Mỹ sẽ bán trang bị quốc phòng ‘không sát thương’ cho Việt Nam

 


HÀ NỘI 11-7 (NV) – Hoa Kỳ sẽ bán trang bị quốc phòng không thuộc loại võ khí “sát thương” cho Việt Nam, theo lời một viên chức Hoa Kỳ tháp tùng bà Ngọai Trưởng Hillary Clinton.



Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Hillary Clinton (trái), và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, tại Hà Nội ngày 10 Tháng Bảy, 2012. (Hình: AP Photo/Brendan Smialowski)


Bản tin thông tấn Reuters thuật lời một viên chức yêu cầu không nêu tên nói rằng Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam các trang bị quân sự không sát thương (non-lethal military equipment) và sẽ không cứu xét bán các loại võ khí sát thương cho Việt Nam chừng nào thành tích nhân quyền của Việt Nam vẫn chưa được cải thiện đáng kể.


Một trong những thứ trang bị quân sự “không sát thương” hàng đầu mà Hà Nội cần là hệ thống radar tối tân giám sát hỏa tiễn Trung Quốc, các máy bay theo dõi tàu chiến, tàu ngầm trên biển.


Năm 2007, Tổng Thống George W. Bush chỉ gỡ bỏ một phần của đạo luật cấm bán trang bị quân sự cho Việt Nam bằng cách cho phép bán các loại trang bị thuộc loại “không sát thương” và phải được cứu xét từng trường hợp một.


Hai bộ trưởng quốc phòng CSVN Phạm Văn Trà và Phùng Quang Thanh khi đến Mỹ thăm viếng đều yêu cầu gỡ bỏ lệnh này. Gần đây nhất, báo chí ở Việt Nam cho hay cả Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh cũng như ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đều đem điều yêu cầu đó ra lập lại với Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta khi ông này đến Hà Nội hồi đầu Tháng Sáu.


Câu trả lời mà Hà Nội nhận được sau cùng từ ông Panetta hay bà Ngọai Trưởng Clinton cách đây hai ngày đều cùng một quan điểm chưa thấy thay đổi. Nếu Việt Nam không cải thiện nhân quyền đáng kể, lệnh cấm bán võ khí sát thương vẫn còn đó.


Nghị Sĩ John McCain khi đến dự Diễn Ðàn An Ninh Khu Vực Shangri-La ở Singapore ngày 2 Tháng Sáu 2012 cũng cho hay hiện đang có các cuộc thảo luận giữa Việt Nam và Hoa Kỳ “theo hướng tích cực” về các loại trang bị quân sự mà Hà Nội muốn mua. Hồi đầu năm, ông đã đến Việt Nam và cho hay Hà Nội đã đưa cho Hoa Kỳ một danh sách dài về các loại trang bị quân sự muốn mua nhưng ông cũng đã nói điều đó tùy thuộc vào sự cải thiện nhân quyền ở Việt Nam.


Trong thời gian ghé Hà Nội trước khi sang Lào và dự Hội nghị ASEAN ở Phnom Penh, ngày 10 Tháng Bảy 2012, bà Hillary Clinton đã gặp Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng.


Trong cuộc họp báo, bà cho hay bà đã nhấn mạnh vấn đề cải thiện nhân quyền để Việt Nam với Hoa Kỳ có thể nâng mối quan hệ đối tác chiến lược lên một mức cao hơn. Bà kêu gọi Hà Nội trả tự do cho các bloggers Ðiếu Cày (Nguyễn Văn Hải), Tạ Phong Tần và AnhBaSG (Phan Thanh Hải) là 3 người thuộc nhóm “Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do”. Vụ án được loan báo xử từ giữa Tháng Năm 2012 nhưng bất ngờ bị dời lại không ai biết lý do tại sao. Cả 3 đối diện với những bản án có thể từ 10 đến 20 năm tù.


Luật sư của bà Tần, ông Nguyễn Quốc Ðạt, từng cho hay bà Tần đã tuyệt thực nhiều ngày trong tù, không rõ tình trạng sức khỏe và an nguy của bà hiện nay ra sao.


Theo Reuters, bà Clinton đã yêu cầu gặp ông Nguyễn Phú Trọng một phần vì những chống đối các cải cách chính trị cũng như chống lại khuynh hướng tiến gần với Hoa Kỳ, nằm ở phía các lãnh tụ bảo thủ trong đảng.


