắc kẹt khi đứng lên chống Cộng sản.” (Sir Robert G.K. Thompson).


Tôi chỉ gặp được chuyên gia Robert G.K Thompson có một lần ngắn ngủi trong những năm tôi sống ở Việt Nam.










Ðại úy Ngữ và Trung úy Kenneth Crabtree tại Long Khốt. (Hình của Uwe Siemon-Netto)


Chuyện này xảy ra vài tuần lễ trước khi Phái bộ Cố Vấn Anh Quốc do ông cầm đầu hết nhiệm vụ vào năm 1965 và chuyên viên vốn nổi tiếng nhất thế giới về chiến tranh chống du kích này phải rời bỏ Sài Gòn. Một phóng viên người Anh đã giới thiệu tôi với ông. Tôi rất thắc mắc về niềm tin vững chắc của Robert khi ông cho rằng hỏa lực hùng hậu, ưu thế về nhân sự và trang thiết bị tối tân hoàn toàn không hiệu quả bằng lòng quyết tâm đánh bại đối phương bằng chính những điều kiện mà họ đang có sẵn trong tay.


Chiến lược này đã được người Anh áp dụng thành công tại Mã Lai Á nhưng lại không thuyết phục được chính quyền Kennedy cũng như Johnson tại Washington. Theo tờ Times của London, ông Robert nghĩ rằng các cán bộ nằm vùng quan trọng hơn là những du kích quân trong rừng rậm và phải là mục tiêu ưu tiên để tấn công trước. Các lực lượng cảnh sát và tổ chức tình báo hữu hiệu (hoặc yếu kém) là những yếu tố quyết định cho sự thành bại. Các binh sĩ, nhân viên cảnh sát và nhân viên chính phủ phải hoạt động trong phạm vi luật pháp. Ngoài ra, các viện trợ để phát triển chỉ có hiệu quả nếu xây dựng được một nông thôn lớn mạnh với những người có khả năng điều hành giỏi, thay vì bị hoang phí đi trong những công trình màu mè thì chắc chắn sẽ sụp đổ một khi nguồn tài trợ để duy trì chúng từ bên ngoài bị cạn đi.


Khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc vào năm 1975, Robert Thompson tuyên bố: “Người Mỹ không bao giờ có thể nhận thức được Việt Nam trong bối cảnh Mã Lai Á vì họ không có lòng nhẫn nại cho loại chiến tranh như vậy.”


Ðã có quá nhiều người viết về sự khác biệt giữa những đề nghị của Thompson và chiến lược quân sự vội vã của Hoa Kỳ nhằm nhanh chóng đi tìm kết quả rồi. Ðó không phải là mục đích của cuốn sách này cũng như không thuộc thẩm quyền của tôi để cứu xét những vấn đề có tính cách chiến lược như vậy.


Ðây chỉ là câu chuyện của một phóng viên luôn khát khao tìm hiểu và đã có cơ may được giải đáp trí tò mò: Tôi muốn biết chiến lược của Robert Thompson đã thành công như thế nào sau bốn năm liên tiếp làm cố vấn cho chính quyền Sài Gòn.


Do đó, tôi chụp ngay cơ hội này.


Tôi hỏi Robert rằng ông có thể chỉ cho tôi một nơi nào mà khái niệm chiến lược“tát nước bắt cá” của ông đã thành công không? Nói cách khác,một vùng nào đã được ổn định sau các cuộc hành quân,ngăn ngừa kẻ địch không trở lại được, và chính quyền đã giành lại được lòng dân như là một hệ quả tất yếu?


Một thành viên trong đội ngũ nhân sự của ông đã đề nghị tôi hãy ghé thăm địa danh Long Khốt gần biên giới Cambodia. Long Khốt là một làng bụi bậm của chi khu Tuyên Bình thuộc tỉnh Kiến Tường và chỉ huy trưởng là Ðại úy Ngữ. Tôi đã thích ngay người sĩ quan đầy cá tính này, một người từng trải, dũng cảm và dẻo dai nhưng lại có một tính tình khôi hài rất thực tế. Ông ta cũng là một người đầy mưu lược về quân sự và hay thích mang tôi ra làm trò đùa với những con thú kỳ lạ của ông.


Tuy nhiên, đến được chỗ của Ðại úy Ngữ không phải dễ mặc dù Long Khốt chỉ cách Sài Gòn có 150 dặm về hướng Tây. Ðường bộ đến Long Khốt khá nguy hiểm và hàng ngày có quá nhiều những vụ du kích tấn công dọc theo con lộ chạy quanh co đến đó. Với tư cách một biên tập viên chính thức, tôi được phép bay bằng máy bay quân sự tới hầu hết chỗ nào trong miền Nam Việt Nam. Ngoài ra các phóng viên thường được mang cấp bậc quân sự đồng hóa với cấp Thiếu tá hoặc Trung tá nên có khá nhiều ưu tiên. Vả lại một chỗ ngồi trên máy bay dạo đó chưa đến nỗi khó khăn như vài tháng sau này khi chiến sự lan rộng hơn. Vào đầu năm 1965, khi tôi đi thăm Ðại úy Ngữ, mới chỉ có 27 ngàn lính Mỹ đồn trú tại miền Nam Việt Nam và trong số đó gần 4 ngàn là cố vấn, phi công, phi hành đoàn trực thăng và nhân sự tiếp vận. Số còn lại thì sống thoải mái ở Sài Gòn, được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Ðông” hoặc “Ba-Lê của phương Ðông.”


Tương tự, lực lượng báo chí Sài Gòn khi đó cũng còn khá mỏng. Vì vậy, quân đội Mỹ đối xử với chúng tôi rất hào phóng, đưa đón chúng tôi cẩn thận bằng xe cơ quan từ khách sạn đến phi trường Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên đến đó thì diễm phúc thường chấm dứt vì sự rườm rà của thủ tục hành chánh quân sự được tiếp nối theo, đúng như phương châm “Nhanh lên và chờ đó.”


Vào 3 giờ sáng, một chiếc xe hơi 4 cửa có gắn máy lạnh của Không Lực HoaKỳ (USAF) đến đón tôi trước cửa khách sạn Majestic sang trọng, nơi tôi sống trong những tuần lễ đầu tiên tại Việt Nam để đưa tôi đến trạm máy bay quân sự hai mươi phút sau. Tuy nhiên, trong suốt 11 tiếng đồng hồ sau đó, tôi đã phải ngồi chờ dưới sàn để đón chuyến bay 7 giờ rưỡi sáng bị hoãn đi hoãn lại nhiều lần. Nóng quá, tôi đổ tháo mồ hôi và đói vã cả người. Có ai đó đưa cho tôi một khẩu phần chiến đấu, thường được gọi là “C Rations,” và tôi ăn hết một hộp xúc xích nấu đậu, một món chẳng thích hợp chút nào trong vùng nhiệt đới.


Cuối cùng thì chiếc máy bay tôi đi cũng xuất hiện. Bay đến Mỹ Tho trong vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ mất có 20 phút đồng hồ,nhưng cũng đủ để gây trong tôi sự ác cảm với chiếc C-123 vận tải cổ lỗ sĩ đang là phương tiện di chuyển chính của Không Lực Hoa Kỳ trong thời gian đầu của cuộc chiến. Chiếc máy bay này lúc nào cũng run lên bần bật, lạng qua lạng lại và thực sự là một phòng tra tấn trên không đúng nghĩa với hai cái động cơ điếc cả tai. Vì vậy khi đến Mỹ Tho,tôi thật sung sướng được chuyển qua một chiếc Caribou, nhẹ, êm và nhỏ hơn của Quân Ðội Hoa Kỳ do Úc sản xuất với động cơ phản lực cánh quạt. Tuy nhiên nó chỉ đưa tôi đến được Mộc Hóa mà không đi xa hơn nữa. Trời chiều đã đổ xuống. Thật là liều lĩnh nếu phải đón một đoàn xe quân sự nhỏ để bắt đầu một chuyến dài 3 tiếng đồng hồ đến Tuyên Bình bằng đường bộ. Ðại úy Ngữ phải chờ thôi…


Hóa ra lại may mắn cho tôi khi buổi tối bị mắc kẹt tại Mộc Hóa. Tại đây có toán B-41 thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ đang đồn trú. Lực Lượng Ðặc Biệt, hay “Mũ Nồi Xanh” đóng một vai trò rất quan trọng trong nỗ lực chống du kích mà tôi đang nghiên cứu, bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với ông Robert Thompson. Các nhân viên tình báo Pháp cùng với các nhóm tình báo Mỹ, Úc và Việt Nam, thường xuyên gặp gỡ nhau tại “hang động của điệp viên,” nơi mà giới báo chí chúng tôi đặt tên cho cái quán rượu Cheval Blanc trong một con hẻm chật hẹp tại Sài Gòn, đã hết lời ca tụng các chiến sĩ Mũ Nồi Xanh này: “3 Mũ Nồi Xanh còn giá trị hơn cả một đại đội bộ binh,” họ thường nói như vậy.


Những tay tình báo Pháp này so sánh họ giống như lính nhẩy dù trong đoàn quân Lê Dương Pháp qua tính cách chuyên nghiệp, trang thiết bị và thành phần “quốc tế” của họ. Họ cũng đội mũ nồi xanh vậy. Hơn 35 ngàn lính Lê Dương, trong đó có 70 phần trăm là người Ðức đã chiến đấu trong cuộc chiến Ðông Dương vừa qua; đất Việt đã đẫm máu của 10,483 người lính đánh thuê này, trong đó một nửa là người Ðức, thường là cựu chiến binh của quân đội Ðức Wehrmacht trong Thế Chiến thứ 2.


Xét trên nhiều khía cạnh, Lực Lượng Ðặc Biệt tại Mộc Hóa khá giống lực lượng tinh nhuệ Pháp nói trên. Họ cũng là lính nhẩy dù và cũng đại diện cho tầng lớp tinh hoa của lính ngoại quốc phục vụ cho Hoa Kỳ. Ðầu tiên là Ðại úy Sully H. de Fontaine, một người quý tộc gốc Bỉ. Anh ta đã trở thành một trong những sĩ quan chống du kích nổi tiếng nhất của chiến trường này. Sau đó có hai người gốc Ðức là các thượng sĩ Hans Koch và Walter Rubel. Sau này trong cuộc chiến,tôi gặp lại nhiều đồng hương tương tự trong các sắc phục quân đội Hoa Kỳ, Úc và Tân Tây Lan. Một số trong họ là lính bộ binh, hạ sĩ quan, chỉ huy trưởng tiểu đoàn,hoặc là phi công trực thăng và chiến đấu cơ. Khi tôi viết về toán B-41 trên tờ nhật báo Ðức Die Welt, tôi đã so sánh họ như một tổ chức Liên Hiệp Quốc thư nhỏ. Ngoài những người gốc Âu Châu, tôi đã gặp cả người Phi và Mỹ Châu La Tinh, người gốc Cambodia và đặc biệt là người bộ lạc Nùng. Họ là một dân tộc thiểu số thượng du Bắc Việt nhưng có nguồn gốc từ Trung Hoa và nổi tiếng về khả năng truy lùng Việt Cộng một cách hung hãn bất kỳ nơi nào, đặc biệt là trong rừng rậm.


Buổi tối trong trại Lực Lượng Ðặc Biệt đã mang lại cho tôi một nguồn tin tức hết sức phong phú. Sau một vài chầu rượu tôi đã được nghe kể lần đầu tiên các chi tiết về một trong những công tác nguy hiểm và hiệu quả nhất mà sau này biến thành chiến dịch Phụng Hoàng đầy tranh cãi. Ðặc trưng là những kỹ thuật ám sát các cán bộ Cộng sản trong lúc họ đang ngủ trong các ổ trú ẩn ban đêm. Khi nắm được tin tình báo cung cấp bởi người địa phương, một yếu tố quyết định trong nỗ lực chống du kích, từng đơn vị nhỏ LLÐB không quá một chục mạng sẽ lẩn vào trong rừng cả vài tuần lễ mỗi lần. Trang bị với một vũ khí gồm một sợi kẽm gắn vào hai đầu tay cầm bằng gỗ, họ lẻn vào lều của cán bộ Việt cộng chỉ huy, vòng sợi dây kẽm quanh cổ nạn nhân đang ngủ, giựt mạnh và thế là cắt đầu họ.


Khi những hoạt động ám muội này, sau đó được thực hiện bởi nhân viên tình báo CIA, bị lộ ra vào cuối thập niên 1960 thì người Mỹ và phong trào hòa bình thế giới đã phản ứng rất dữ dội. Nhiều buổi điều trần trước Quốc Hội đã được triệu tập và hàng loạt những bài xã luận đã được viết ra để lên án hành động đó. Là một trong những người đã trải qua một số năm thời thơ ấu trong những hầm trú ẩn để tránh bom Anh và Mỹ, tôi cảm thấy sự kích động này không mấy trung thực. Phải chi quân Ðồng Minh đã tìm ra cách thức tương tự để loại trừ cho thế giới những quan to Ðức Quốc Xã,các quan chức độc ác địa phương, mật thám Gestapo và sĩ quan SS,thì có lẽ rất nhiều mạng sống thường dân đã được cứu vớt rồi.


Các ký giả thuộc trường phái cũ được những quân nhân chuyên nghiệp rất tin tưởng vì họ luôn luôn hành động theo một nguyên tắc sắt đá là không bao giờ để lộ nguồn tin tức đã thu thập được. Giữ bí mật là một đức tính của người phóng viên tương tự như khả năng tìm bới tin tức vậy. Ðấy là lý do tôi chưa bao giờ viết về chuyện này mãi cho đến bây giờ, mặc dù tôi đã được nghe rất nhiều chi tiết sốt dẻo đêm hôm đó. Chẳng hạn tôi được kể là nếu muốn đi theo một toán công tác như vậy thì phải được chuẩn bị cho bản thân mình ít nhất là ba tuần trước đó: không hút thuốc lá, không uống sữa, không dùng nước hoa cạo râu hay thuốc khử mùi. Tại sao không được ăn bơ hay uống sữa? Tôi tự hỏi. Những tay Mũ Nồi Xanh giải thích tại vì bọn Việt Cộng rất thính mũi, chúng có thể đánh hơi được mùi khai từ cơ thể tiết ra khi tiêu thụ các thức ăn có sữa. Mùi này có thể tồn tại nhiều ngày trong cái không khí bí đọng của tàng cây bốn tầng trong rừng sau khi một người phương Tây đã nhổ trại vài tiếng đồng hay có khi cả vài ngày trước đó. Ðiều này sẽ tiết lộ sự hiện diện của họ đối với những tay Việt Cộng dày dạn kinh nghiệm và có thể nói trên thực tế là họ có thể “đánh hơi” ra bạn.


Tuy nhiên tôi không phải hy sinh bơ sữa hay bỏ thuốc lá mãi cho đến khoảng một chục năm sau, bởi vì không có gì vô lý hơn trên phương diện nghề nghiệp là phải tháp tùng một chuyến công tác đầy nguy hiểm mà lại không có quyền tường thuật lại.


Sáng sớm hôm sau có một đoàn xe nhỏ rời trại Mộc Hóa để đi Long Khốt. Tôi đi theo xe jeep của Trung úy Kenneth Crabtree thuộc LLÐB. Cabtree khoảng chừng 24 tuổi, người gốc bang Colorado, và tự giới thiệu mình là Cố vấn của Ðại úy Ngữ. Tuy nhiên anh ta nhanh chóng cười vui vẻ thêm vào: “Thật là tức cười. Ðại úy Ngữ gấp đôi tuổi tôi và kinh nghiệm hơn tôi cả trăm lần. Ông ta đã đánh nhau với Việt Minh từ thời là lính chuyên nghiệp trong quân đội Pháp. Trên thực tế ông là thầy tôi và tôi là học trò của ông. Tuy nhiên chúng tôi đã trở thành bạn thân với nhau.”


Crabtree đưa cho tôi một khẩu súng lục Colt 0.45, chỉ cách mở chốt an toàn và nói: “Tôi biết phóng viên không mang vũ khí trong khu vực chiến tranh. Nhưng trong tình huống bị phục kích, anh phải tự bảo vệ lấy thân vì có thể tụi nó đông hơn mình nhiều.”


“Phục kích ở đây? Vùng này phẳng lì như tờ giấy, núp ở đâu được?” Tôi hỏi lại, vừa nhìn quanh quất quang cảnh đầy bụi bậm và khô ráo trong mùa khô.


“Anh sẽ ngạc nhiên đấy,” Crabtree trả lời. “Những người nông dân bên đường, mấy đứa trẻ đang cưỡi trâu kia kìa – Họ đều có thể là Việt Cộng, hay ít nhất là trinh sát của chúng đó. Tôi sẽ không cảm thấy an toàn cho đến khi vào được lãnh thổ của Ðại úy Ngữ. Ông ta nắm vững được tình hình, ở đây thì không chắc ăn chút nào.”


Ðịa hạt của Ðại úy Ngữ vào khoảng 80 ngàn mẫu tức 309 dặm vuông. Bộ chỉ huy và chỗ ở của ông là một căn biệt thự màu trắng xây theo kiểu Tây thực dân chỉ cách biên giới Cambodia độ chừng 500 thước. Lúc chúng tôi đến gần, hàng đoàn người Cambodia đang quẩy gánh mang ra chợ Long Khốt các loại trái cây, rau cỏ, cá, vải vóc, rượu dứa Trung Hoa và thuốc lá Gauloises của Pháp – Nhãn hiệu ưa thích của tôi lúc đó.


“Phần lớn là hàng buôn lậu đấy nhưng chuyện này không lo,” Trung úy Crabtree nói. “Tụi tôi chỉ để ý những tên vượt biên giới vào ban đêm. Chúng mới là kẻ địch – bọn Việt Cộng đấy. Cambodia thực sự là khu ẩn nấp của tụi nó, mặc dù Sihanouk có nói gì đi chăng nữa.”