Nguồn tin dẫn lời viên chức giấu tên nói ông Trọng đã khó chịu khi bị bà Clinton đem vấn đề đàn áp nhân quyền ra cật vấn, vừa nêu các trường hợp đặc biệt, vừa nói chung về tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam.


Theo Reuters thuật lại, có vẻ như Hà Nội không mấy đáp ứng các đòi hỏi của bà về nhân quyền nên có dấu hiệu như mối quan hệ song phương giữa hai nước không dễ dàng “lên tầm cao mới”.


Trước các tin tức về chuyến thăm của bà Clinton đến Hà Nội, tờ Hoàn Cầu Thời Báo (phụ bản của Nhân Dân Nhật Báo) ở Bắc Kinh ngày 11 Tháng Bảy 2012 dọa rằng Hà Nội “sẽ cảm thấy đau đớn khi giúp Mỹ quay lại Việt Nam”.


Nội dung bài báo ám chỉ đến những những trò trả thù mà Bắc Kinh sẽ đưa ra nếu Hà Nội nghiêng dần về phía Hoa Thịnh Ðốn.

Garden Grove công bố bảo tàng Chiến Tranh Việt Nam

 


Linh Nguyễn/Người Việt


 


GARDEN GROVE (NV) – Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove vừa công bố địa điểm Viện Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam, 12650 Harbor Blvd., Garden Grove, CA 92840 (giữa Westminster và Trask), qua một cuộc họp báo hôm Thứ Ba.



Nghị Viên Bruce Broadwater và chiếc xe Jeep thời chiến tranh Việt Nam. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


“Orange County là nơi có đông người Mỹ gốc Việt và đã thành lập Little Saigon tại Hoa Kỳ. Chúng ta cần một địa điểm để mọi người viếng thăm có thể hiểu được nguồn gốc, văn hóa và lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự hy sinh cao cả của người lính Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ không thể bị lãng quên,” Nghị Viên Bruce Broadwater, phó chủ tịch Vietnam War Memorial of America Foundation (VWMAF), tổ chức chịu trách thực hiện viện bảo tàng, tuyên bố.


Ông nói tiếp: “Chúng tôi đã thành lập Hội Ðồng Quản Trị gồm 11 người, trong đó có hai người gốc Việt là Giáo Sư Lê Hồng và Nghị Viên Dina Nguyễn. Chúng tôi cũng nhận được món quà đầu tiên là một xe Jeep MACV thời chiến tranh Việt Nam mà quý vị thấy tại đây do ông Jim Barisic, chủ tịch công ty Brandywine Homes, trao tặng. Thời đó, ông là quân nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam.”


Trước đó, bà Kimberly Huy, một nhân viên thành phố, trong phần thuyết trình, cho biết: “Garden Grove là nơi sinh sống của hàng ngàn người tị nạn Việt Nam và di dân đến Mỹ định cư sau cuộc chiến Việt Nam. Viện bảo tàng sẽ cho du khách cơ hội hiểu biết nhiều hơn về giai đoạn chiến tranh ấy.”



Nghị Viên Bruce Broadwater (phải) và Nghị Viên Steve Jones (giữa) nói chuyện với một người Việt Nam tham dự buổi họp báo. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Bà cho biết, năm 2009, Hội Ðồng Thành Phố thành lập một ủy ban để nghiên cứu thành lập VWMAF. Năm 2011, VWMAF được thành lập, gồm những lãnh đạo cộng đồng, nhân sĩ, dân cử và những doanh gia chuyên nghiệp, có giấy phép 501(c)3 hoạt động bất vụ lợi. Mục đích thành lập một viện bảo tàng để quảng bá sự hiểu biết về chiến tranh Việt Nam và vinh danh hàng triệu cựu quân cán chính Mỹ và Nam Việt Nam để thế hệ tương lai ghi nhớ những hy sinh của họ cho tự do chống lại chế độ cộng sản.


Cũng theo lời bà Kimberly Huy, viện bảo tàng cũng dùng để giáo dục thế hệ sau về lịch sử, vai trò và sự đóng góp của người Việt Nam qua nhiều phương tiện truyền thông, sách báo, truyền hình…


Bà cho biết, theo dự trù, không gian của viện bảo tàng sẽ gồm triển lãm các giai đoạn chiến tranh Việt Nam từ 1955-1975, thời gian trước chiến tranh Việt Nam, thời hậu chiến sau 1975, thời gian tị nạn và di dân. Tất cả được sắp đặt xung quanh khu tâm điểm là các triển lãm về văn hóa và đất nước Việt Nam.