***


Trở lại năm 1965, mười năm trước khi chế độ diệt chủng Khmer Ðỏ sát hại hai triệu người dân, một phần ba dân số Cambodia, vương quốc này là một chốn thần tiên huyền hoặc. Ðó là phần đất hòa bình cuối cùng của vùng Ðông Dương thuộc Pháp cũ, là một quốc gia trung lập mà người cai trị, Thái tử Norodom Sihanouk đã chứng tỏ được sự sáng suốt của mình trong nhiều lãnh vực: như là một chính khách, một biên đạo múa, một tài tử và đạo diễn điện ảnh, một nhà thơ,nhà phê bình văn học,một đầu bếp,một nhạc sĩ saxo,nhạc sĩ dương cầm,nhạc sĩ phong cầm và nhà soạn nhạc hòa tấu gợi nhớ đến giai điệu lãng mạn của Charlie Chaplin. Nhưng có một điều mà ông ta thiếu sót: Ðó là sức mạnh quân sự. Ðội ngũ 34 ngàn người của ông không kiểm soát nổi khu vực phía Ðông của Cambodia mà Việt Cộng đã sử dụng làm nơi trú ẩn an toàn và cơ sở hậu cần. Ngay từ năm 1965, tôi đã thấy Việt Cộng vượt biên giới qua lại như chỗ không người. Ðể đối phó lại thì Ðại úy Ngữ, một tay chi khu trưởng Việt Nam Cộng Hòa tầm thường, đã cài được người phía bên kia biên giới để mật báo về khi nào bọn Việt Cộng di chuyển và chuyên chở những thứ gì.Ðây là trường hợp xảy ra trong cái ngày mà tôi gặp ông ta.


Lúc tôi và Trung úy Crabtree bước vào văn phòng thì Ðại úy Ngữ còn đang mặc cái quần đùi và áo thun.Ðứng trước một tấm bản đồ lớn, Ngữ nói, vừa hào hứng chỉ vào một điểm bên kia biên giới chỉ cách nhà ông ít hơn một dặm: “Ðây này, chúng ở đây này, Người của tôi đã khám phá ra cả một đại đội Cộng quân với 2 ngàn bao gạo. Ðiều này chứng tỏ chúng đang sửa soạn di hành xa. Ðể mình sẽ chào mừng tụi nó với pháo bông. Tôi đã báo động bên BTT rồi.”


BTT là ký hiệu quân sự của Bình Thành Thôn, một căn cứ gần đó, nơi đồn trú của hai đại đội Việt Nam Cộng Hòa (ARVN) và toán Lực Lượng Ðặc Biệt A-413 khoảng 12 sĩ quan và hạ sĩ quan. Họ có đủ hỏa lực để chận đứng Việt Cộng xâm nhập.


Hầu hết những người đàn ông Việt Nam tôi quen đều nói với một giọng mũi khá cao, nhưng Ngữ thì không như vậy. Ông có một giọng trầm, khàn như Jean Gabin,có lẽ do truyền thống nhiều năm phục vụ trong quân đội Pháp mà đa số là nhiệm vụ chiến đấu.


Ðại úy Ngữ mặc quân phục vào định dắt tôi đi thăm chi khu nhưng trước đó ra hiệu cho tôi ngó kỹ vào tấm bản đồ: ”Chúng tôi có 10,295 cư dân và trong đó 6,834 người sống trong vùng tôi kiểm soát. Phần còn lại sống dưới chế độ Cộng sản. Tuy nhiên nó đã khác rất nhiều so với 5 năm trước khi tôi về đây. Lúc đó bọn Cộng sản nắm hơn hai phần ba dân số trong chi khu này.”


“Cái gì đã làm thay đổi điều đó?” Tôi tò mò muốn biết.


Ðại úy Ngữ chỉ vào 13 khu định cư. “Lấy mấy cái ấp chiến lược này làm thí dụ nhé. Ðây là những chỗ chúng tôi đưa dân về theo kiểu người Anh đã làm tại Mã Lai Á khi ông Robert Thompson còn ở đó.”


Trước khi dẫn tôi đi chung quanh bằng chiếc tàu đổ bộ của quân đội Hoa Kỳ đang đậu neo ngay sát căn nhà ông bên một nhánh của dòng sông Cửu Long, Ðại úy Ngữ bắt đầu giở một trong những trò đùa thực tế của ông,có lẽ để thử sức tôi. Ông đưa tôi ghé vào một tiệm tạp hóa, giả tảng là để mua một ít vật dụng. Vừa vào tới cửa thì một con trăn to từ đàng sau cái quầy bò ra quấn vào người tôi và đặt cái đầu của nó trên vai phải tôi. Mọi người phá ra cười, Ngữ, Cabtree, chủ quán, cả nhà và khách chung quanh nữa.


Tôi liếc vào khẩu Colt 0.45 trong bao của Trung úy Cabtree, tự nhủ có thể nào chụp lấy bằng tay trái và nổ vào đầu con trăn nếu nó định quấn chặt tôi thêm hay không. Nhưng tôi nhấc không nổi cánh tay vì con trăn trói chặt quá. Con vật to lớn này may quá thôi không siết tôi nữa mà bò về chỗ cũ đàng sau cái quầy sau khi thấy chủ nhân ra hiệu.


“Thế đó, điều này chứng tỏ chúng tôi biết làm thế nào để duy trì an ninh tại đây.” Ngữ cười lớn. “Ðố thằng trộm nào lẻn được vào đây ban đêm. Nếu dám làm như vậy, con trăn này sẽ bóp cổ và nuốt sống nó. Nhìn đây nè, còn một con nữa sau quầy nè. Con này nhỏ hơn nhưng chẳng mấy chốc sẽ sẵn sàng để hành động.”


Sau vụ đó thì chúng tôi lên đường đi thăm một vài cái ấp chiến lược của Ðại úy Ngữ bằng tàu thủy.


“Tại sao anh không mang súng theo?” Tôi hỏi ông ta.


“Người Pháp đã dạy tôi là một người lịch sự phải bỏ súng ra khi vào nhà riêng của một người khác.”


“Nhưng…?”


“Không có nhưng gì hết. Những ngôi làng này là nhà riêng của dân. Do đó tôi không được phép mang vũ khí vào nhà họ. Mọi người rất trân trọng điều này.”


Lẫn trong tiếng động cơ nổ giòn của chiếc tàu , Ðại úy Ngữ chỉ cho tôi ba ngôi làng trên tấm bản đồ: “Trong ngôi làng này, một phần ba dân là thân cộng. Cái này thì chỉ có ba tên,còn cái làng kia gần đó thì chỉ còn có hai tên theo Việt Cộng thôi.”


“Sir Robert Thompson cho là cán bộ nằm vùng trong làng còn quan trọng hơn là du kích quân Việt Cộng trong rừng,” tôi nói.


“Ông Thompson nói trúng phóc. Nhưng tôi biết hết bọn cán bộ nằm vùng ở đây. Tôi biết từng tên một làm chúng không làm ăn gì được. Dĩ nhiên tôi có thể tóm cổ chúng bất cứ lúc nào,” Ngữ nói. “Nhưng để làm gì? Cứ mặc kệ bọn nó lại còn theo dõi được hoạt động của kẻ địch, ai là liên lạc viên và chúng định giở trò gì. Tôi còn biết cả tên của hai tên Việt Cộng đang nằm vùng trong một đại đội VNCH ở BTT. Nhưng chúng tôi để yên tụi nó. Thực tế bọn nó đang giúp chúng tôi mà không biết. Một mạng lưới chỉ điểm chặt chẽ là một trong những yếu tố quan trọng nhất để thắng chiến tranh du kích và tôi đang có một mạng lưới hiệu quả như vậy.”


Chúng tôi vào một trong những ấp chiến lược và đến thẳng trạm y tế mới toanh trong một chòi đất. Thượng sĩ William Nichols, tay y tá thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt đi chung với chúng tôi lập tức bắt tay vào việc cùng với một y tá quân đội Việt Nam. Họ phát thuốc, chích thuốc, săn sóc phụ nữ mang thai, băng bó vết thương, khám phổi với ống nghe, và cố gắng an ủi một ông lão bị lao phổi nặng.


“Nichols này giỏi lắm,” Trung úy Crabtree nhận xét. “Tôi đã từng thấy hắn mổ cả những trường hợp khó khăn nữa.”


Chúng tôi ra ngoài và tôi sửng sốt thấy nhiều người đàn ông mặc đồ đen mang súng trường M-1 đứng đầy trong làng.”Trời đất ơi, Ðại úy,” tôi thốt lên. “Việt Cộng không hà!”


“Bình tĩnh lại,” Ngữ thản nhiên trả lời, “Không sao đâu, đây là người của tôi. Họ trông giống Việt Cộng đấy nhưng là lực lượng nhân dân tự vệ. Họ sống chung với gia đình ở đây. Nhiệm vụ họ là bảo vệ xóm làng, nhất là ban đêm để đừng bị rơi vào tay Việt Cộng lúc trời tối. Khi cần thiết, họ sẽ được tăng cường yểm trợ nhanh chóng từ những đơn vị đang đóng ở BTT.”


“Như vậy họ là một thành phần quan trọng cho chương trình chống nổi dậy à?”


“Ðúng vậy. Nhìn bề ngoài tưởng không quan trọng nhưng trên thực tế họ rất hiệu quả. Chúng ta phải đánh cuộc chiến này theo lối của Việt Cộng. Thật là ngu nếu phải đánh nhau với những phương cách qui ước, và càng ngày càng có nhiều người cứ muốn làm như vậy. Chiến tranh qui ước không mang lại cảm giác an toàn cần thiết cho người dân. Cách của chúng tôi tốt hơn, ông thấy đấy.”


Trên đường trở về Long Khốt, Ngữ nói với tôi với vẻ mặt bí ẩn: “Anh là người Ðức, anh thích ăn thịt ngỗng, đúng không? Tôi từng có nhiều bạn bè người Ðức trong đội lính Lê Dương, thằng nào cũng thích thịt ngỗng cả.” “Vâng, chúng tôi ai cũng thích hết, nhất là vào dịp Giáng Sinh: ngỗng quay với cải đỏ và bánh khoai tây. Một món ăn khoái khẩu mùa đông nhưng tôi nghĩ sẽ không thích hợp cho khí hậu nhiệt đới ở đây.”


“Tối nay sẽ có món thịt ngỗng lạnh trộn xà lách,” Ngữ tuyên bố với vẻ mặt tinh quái.


Tôi lại phải sửa soạn cho một trò đùa thực tế nữa rồi. Khi chiều xuống, chúng tôi ngồi trước một bàn ăn phủ một tấm vải trắng bên cạnh các cánh cửa kiểu Pháp dẫn ra khu vườn của nhà Ðại úy Ngữ. Có một con khỉ bị xích lại cứ nhảy tưng tưng từ trong nhà ra cái cây ngoài vườn. Bà vợ Ðại úy Ngữ tiếp cho chúng tôi rượu Beaujolais trong những hộp thiếc, có lẽ mua từ những tay buôn lậu Cambodia.


Một người làm dọn lên một tô thủy tinh chứa đầy một chất lỏng màu đỏ trong đó có lẫn những miếng thịt bầy nhầy. “Thịt ngỗng nè,” Ngữ cười vang lên. “Gỏi ngỗng tươi. Ngon lắm.”


Tôi thật tình không biết có phải là thịt ngỗng hay không. Tuy nhiên cũng múc một ít vào đĩa và độn vào một đống cơm với ý định chỉ ăn một chút phần trên thôi. Nhưng cái chất lỏng màu đỏ từ thấm ra khỏi đống cơm và đúng lúc đó con khỉ đu vào trong phòng ăn và “hạ cánh” chễm chệ trên đầu tôi.


Tôi nhìn vào đĩa cơm đẫm màu máu trong khi con khỉ nắm tóc tôi. Mọi người cười vật vã ra và đột nhiên tôi thấy muốn bịnh. Ngữ chỉ cho tôi đến phòng vệ sinh. Tôi tìm không ra công tắc bật đèn nhưng đoán đây chắc là loại nhà vệ sinh ngồi xổm kiểu Pháp mà tôi biết. Tôi bước lên hai cái bệ mà tôi cho là bệ nhà cầu và đi tiểu, cũng như nôn tháo về cái hướng mà tôi đoán là cái lỗ cầu tiêu.


Bỗng nhiên mặt đất dưới chân tôi bắt đầu di chuyển, đưa hai bàn chân tôi dạng ra lúc càng xa hơn. Tôi tìm ra cái bật lửa Zippo và nhận thấy ra là tôi đang đứng trên hai con rùa khổng lồ đang cố bò thật nhanh đến hai con khác. Ðã đến lúc phải về thôi. Nói cho cùng, tối hôm đó tôi đã có dự tính tháp tùng Trung úy Crabtree và toán hỗn hợp quân lính Việt và Mỹ trong một cuộc hành quân ngăn chận Việt Cộng xâm nhập. Do đó tôi từ giã Ðại úy Ngữ và bà vợ anh ta.


“Hẹn gặp ngày mai để anh nhẩy dù nhé.” Tôi, nhảy dù? Lại giỡn chơi nữa hay sao?


Ðêm hôm đó, Trung úy Crabtree và tôi nằm sấp trong một cái mùng cách biên giới hai trăm thước, mắt chăm chăm vào bóng đêm. Chẳng thấy ai tới cả. Tuy nhiên một chốc sau, có lẽ khoảng nửa dặm về phía tay mặt của chúng tôi, trời đất bỗng nổi cơn thịnh nộ. Tiếng súng nhỏ, súng liên thanh, tiếng bích kích pháo nổ rền trời. Tôi thấy trời đêm rực sáng lên.


“Phe ta chắc đang đột kích tụi đại đội Việt Cộng với 2 ngàn bao gạo mà Ðại úy Ngữ đã nói tới,” Crabtree nói.


Sáng hôm sau chúng tôi lái xe đến Bình Thành Thôn. Một chiếc Caribou của Quân đội Hoa Kỳ vừa đáp xuống cái phi đạo đất để cho các sĩ quan và binh lính Lực Lượng Ðặc Biệt nhẩy dù bồi dưỡng để tiếp tục được đeo huy hiệu bằng Dù. Ðại úy Ngữ đã có mặt sẵn tại đó,miệng cười toe. Phi hành đoàn lập tức đeo một cái túi dù trên lưng tôi. Tôi không phản đối. Tôi chưa bao giờ nhẩy dù trong đời cả nhưng không muốn bị mất mặt với Ðại úy Ngữ. Vả lại theo như lời Crabtree kể, anh ta là một người hùng mà. Trong thời gian đó, tôi hết sức ngông cuồng, tuổi thì trẻ và rất dẻo dai, chỉ cân nặng có 140 pounds, lại không có gió mạnh nữa. Tôi tự nhủ chẳng có gì mà lo lắng cả.


Ðiều tiếp theo tôi biết là chúng tôi đã bay lên trời rồi. Tôi đứng dậy theo mọi người và làm theo họ móc dù vào sợi dây cáp phía trên. Tôi nghe người phụ trách nhẩy dù hô toáng lên. Mọi người nhanh chóng nhẩy ra theo từng đợt từ phía sau chiếc Caribou. Tôi chưa kịp suy nghĩ bao giờ đến phiên mình thì đã bay ra ngoài chiếc máy bay và rơi xuống rồi. Chiếc dù mở ra như dự tính. Có ai đó đã từng mách với tôi là khi nhẩy dù chạm mặt đất thì phải lăn mình ra phía trước. Tôi làm y như vậy. Thế là xong. Tôi còn sống sót và toàn mạng. Chúng tôi rơi xuống một cánh đồng khô ráo. Tôi cuốn dù lại với sự giúp đỡ của một anh lính và đi theo những người khác. Chúng tôi đến một trạm nghỉ chân.


Bỗng nhiên mặt đất dưới chân tôi sụp xuống. Tôi vội vàng nhẩy qua một bên. Chỗ tôi vừa đứng lại trồi lên lại. Tôi dùng hết sức mình nhẩy mạnh lên chỗ đó và nghe thấy một tiếng rên. Tôi lại bước qua một bên, hiểu ra là có ai đó đang núp bên dưới. Tôi cẩn thận moi đất chung quanh để lộ ra một cái nón cối ngụy trang, cái kiểu mà lính Việt Cộng hay đội vậy. Tiếp theo là tôi thấy một mũi súng thò ra. Tôi cẩn thận nắm lấy ngay và kéo nó ra khỏi mặt đất. Tôi đã có trong tay một khẩu súng M-1 cổ lỗ sĩ từ thời Ðệ Nhị Thế Chiến. Tôi gọi một anh Lực Lượng Ðặc Biệt lại và hè nhau lôi ra một gã ốm yếu, trạc tuổi trung niên và ăn mặc toàn đồ đen. Hắn đứng run lẩy bẩy.


“Can đảm lên anh bạn. Ðối với anh, cuộc chiến đã chấm dứt rồi,” Tôi nói với hắn bằng tiếng Pháp. Anh ta nhìn tôi nhăn nhó.


Những người Mỹ giữ khẩu súng và trao tù binh cho các sĩ quan VNCH. Tôi giữ lại cái nón cối làm kỷ niệm. Nó nằm hàng chục năm trên một cái kệ đàng sau bàn giấy trong thư viện ngôi nhà của tôi tại Pháp.


***


Tôi thường ngắm cái vật đó và tư lự: Ðại úy Ngữ, bây giờ anh đang ở đâu? Anh quả là một người hùng, một người cương trực với tính khôi hài một cách dữ dằn. Ðâu rồi những con trăn, con khỉ, đĩa xà lách ngỗng tươi và những con rùa khổng lồ của anh? Anh có sống sót nổi qua những trận đánh mãnh liệt những năm sau đó đã tràn ngập vào Long Khốt và chi khu của anh? Anh còn sống nổi sau chiến thắng của Cộng quân năm 1975 không? Liệu bọn Cộng sản có thắng nổi nếu lý thuyết của Sir Robert Thompson và của anh đã được áp dụng?


Vâng, anh là một người tốt. Một người giỏi nhất. Chương này đã được viết ra để vinh danh anh, Ðại úy Ngữ, và những ai muốn tỏ lòng tôn kính anh có thể đến Viện Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam tại Garden Grove, California. Ðó là nơi mà chiến tích của tôi, cái nón cối của gã Việt Cộng tôi đã bắt được sau chuyến viếng thăm anh; chiến tích này đã tìm được chốn dung thân cuối cùng.