Ngoài ra, tòa nhà hai tầng rộng 17,500 sq ft còn có nơi phục vụ ẩm thực và một khu vườn bên ngoài.


Nghị Viên Bruce Broadwater cũng cho biết VWMAF sẽ có những chương trình gây quỹ và xin các ngân khoản của chính phủ để lấy quỹ hoạt động duy trì viện bảo tàng.


Ủy ban nghiên cứu dự án do thành phố Garden Grove thành lập đã mướn các cố vấn từ hai công ty Pro Forma Advisors và BRC Imagination Arts để phác họa mô hình của viện bảo tàng tương lai ở tầm cỡ quốc gia.


Bản phúc trình từ công ty Pro Forma Advisors cho thấy số người thăm viếng lúc ban đầu có thể từ 295,000 đến 415,000 người một năm. Giá vé vào cửa cho người lớn là $14-$19 với kinh phí hoạt động $8.8-$10.4 triệu/năm.


Công ty BRC Imagination Arts sẽ nghiên cứu thiết kế và phỏng vấn các thành phần trong cộng đồng, tổ chức hội thảo, ra mắt dự án, trình bày các tài liệu liên quan đến viện bảo tàng.



Nghị Viên Bruce Broadwater hướng dẫn khách thăm tầng dưới của viện bảo tàng tương lai. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Các bước kế tiếp là làm trang web gây quỹ và xin tài trợ.


Thị trường du khách cũng được nghiên cứu cho thấy khoảng 148 khách sạn (20,000 phòng) trong vòng 10 dặm và Disneyland. Số du khách ở Anaheim và Orange County, theo bản nghiên cứu phát tại buổi họp báo, là 11.5 triệu người mỗi năm.


Bản nghiên cứu cũng đề cập đến Viện Bảo Tàng Quốc Gia Mỹ Gốc Nhật thành lập năm 1992, viện bảo tàng Lincoln Library & Museum, và các kiến trúc tương tự khác như National Museum of Civil War Soldier, National World War II Museum…


Nghị Viên Bruce Broadwater sau đó hướng dẫn mọi người thăm căn phòng rộng nhất phía dưới nhà và lên lầu hai của tòa nhà.


Ban tổ chức cho biết trước đây địa điểm này là một tiệm bán xe hơi. Phía sau để trống vẫn còn dấu vết của các trạm bảo trì xe rộng rãi.


Ða số câu hỏi của người tham dự đều liên quan đến nội dung những gì sẽ được trưng bày bên trong viện bảo tàng chiến tranh Việt Nam. Câu trả lời của Nghị Viên Broadwater là còn quá sớm và tất cả đều đang trong giai đoạn nghiên cứu và phác thảo.


Anh Thành Phạm, 38 tuổi, cư dân Stanton, đang theo học về phim ảnh tại Hollywood Academy, thắc mắc tại sao viện bảo tàng chiến tranh Việt Nam của Việt Nam và đồng minh mà không thấy đề cập đến lá cờ vàng ba sọc đỏ và hình ảnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa.


“Còn quá sớm để gom vào bản phúc trình hôm nay, nhưng chắc chắn không thể thiếu những yếu tố chính và quan trọng ấy được. Hàng trăm ngàn người Mỹ gốc Việt ở đây sẽ nhắc điều đó,” Nghị Viên Bruce Broadwater trả lời.


Ông Broadwater cũng nói đến ban cố vấn có ủy viên danh dự là Chánh Án Eileen Moore, thuộc Tòa Kháng Án Hoa Kỳ, từng tham dự chiến tranh Việt Nam. Khi ấy bà là trung úy y tá quân đội Hoa Kỳ.


Ðể biết thêm chi tiết về VWMAF, xin vào trang web: www.vnwma.com hay gọi điện thoại 1-855-592-7687. Chi phiếu đóng góp xin đề: Vietnam War Museum of America Foundation, và gởi về P.O. Box 3070, Garden Grove, CA 92842.


Hiện diện tại buổi họp báo còn có hai nghị viên Steve Jones và Chris Beard, và ông Phát Bùi, chủ tịch Ủy Ban Quy Hoạch, cùng một số cơ quan truyền thông trong vùng.