(Trích: Chương 3 “Tình Yêu Của Một Phóng Viên Ðối Với Một Dân Tộc Nhiều Ðau Thương” sẽ xuất bản.)


(Nguồn: [email protected])

Alexis Zorba (Kỳ 5)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 5


 


Tôi chăm chú nhìn hắn. Hai má hóp, quai hàm bạnh, lưỡng quyền cao, tóc xám và quăn, cặp mắt sáng như sao.


– Tại sao? Bác muốn gì?


Hắn nhún vai.


– Tại sao với chẳng tại sao! Hắn nói một cách khinh bỉ. Người ta không thể làm điều gì mà không cần biết tại sao à? Tại vậy đó, để chơi? Thôi được, cho tôi theo, làm đầu bếp chẳng hạn. Tôi biết nấu súp.


Tôi bật cười. Tôi thích cử chỉ và lời nói quả quyết sắc bén của hắn. Cả cái món súp của hắn cũng vậy. Mang cái gã ngúng nguẩy này với mình tới cái bờ biển xa xôi và hiu quạnh đó không phải là điều không hay, tôi nghĩ thầm. Những đĩa súp, những câu chuyện… Hắn có vẻ phiêu bạt giang hồ lắm, một thứ Sinh Bá* nhà hàng hải đây… Tôi thích hắn.


– Ông đang nghĩ gì đó? hắn thân mật hỏi vừa lúc lắc cái đầu to lớn. Ông cũng cân nhắc nữa, phải không? Cân nhắc từng chút một, đúng không? Thôi, quyết định đi nào, can đảm lên!


Gã cao lớn thô kệch đó đứng sừng sững trước mặt tôi, và ngẩng lên nói với hắn khiến tôi phát mệt. Tôi gập Dante lại.


– Ngồi xuống đây, tôi bảo hắn. Làm một ly rượu đan sâm nhé?


Hắn ngồi xuống, cẩn thận đặt gói quần áo của hắn lên cái ghế bên cạnh.


– Một ly rượu đan sâm? Hắn khinh bỉ hỏi. Chủ quán, một rhum!


Hắn nhấm nháp ly rhum của hắn từng ngụm nhỏ, chậm lâu trong miệng để thưởng thức, đoạn chậm rãi cho trôi xuống và sưởi ấm lòng. “Hiếu cảm, tay chơi sành sỏi, lọc lõi…” tôi nghĩ bụng.


– Bác làm nghề gì?


– Ðủ nghề, tay chân, đầu óc, làm tuốt. Chúng ta bị giới hạn nếu chúng ta lựa chọn.


– Hồi gần đây, bác làm ở đâu?


– Trong hầm mỏ. Tôi làm phu mỏ giỏi. Tôi biết đôi chút về kim loại. Tôi biết tìm mạch mỏ, khai đường hầm, xuống giếng; tôi không biết sợ. Tôi làm việc khá, tôi từng là đốc công, không có gì phải phàn nàn cả. Nhưng rồi ma quỉ xen vào công việc. Tối thứ bẩy rồi, tôi ngà ngà say, chẳng nói chẳng rằng tôi tới kiếm lão chủ mới đến hôm đó để kiểm soát và cho ngay lão một trận…


– Một trận? Sao vậy? Hắn làm gì bác?


– Làm gì tôi? không! Không làm gì hết, thực đấy! đó là lần đầu tiên tôi thấy lão. Lão quỉ đáng thương đó còn phân phát thuốc lá cho chúng tôi nữa chứ.


– Sao nữa?


– Ở Crete đã xẩy ra chuyện gì, Zorba? Kể đi!


– Chúng ta có cần phải khua chiêng gõ mõ không? Zorba bực tức nói. Khổ quá, ông ơi! Tôi đã nói rằng thế giới này là một điều bí ẩn và con người chỉ là một con mãnh thú lớn.


“Một con mãnh thú lớn và một ông trời con. Một tên phiến loạn đê tiện từ Macedonia đến cùng với tôi – người ta gọi hắn là Yorga, quân du thủ du thực, một con heo dơ dáy, sao cũng được – Hắn khóc lóc. “Sao mi khóc, tên trời đánh Yorga kia?” Tôi hỏi và tôi cũng khóc như mưa. “Sao mi khóc, đồ con heo?” Nhưng hắn không nói, ôm choàng lấy tôi và khóc sướt mướt như một đứa con nít. Thế rồi tên bủn xỉn thượng hạng ấy móc túi, lấy ra những đồng vàng thổ phỉ của dân Thổ, tung lên trời từng nắm đầy. Ông hiểu chưa, ông chủ, đó là tự do!”


Tôi đứng dậy và lên boong để hứng cơn gió phũ phàng của biển.


“Ðó là tự do, tôi nghĩ. Có một đam mê, chất hàng đống vàng và đột nhiên, chiến thắng nỗi đam mê của mình và tung hê kho hàng của mình cho gió bốn phương. Giải thoát khỏi một đam mê để tuân theo một đam mê khác, cao cả hơn. Nhưng việc đó, phải chăng cũng là hình thức của nô lệ? Hy sinh cho một ý tưởng, cho một giống nòi, cho Thượng Ðế? Hay điều đó có nghĩa là kiểu mẫu đặt càng cao, sợi dây nô lệ càng dài? Rồi lúc đó chúng ta có thể nô giỡn và đú đởn trong một đấu trường rộng lớn hơn và chết đi không gặp sợi dây. Vậy có phải cái đó người ta gọi là tự do không?”


Xế chiều chúng tôi ghé vào bờ biển cát và thấy cát trắng mịn, những cây trúc đào còn hoa, cây minh quyết và xa hơn nữa, về bên tay phải, một ngọn đồi thấp và xám, không cây, tựa khuôn mặt một người đàn bà lộn ngược. Và dưới cằm nàng, trên cổ, có những mạch nâu sẫm của mỏ than bùn chạy qua.


Một trận gió thu thổi nhẹ, những đám mây tua từ từ và dịu dàng đi qua trái đất và phủ bóng rợp lên mặt địa cầu. Những đám mây khác đang xây thành trên trời, đầy vẻ đe dọa. Mặt trời ló ra và ẩn đi, mặt đất sáng và tối lại như một khuôn mặt sống động và băn khoăn.


*Sindbad – N.H.H

Tin Luot



Việt Nam



Một chiếc xe chở 45 hành khách trên quốc lộ 1A lao xuống cầu ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Ðịnh, làm hai người chết và 15 người bị thương.


 


Bác sĩ bệnh viện Bệnh Nhiệt Ðới Sài Gòn nói rằng, trung bình mỗi tuần ông gặp ít nhất từ 5 đến 6 bệnh nhân nhiễm sán dải bò vì những người này thích ăn thịt bò tái.


 


Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, dùng súng AK tự sát vì phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư.


 


 


Cộng đồng/Ðịa phương


Một phụ nữ bị bắt sau khi tìm cách đánh cắp một hài nhi từ Garden Grove Medical Center.


 


Một người đàn ông bước vào phía trước của xe lửa Metrolink ở gần trạm quận Cam bị đụng chết ngay tại chỗ.


 


Một thư viện trẻ em trong khu lợi tức thấp tại thành phố Santa Ana được người thiện nguyện tặng 3,500 cuốn sách.


 


Một người đàn ông Anaheim bị kết án 30 năm tù giam vì cưỡng hiếp một phụ nữ khuyết tật cả về thể chất lẫn tinh thần trong một phòng tắm ở đại học.


 


 


Hoa Kỳ


Ba thượng nghị sĩ cảnh cáo, quyền lợi của Mỹ sẽ có hại nếu cứ tiếp tục miễn cưỡng không giúp hết mình cho quân nổi dậy ở Syria.


 


Binh Nhất TQLC Richard W Rivenburgh, mất tích trong chiến tranh Việt Nam vào năm 75, chính thức được chôn tại Nghĩa Trang Quốc Gia Rosecrans ở San Diego.


 


Một đền Hồi Giáo thứ hai trong một tháng bị đốt cháy rụi ở Missouri.


 


Một người đàn ông Ohio bị cáo buộc là giết vợ khi bà đang nằm mê man ở phòng cấp cứu sẽ phải ra tòa lần đầu trong tuần này.


 


Công ty Amazon.com trình làng “Amazon Game Studios”, sản phẩm video game đầu tiên của công ty, cùng lúc với một trò chơi trên Facebook có tên “Living Classics”.


 


 


Thế giới


Núi lửa Tongariro ở New Zealand phun lần đầu tiên sau gần một thế kỷ. Hầu hết chuyến bay bị hủy bỏ.


 


Hai người Việt Nam, một người đàn ông bị chém chết và một phụ nữ bị thương trầm trọng, trong một căn hộ ở Kajang, Malaysia. Sứ quán Việt Nam chưa có tin chính thức, cảnh sát đang điều tra.


 


Một vùng áp thấp hình thành trên biển Ðông hôm 6 tháng 8 tạo gió mạnh trong khu vực vịnh Bắc bộ, trong khi ảnh hưởng gió mùa Tây Nam, vùng biển Trường Sa có gió trên cấp 6 (50km/giờ).


 


Thành phố Hiroshima hôm 6 tháng 8 kỷ niệm 67 năm ngày bị ném trái bom nguyên tử đầu tiên trong hai trái đã thả xuống Nhật Bản hồi cuối Thế Chiến II.


 


Những trận lũ lụt nặng nề tại Bắc Hàn từ cuối tháng 6 đến nay đã làm ít nhất 170 người chết, 400 người mất tích, và 2/3 dân chúng lâm vào tình trạng thiếu lương thực triền miên.


 


Thợ mỏ than ở Zambia, Phi Châu, biểu tình phản đối tình trạng lương thấp đã giết chết một viên quản lý Trung Quốc và làm hai người khác bị thương phải đưa bằng trực thăng đến bệnh viện cấp cứu.


 


Nhiều nghiên cứu cho thấy trái đất ngày càng nóng lên và hiện tượng hâm nóng toàn cầu đang xảy ra.



 

Thêm chi tiết về hai du khách Mỹ và Canada chết bí ẩn tại Nha Trang

NHA TRANG (NV) Vụ hai nữ du khách một quốc tịch Mỹ và một quốc tịch Canada chết bí ẩn tại thành phố Nha Trang hôm 30 tháng 7 và 2 tháng 8, tiếp tục được báo Tuổi Trẻ Sài Gòn tìm hiểu nguyên nhân.







Hình ảnh Cathy Huỳnh do gia đình cung cấp cho báo chí Canada. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Trước đó, báo Tuổi Trẻ cho biết, đại diện gia đình của nữ du khách Mỹ Karin Joy Bowerman, 27 tuổi, đã bay từ tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ, đến Nha Trang để nhận xác của cô. Thi thể của Karin Joy Bowerman được đưa vào Sài Gòn hỏa thiêu. Từ đây, tro cốt của Karin Joy Bowerman được đưa thẳng về Mỹ.


Cũng trong ngày 4 tháng 8, đại diện gia đình của nữ du khách quốc tịch Canada chết bí ẩn hai ngày trước cũng đã có mặt tại thành phố Nha Trang. Ðây là một người Canada gốc Việt, tên Cathy Huỳnh, 26 tuổi.


Tìm hiểu về nguyên nhân hai cái chết này, báo Tuổi Trẻ hôm 6 tháng 8 dẫn lời Bác Sĩ Phạm Xuân Thông – giám đốc Trung Tâm Giám Ðịnh Pháp Y tỉnh Khánh Hòa – cho biết: “Theo trưng cầu của cơ quan điều tra công an tỉnh, trung tâm đã mổ tử thi lấy mẫu bệnh phẩm (máu, phủ tạng…) của nạn nhân Karin Joy Bowerman (27 tuổi, quốc tịch Mỹ, tử vong đêm 30 tháng 7 tại bệnh viện đa khoa Khánh Hòa).”


Theo báo Tuổi Trẻ, “Hiện trung tâm vẫn đang bảo quản mẫu bệnh phẩm của cô Karin và chuẩn bị gửi đi Hà Nội phân tích. Riêng trường hợp nạn nhân thứ hai là cô Cathy Huỳnh (26 tuổi, Việt kiều Canada, bạn của cô Karin, tử vong lúc rạng sáng 2 tháng 8 cũng tại bệnh viện đa khoa Khánh Hòa) công an chưa trưng cầu giám định. Theo Bác Sĩ Thông, thông thường sau khi gửi mẫu bệnh phẩm, phải mất hai tuần mới có kết quả phân tích.”


Trong khi đó, Bác Sĩ Ngô Thị Thanh Tâm – phó khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện Quân dân y Khánh Hòa (nơi điều trị đầu tiên của Karin và Cathy) cho báo Tuổi Trẻ biết là “hai cô nhập viện khoảng 19 giờ ngày 30 tháng 7. Khi nhập viện, Karin còn tỉnh táo nhưng liên tục vật vã”.







Mẹ và anh trai của Cathy Huỳnh đến Sài Gòn để đi Nha Trang nhận thi thể của nữ nạn nhân này. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Báo Tuổi Trẻ thuật lại: “Cô Cathy Huỳnh nói được tiếng Việt, cho biết hai cô bị nôn ói liên tục từ trưa 30 tháng 7, Karin bị nặng hơn và ói đến khoảng 15 lần. Theo Bác Sĩ Thanh Tâm, khi vào viện Karin có nhịp tim 164 lần/phút, trong khi người bình thường chỉ 60-80 lần/phút. Vào viện được khoảng 10 phút thì phải chuyển Karin đến bệnh viện đa khoa Khánh Hòa. Bác Sĩ Nguyễn Thị Ánh Phương – phó khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện đa khoa Khánh Hòa – cho biết bệnh nhân Karin nhập viện trong tình trạng thiếu oxy trầm trọng, mạch và huyết áp bằng không, nhịp tim đập rất nhanh. Bệnh viện đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng bệnh nhân yếu nhanh và đến 22 giờ 40 cùng ngày thì tử vong.”


“Riêng trường hợp cô Cathy, Bác Sĩ Thanh Tâm cho biết khi vào bệnh viện Quân dân y Khánh Hòa cô có bị nôn ói, mọi biểu hiện khác vẫn bình thường nên được xuất viện lúc 21 giờ 30 ngày 30 tháng 7. Bác Sĩ Phạm Ðình Chi – phó khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện đa khoa Khánh Hòa – cho hay Cathy Huỳnh nhập viện này ngày 1 tháng 8 trong tình trạng tỉnh, không có dấu hiệu bị thương và có vẻ bị choáng. Bệnh nhân được hồi sức tích cực chống choáng, nhưng có diễn biến ngày càng trầm trọng, tử vong rạng sáng 2 tháng 8.”


Báo Tuổi Trẻ dẫn lời kể của chủ khách sạn mà hai cô Karin và Cathy Huỳnh thuê ở, thì “Chiều 30 tháng 7 cả hai cô kêu mệt, nhờ lễ tân gọi taxi đưa đi bệnh viện. ‘Tôi thấy họ mệt mỏi nhưng còn đi đứng được. Ðến gần nửa đêm thì có thông tin Karin chết ở bệnh viện. Một lúc sau thì Cathy về khách sạn, nói là cô ấy không việc gì’”.


“Theo lời kể của ông này, một ngày sau khi Karin mất, Cathy Huỳnh vẫn ra vào khách sạn bình thường, đến trưa 1 tháng 8 lại thấy cô kêu mệt, khách sạn mời ăn cháo nhưng không chịu ăn, tới trưa cô Cathy kêu taxi tự đi đến bệnh viện đa khoa Khánh Hòa.”


Tin mới nhất được báo Tuổi Trẻ nói rằng, “Bà Huỳnh Thị Hường (57 tuổi, mẹ của nạn nhân Cathy Huỳnh) cho biết bà mới từ Canada qua và đã được phép mang thi hài Cathy Huynh về Canada an táng. Theo bà Hường, Cathy Huỳnh đã tốt nghiệp đại học, nộp đơn xin việc trên các website dạy tiếng Anh quốc tế với ước mơ trở thành cô giáo.”


“Bà Hường nói Cathy Huỳnh và Karin cùng dạy tiếng Anh tại trường tiểu học Seogeong-ri (Hàn Quốc)”. Theo bà, Cathy Huỳnh trước đây có đến Nha Trang một lần. “Con gái tôi khoe với Karin là Nha Trang rất đẹp, nên Karin rủ con gái tôi nghỉ phép một tuần và đi Nha Trang” – bà Hường kể với báo Tuổi Trẻ.

Thành công lớn nhất của loài người trên Hỏa Tinh

 


Hà Tường Cát/Người Việt


 


10:32 giờ tối Chủ Nhật 5 tháng 8, 2012, người ta chờ đợi tiếng nói ngắn gọn của kỹ sư Al Chen tại trung tâm JPL của NASA ở Pasadena, California: “Ðã đáp xuống” (Touchdown confirmed).









Lược đồ đáp xuống Hỏa Tinh của Curiosity. (Hình: Biểu đồ vẽ lại từ hình của NASA)


Tương tự như sự chờ đợi của cả thế giới 43 năm trước, ngày 21 tháng 7 năm 1969, khi phi hành gia Neil Armstrong từ Mặt Trăng báo tin về: “Ðại bàng đã đáp xuống” (The Eagle has landed), sự kiện xe lăn Curiosity vừa hạ xuống Hỏa Tinh cũng đầy tính cách hồi hộp dù rằng đây chỉ là một “robot” hoạt động bằng sự điều khiển từ xa hàng trăm triệu dặm.


Kỹ sư Al Chen không lên Hỏa Tinh với Curiosity mà chỉ ngồi theo dõi trong đài điều khiển tại JPL. Hơn nữa tới những phút cuối cùng trong giai đoạn Curiosity đáp xuống, người ta cũng không thể điều khiển trực tiếp vì liên lạc vô tuyến phải mất khoảng 14 phút mới đến và do đó phi thuyền hoàn toàn tự hoạt động theo từng chi tiết đã được định sẵn trong chương trình.