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Hội ảnh PSCVN triển lãm ảnh nghệ thuật

 


Hội thoại, giới thiệu Photoshop CS6


 


Lê Minh


 


WESTMINSTER (NV) –Hội ảnh PSCVN sẽ tổ chức triển lãm ảnh nghệ thuật từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều trong hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, 14 và 15 Tháng Bảy, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683. Vào cửa miễn phí.



“Morning Dew,” của Brandon Phạm, huy chương vàng thể loại Thiên Nhiên.


Buổi triển lãm bao gồm các tác phẩm được giải thưởng của cuộc thi hàng năm do PSCVN đứng ra tổ chức, có giải thưởng và hiện kim, và mở rộng cho mọi nhiếp ảnh gia tham dự.


Triển lãm sẽ trình bày tác phẩm của 44 nhiếp ảnh gia, với hơn 300 ảnh nghệ thuật của bốn thể loại Thiên Nhiên (Nature), Sáng Tạo (Creative), Màu Sắc (Color), và Ðen Trắng (Black & White).


Ban giám khảo gồm ba nhiếp ảnh gia tên tuổi, người Mỹ, chọn ba tấm hình xuất sắc nhất của bốn thể loại để trao giảo huy chương vàng, bạc và đồng và bốn giải khuyến khích cho mỗi thể loại.


“Trong sáng, vô tư trong việc chấm giải hằng năm là tôn chỉ của PSCVN. Chúng tôi đã mời các nhiếp ảnh gia người Mỹ từ các hội ảnh bạn làm giám khảo để tránh mọi thiên vị và dị nghị,” nhiếp ảnh gia Sĩ Huỳnh, tổng thư ký PSCVN, cho biết.


Trong năm qua, có một vài biến cố gây tai tiếng trong giới nhiếp ảnh gia gốc Việt tại Orange County và Việt Nam, qua việc trao đổi tiền bạc đổi lấy giải thưởng, huy chương, hoặc cho nhau mượn ảnh để triển lãm và in sách.



“Shoot for the Moon,” của Duyên Duyên Trịnh, huy chương đồng thể loại Sáng Tạo.


Tại cuộc thi lần này, ban giám khảo trao huy chương vàng cho Brandon Phạm (Florida), thể loại Thiên Nhiên, Thanh Thủy Nguyễn (California), thể loại Sáng Tạo, Helen Cao (Califonia), thể loại Màu Sắc và Jimmy Nguyễn (California), thể loại Ðen Trắng.


PSCVN sinh hoạt hơn 15 năm qua, được Sở Thuế IRS cấp giấp phép hoạt động như là một tổ chức bất vụ lợi phục vụ công chúng. Hội đã tổ chức nhiều lớp học nhiếp ảnh và photoshop miễn phí dành cho những ai yêu thích nhiếp ảnh.


PSCVN đi tiên phong trong việc hướng dẫn nhiếp ảnh số (digital) trong cộng đồng Việt tại Orange County. Sau hơn thập niên hoạt động, hội có hơn 1,000 hội viên, trong số này có gần một nửa sinh sống tại Nam California, phần còn lại sinh sống tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, Âu Châu và Úc, một số không nhỏ sống ở Việt Nam. Mỗi năm, hội tổ chức bốn cuộc triển lãm tại Orange County.



“Fort Rosecrams National Cemetery in Point Lama,” của Jimmy Nguyễn, huy chương vàng thể loại Ðen Trắng.


Mặc dù nhiếp ảnh gia VyVy Trần, người sáng lập PSCVN, lâm trọng bệnh nhiều năm qua, hội vẫn tiếp tục sinh hoạt, và hiện do nhiều nhiếp ảnh gia trẻ điều hành, để ngày một phát triển, được giới nhiếp ảnh Hoa Kỳ và địa phương đánh giá cao về sinh hoạt đa năng của hội.


Song song với buổi triển lãm, PSCVN sẽ tổ chức cuộc hội luận và giới thiệu nhu liệu “Photoshop CS6,” phiên bản mới nhất đang thịnh hành trên thị trường hiện nay.


Nhiếp ảnh gia Lê Tấn Quí, một chuyên viên về Photoshop, sẽ trình bày 16 nét độc đáo của CS6, gây thích thú cho giới nhiếp ảnh khắp nơi, khi muốn tăng phẩm chất tác phẩm của mình, vào lúc 1 giờ trưa Thứ Bảy, cùng ngày với khai mạc triển lãm.