Curiosity là một phòng thí nghiệm lớn nhất, nặng nhất và tân tiến nhất mà loại người chưa từng bao giờ đưa tới một hành tinh. Chiếc xe 6 bánh nặng 1 tấn này theo kế hoạch sẽ hoạt động trong hai năm trên mặt Hỏa Tinh với sứ mạng tìm ra nước hay những dấu vết có nước trong quá khứ nghĩa là biểu hiện sự sống đã từng có trên hành tinh mà đêm đêm chúng ta có thể dễ dàng phân biệt với các thiên thể khác nhờ ánh sáng màu đỏ đặc biệt.


Hơn 5,000 người ở 37 tiểu bang Hoa Kỳ đã làm việc cho dự án tốn kém $2.5 tỷ của NASA gần 10 năm và nếu cuối cùng bất cứ một phần bộ nào trong kế hoạch này gặp trục trặc thì toàn thể công của sẽ thành nước lã đổ ra sông. Thực tế đáng lo ngại hơn nữa là nếu kế hoạch thất bại thì với điều kiện ngân sách khó khăn hiện nay, chưa biết đến bao giờ NASA mới có thể làm lại và giấc mộng thám hiểm vũ trụ chắc chắn sẽ chậm lại rất nhiều năm.


 



Video Clip


Thám sát Hỏa Tinh là một việc rất nhiều rủi ro, từ thập niên 1960 đến nay trong số hơn 30 phi thuyền, của Liên Xô, Hoa Kỳ, Âu Châu, Nhật Bản đưa tới đây, hơn phân nửa kết thúc bằng thất bại hoàn toàn. Thành công quan trọng duy nhất trước đây của NASA là hai phi vụ năm 2004 cho hạ xuống Hỏa Tinh hai xe thám hiểm (MER = Mars Exploration Rover) mỗi chiếc nặng gần 200 kg: Opportunity (MER-B) và Spirit (MER-A). Hai xe này sau đó mắc kẹt trong cát không di chuyển được nữa và MER-A mất liên lạc từ 2009 nhưng MER-B đến nay vẫn còn chuyển được tín hiệu về.


Nhưng MERs tương đối nhỏ và nhẹ, đã hạ êm ái xuống Hỏa Tinh nhờ những đệm hơi. Còn Curiosity nặng hơn gấp 5 lần (900 kg) và lớn bằng một chiếc xe du lịch nhỏ (kích thước 2.9 x 2.7 x 2.2 mét), không thể theo cách ấy, cho nên lần đầu tiên NASA phải dùng một phương pháp hoàn toàn sáng tạo chưa bao giờ có kinh nghiệm để ước lượng khả năng thành công.


Một cách tổng quát, phi thuyền MSL (Mars Science Laboratory) phóng đi từ mũi Canaveral, Florida, ngày 26 tháng 1 năm ngoái. Sau 8 tháng, phi thuyền đã bay qua 350 triệu dặm để đến Hỏa Tinh và đi vào bầu khí quyển với vận tốc 12,000 dặm/giờ. Ở vận tốc này, sự ma sát với khí quyển làm nhiệt độ lên rất cao và phải có một lá chắn nhiệt để phi thuyền không cháy tiêu. Khi xuống đến cao độ 6.2 dặm, vận tốc đã giảm xuống còn 1,300 dặm giờ, chiếc dù hãm bung ra để tới cao độ 1.1 dặm vận tốc chỉ còn 220 dặm/giờ. Lúc đó bộ phận đổ bộ mang Curiosity sẽ tách ra và hoạt động như một cần trục bay nhờ những hỏa tiễn nhỏ thổi ngược rồi dùng giây hạ Curiosity xuống đất. Trong vòng 2 giây khi biết chắc là điểm đáp xuống đủ cứng để Curiosity không bị lún, các khối nổ giống pháo nhỏ cắt giây và cần trục sẽ bay đi xa 150 mét rồi rớt xuống, tránh không đụng tới Curiosity. Toàn bộ quy trình đáp xuống Hỏa Tinh chỉ kéo dài 7 phút, được gọi là “7 phút kinh hoàng” đối với các khoa học gia vì quyết định thành công hay thất bại nếu chỉ một trục trặc nhỏ xảy ra.


Ông John Holdren, cố vấn khoa học kỹ thuật của Tổng Thống Obama, ca ngợi thành công phi thường “trong quy trình chưa từng có này”. Tất cả mọi việc đều diễn ra đúng như dự tính không có sai sót nào và 6 bánh xe đứng vững vàng trên mặt đất có nghĩa là Curiosity sẽ vận hành được như kế hoạch. Hình đầu tiên do Curiosity tự chụp và từ xa 184 triệu dặm gởi về tới trung tâm điều khiển Pasadena ít phút sau đó, đã xác định sự thành công hoàn toàn và được các nhân viên ở đây đón mừng trong sự hân hoan tột độ.


Nơi Curiosity đáp xuống ở trong một hố tròn, Gale Crater đường kính 96 dặm do một thiên thạch đụng vào Hỏa Tinh cách nay 3 triệu năm. Theo dự án, Curiosity sẽ qua một giai đoạn kiểm tra lại các dụng cụ khoa học trước khi bắt đầu công tác nghiên cứu trong thời gian ít nhất là 1 năm Hỏa Tinh nghĩa là 687 ngày của Trái Ðất chúng ta. Hố tròn Gale Crater được chọn vì nhiều lý do. Trước hết nơi Curiosity đáp xuống, một hố trũng 4 x 12 dặm là nơi sâu nhất trên Hỏa Tinh nên nếu như có nước dưới mặt đất thì sẽ là chỗ gần nhất để Curiosity phát hiện và nghiên cứu bằng những dụng cụ khoa học. Thứ hai, qua hàng triệu năm, những vật chất từ miệng hố trôi xuống do gió hay nước – nếu đã có – vẫn còn tích tụ ở đáy nên đây là nơi thuận lợi nhất để tìm hiểu về lịch sử của Hỏa Tinh.


Trong thời gian không lâu nữa, người ta sẽ được xem những hình ảnh do Curiosity chụp cũng như có thể biết rõ rất nhiều điều mới lạ về hành tinh này, dù rằng chắc chắn sẽ không thấy những “người Hỏa Tinh” trong các truyện giả tưởng như đã mơ ước từ lâu.

Nước ao hồ Mỹ nóng sôi, hàng ngàn cá chết

LINCOLN, Nebraska (AP) Hàng ngàn con cá đang chết nổi lềnh bềnh trên các con sông, suối, ao hồ, đang cạn dần trong tiết trời nóng gay gắt của Mùa Hè năm nay, với nhiệt độ nhiều nơi lên tới gần 100 độ Farrenheit.







Xác cá chết nhanh chóng thối rữa gần một hồ tại Rock Port, tiểu bang Missouri. Dưới cái nóng gay gắt của Mùa Hè năm nay, nước nhiều ao hồ của miền Trung Tây nước Mỹ nóng gần 100 độ F, làm cá chết hàng loạt. (Hình: Nati Harnik/AP)


Khoảng 40,000 con cá tầm (shovelnose sturgeon) chết tại Iowa tuần qua vì nhiệt độ lên tới 97 độ F. Các giới chức ngư nghiệp Nebraska cho hay họ thấy hàng ngàn con cá tầm, cá trê (catfish), cá chép (carp) cùng các loại thủy sản khác chết trên sông Lower Platte River. Các nhà sinh vật học ở Illinois nói rằng thời tiết nóng bức Mùa Hè năm nay đã làm chết hàng chục ngàn con cá đủ loại, đủ cỡ ở tiểu bang này, đồng thời đe dọa sự sống còn của các loài cá hiếm.


Tại một hồ ở Illinois, do có quá nhiều cá chết đến nỗi xác cá che kín lưới lọc của ống hút nước gần nhà máy phát điện, khiến mực nước xuống thấp và nhà máy phải đóng một máy phát điện.


“Ðây là điều tôi chưa hề thấy trong đời làm việc của mình, và tôi đã ở nơi này trong hơn 17 năm qua,” theo lời Mark Flammang, một nhà sinh vật học thuộc Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên tiểu bang Iowa.


Các con cá này là nạn nhân của một Mùa Hè được coi là trong hàng khô nhất và nóng nhất của lịch sử nước Mỹ. Cơ quan theo dõi tình trạng khô hạn của chính phủ liên bang Mỹ nói rằng có tới 2/3 các tiểu bang Mỹ, trừ Alaksa và Hawaii, đang bị hạn hán ở các cấp độ khác nhau. Bộ Nông Nghiệp Mỹ nói rằng có hơn một nửa các quận ở Mỹ, gần 1,600 trong 32 tiểu bang, đang gặp tình trạng hạn hán nặng nề và được coi là khu vực bị thiên tai. (V.Giang)

Cướp tiệm vàng giữa ban ngày ở Sài Gòn

SÀI GÒN (NV) Một vụ cướp tiệm vàng ngay giữa ban ngày vừa xảy ra ở tiệm vàng Minh Mẫn thuộc huyện Bình Chánh, Sài Gòn.







Hiện trường một vụ cướp tiệm vàng táo tợn từng xảy ra trước đó tại Sài Gòn. (Hình: Dân Trí)


Báo Dân Trí cho biết, “Vào trưa 4 tháng 8, anh V.T.K. (29 tuổi, con trai chủ tiệm) được giao nhiệm vụ trông coi tiệm vàng. Khi đang ở bên trong quầy thu ngân thì anh K. phát hiện một thanh niên đội nón bảo hiểm, đeo khẩu trang xông vào bên trong.”


Chưa kịp ngăn cản, truy hô thì lập tức đối tượng này rút chiếc búa giấu sẵn trong người đập bể kính ở tủ trưng bày vàng, vơ 3 sợi dây chuyền (khoảng 3 lượng vàng) rồi chạy ra xe đồng bọn chờ sẵn tẩu thoát.


Tin cho hay, “Tiệm vàng tuy có lắp hệ thống camera an ninh nhưng khi nghi phạm cướp vàng ra tay gây án thì bọn chúng đã ngụy trang và nghiên cứu khá kỹ địa hình cũng như thời gian hoạt động của tiệm vàng này nên manh mối vụ việc khá mập mờ.” (K.N.)

Giá dầu Gasoil quốc tế tăng vì nhà máy Dung Quất ngưng chạy

SINGAPORE (NV) Giá dầu gasoil quốc tế leo thang hôm Thứ Hai 6 tháng 8, 2012 khi có tin nhà máy lọc dầu duy nhất của Việt Nam đột ngột ngừng chạy vào lúc có một số nhà máy lọc dầu khác ở Á Châu cũng ngừng chạy hoặc dự tính trước hoặc bị bất ngờ.









Nhà máy lọc dầu Dung Quất. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Bản tin thời sự kinh tế của Reuters cho hay cuối tuần qua, nhà máy lọc dầu Dung Quất ở Quảng Ngãi ngừng hoạt động bất ngờ nên nhà nhập cảng và phân phối xăng dầu quốc doanh Saigon Petro vội vàng đề nghị mua ở nước ngoài để bù cho số lượng không sản xuất kịp ở nội địa.


Theo tin tức, nhà máy Dung Quất sản xuất 135,000 thùng một ngày, có thể phải ngừng hoạt động để sửa chữa khoảng 2 tuần lễ. Ðây là lần thứ hai nhà máy phải ngừng chạy trong vòng 3 tháng.


Từ khi bắt đầu hoạt động năm 2009 đến nay, nhà máy lọc dầu Dung Quất đã phải đóng cửa nhiều lần để sửa chữa những hư hỏng bất ngờ hoặc bảo trì định kỳ, rất tốn kém.


Chỉ một lần ngừng chạy bảo trì tổng thể 3 tuần lễ hồi tháng 9 năm 2011, nhà máy Dung Quất đã phải trả cho nhà thầu Hàn Quốc $25 triệu USD.


Bản tin Reuters cho hay họ không hỏi được một viên chức nào của nhà máy để biết lý do của chuyện ngừng chạy, thời gian kéo dài bao lâu hoặc các chi tiết khác.


Mới hôm Chủ Nhật 5 tháng 8 năm 2012, báo Tiền Phong có một ký sự ca ngợi “tầm quan trọng của nhà máy lọc dầu Dung Quất, nơi đáp ứng 30% xăng dầu của Việt Nam”.


Bài viết ca ngợi tài năng và tinh thần làm việc của đội ngũ chuyên viên kỹ sư trong đó tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang “hầu như ăn ngủ tại nhà máy”.


Cho tới nay, người ta chỉ biết nhà máy lọc dầu Dung Quất lỗ nặng nhưng con số không được nhà cầm quyền Việt Nam công bố.


“Về lỗ lãi, tuy không tiết lộ con số lỗ cụ thể nhưng ông Giang không ngần ngại thừa nhận nhà máy đang bị lỗ, và phía sau còn những chuyện cần nói rõ.” Theo tờ Tiền Phong.


Ngay từ trước khi bắt đầu xây dựng dự án Dung Quất, nhiều chuyên viên kinh tế trong và ngoài nước đã khuyến cáo dự án không đem đến hiệu quả kinh tế nhưng chế độ Hà Nội vẫn liều lĩnh tiến tới.


Hiện Hà Nội đang muốn bán lại 49% cổ phần nhà máy cho một số đối tác nước ngoài để có tiền đầu tư thêm cho dự án. (T.N.)

‘Tàu lạ’ liên tục đâm chìm tàu ngư dân Việt, 8 người mất tích

HÀ TĨNH (NV) Trong những ngày đầu Tháng Tám, 2012, ít nhất có hai vụ ‘tàu lạ’ đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam làm 8 người mất tích.







Ngư dân Việt Nam cứu nhau trên biển sau khi tàu của họ bị ‘tàu lạ’ đâm chìm. (Hình: Internet)


Vụ thứ nhất, theo báo Dân Việt, xảy ra hôm 4 Tháng Tám tại vùng biển tỉnh Hà Tĩnh.


Báo này tường thuật: “Lúc 21 giờ ngày 4 tháng 8, tàu đánh cá mang số hiệu QNa 02351 do Thuyền Trưởng Nguyễn Cư (sinh năm 1967) cùng 3 thuyền viên gồm Nguyễn Ðôi (sinh năm 1964), Trần Ðình Trung (sinh năm 1965), Nguyễn Vĩnh Sơn (sinh năm 1965) đều trú tại thôn Tây Sơn Ðông, xã Di Hải, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) đánh bắt hải sản tại vùng biển cách Cửa Sót xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, 12 hải lý thì bất ngờ bị một tàu vận tải gây tai nạn. Tàu QNa 02351 bị chìm và 4 người trên tàu rơi xuống biển, còn chiếc tàu hàng gây tai nạn bỏ chạy.”


Sau khi nhận được tin, lực lượng biên phòng cùng các tàu đánh cá khác đã cứu được 3 người, còn Thuyền trưởng Nguyễn Cư bị mất tích.


“Do trời tối, nên các thuyền viên không xác minh được chiếc tàu gây ra tai nạn mà chỉ biết là tàu hàng màu xám. Tàu QNa 02351 hỏng nặng cùng các ngư cụ đều bị mất, ước tính thiệt hại gần 300 triệu đồng.”


Vụ thứ hai xảy ra lúc 5 giờ sáng 6 tháng 8, khi chiếc tàu cá BV 95134 TS của Bà Rịa-Vũng Tàu bị tàu lạ đâm chìm (cách Vũng Tàu khoảng 238 hải lý về phía Nam), khiến bảy ngư dân mất tích.


Hiện vẫn chưa rõ tên tuổi của các ngư dân gặp nạn.


Theo báo Tiền Phong, ‘Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn’ của Việt Nam đã ‘đề nghị Cục Lãnh Sự (Bộ Ngoại Giao) thông báo cho Indonesia biết để chỉ đạo các cơ quan chức năng sở tại tiến hành những biện pháp tìm kiếm nạn nhân mất tích’.


Vẫn theo báo Tiền Phong, cho đến đến 14 giờ hôm 6 tháng 8, “cơ quan tìm kiếm cứu nạn của Indonesia (Indonesia MRCC) thông báo sẽ điều máy bay đi tìm kiếm cứu nạn, nhưng do thời tiết xấu, máy bay chưa cất cánh được.” (K.N.)

Kẻ nổ súng ở đền thờ Sikh là cựu chiến binh

OAK CREEK, Wis. (AP)Giới hữu trách hôm Thứ Hai cho hay kẻ nổ súng làm thiệt mạng sáu người bên trong một đền thờ Sikh ở Wisconsin là một cựu quân nhân 40 tuổi.







Nghi can Wade Michael Page trong vụ nổ súng vào đền thờ Sikh vào Chủ Nhật 5 Tháng Tám tại Oak Creek, tiểu bang Wisconsin. (Hình: AP Photo/FBI)


Ðệ nhất phụ tá văn phòng Biện Lý Liên Bang Mỹ tại thành phố Milwaukee cho hay hung thủ, bị cảnh sát bắn chết bên ngoài đền thờ Sikh ở Wisconsin, là Wade Michael Page.


Một giới chức Bộ Quốc Phòng Mỹ nói rằng người này bị giáng cấp trước khi bị giải ngũ khoảng 12 năm trước đây. Giới chức này cho hay Page nhập ngũ năm 1992 và giải ngũ năm 1998. Page bị giáng cấp từ trung sĩ xuống cấp tương đương với hạ sĩ, nhưng nguồn tin trên không cho biết lý do.


Vụ nổ súng, được cảnh sát gọi là khủng bố nội địa, xảy ra ở đền thờ Sikh tại Wisconsin, trong khu ngoại ô thành phố Milwaukee, hôm Chủ Nhật, làm thiệt mạng bảy người, kể cả hung thủ. Các nhân chứng nói rằng họ chưa hề thấy ông Page vào nơi này trước đó nhưng có vẻ ông ta có chuẩn bị kỹ càng. (V.Giang)

Sẵn sàng tham gia vào phong trào “Con Ðường Việt Nam”

 


Về “Fulbright và Ðịnh”


Tôi đang sống ở Virginia sẵn sàng tham gia vào phong trào “Con Ðường Việt Nam” và sẵn sàng đi biểu tình để đòi hỏi Vietnam trả tự do cho anh Lê Công Ðịnh.


Bài viết rất hay, tôi thích cách dùng chữ của Trịnh Hội. Xin tiếp tục đăng tin về anh Lê Công Ðịnh nếu có trong tương lai. Xin cảm ơn.


Quang Nguyen



 

Tin mới cập nhật