Người yêu thích nhiếp ảnh muốn biết thêm về sinh hoạt, cũng như thưởng thức hơn 20,000 tấm ảnh nghệ thuật của hội viên và thân hữu, có thể vào trang web www.pscvn.org.

Báo ở Việt Nam phàn nàn Bắc Kinh hiếu chiến

 


HÀ NỘI 11-7 (NV) – Báo chí của Bắc Kinh theo nhau đe dọa Việt Nam với những lời lẽ dữ dằn trong khi một số báo ở Việt Nam đáp trả bằng những bài viết phàn nàn về thái độ tạo thêm căng thẳng của Bắc Kinh.



Trung Quốc biểu diễn tập trận hải quân ở biển Ðông để đe dọa Việt Nam. (Hình: Internet)


Từ thái độ nhẫn nhịn để mặc Bắc Kinh chửi bới, hù dọa, ít ngày gần đây, người ta thấy một số tờ báo ở Việt Nam đã viết những bài phân tích và nói đích danh hành động bá quyền nước lớn của Trung Quốc. Qua các bài báo sặc mùi kẻ cướp, Bắc Kinh hiện không che giấu dã tâm muốn độc quyền chiếm trọn biển Ðông, lấy của người làm của mình rồi đề nghị điều đình, hợp tác.


Từ khoảng gần hai tuần lễ trở lại đây, một số tờ báo ở Việt Nam như Tuần Việt Nam, Ðất Việt, Người Lao Ðộng, Nhà Báo và Công Luận, Dân Trí, Ðại Ðoàn Kết thay nhau đả kích thái độ hiếu chiến của Trung Quốc khi đưa ra các bài báo dọa đánh Việt Nam, hoặc vạch ra các sai trái và ngang ngược của Bắc Kinh trong các tranh chấp chủ quyền biển đảo với Việt Nam.


TTXVN và tờ Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền chính thức của đảng CSVN, vẫn im lặng dù tờ Nhân Dân Nhật Báo của Bắc Kinh, tức cơ quan tuyên truyền chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc, leo thang chửi bới đe dọa Việt Nam.


Ngày 11 Tháng Bảy, báo Tuần Việt Nam nói những hành động của Trung Quốc gây căng thẳng trên biển Ðông từ năm 2009 đến nay là “các hành động tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại theo đuổi một chiến lược cụ thể theo hai định hướng chính: Thứ nhất là cố gắng xác lập chủ quyền trên thực địa, và thứ hai là khẳng định chủ quyền trên mặt pháp lý.”


Theo bài viết này, “phương pháp xác định chủ quyền thực địa của Trung Quốc mang đầy những toan tính chiến lược. Việc đưa các tàu đánh cá của mình đến các khu vực xung quanh Hoàng Sa hay Trường Sa cốt yếu nhằm từ từ xác lập một ‘ưu thế thực địa’ có lợi trong tương lai, bên cạnh khai thác tài nguyên. Trong bối cảnh các quốc gia tranh chấp chủ yếu khác như Việt Nam hay Philippines không có một đội tàu đánh bắt hiện đại, không được hỗ trợ mạnh mẽ của các lực lượng chấp pháp biển bán quân sự như các đội tàu hải giám và ngư chính, sẽ không thể duy trì sự hiện diện thường xuyên và liên tục, thì việc làm này của Trung Quốc sẽ từ từ biến các vùng biển đó thành ‘vùng biển lịch sử’ sau này.”


Bên cạnh đó, khi cho các tàu hải giám và tàu giả dạng đánh cá ngăn chặn tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam “vô hình trung khiến cho cả thế giới ngộ nhận rằng vùng biển đó đang có tranh chấp. Các căng thẳng tại bãi cạn Scarborough gần đây hay vụ CNOOC tuyên bố mời thầu 9 lô dầu khí cũng nằm trong chiến lược tương tự”.


Từ những phân tích chi tiết về chủ trương và chiến lược của Trung Quốc, bài viết của Tuần Việt Nam cho rằng “Trung Quốc là một đối tác quan trọng của Việt Nam xét trên tất cả các khía cạnh từ lịch sử, kinh tế đến góc nhìn địa chính trị, nhưng những hành động xác quyết chủ quyền trên thực tế và pháp lý có nhiều ý đồ chiếm trọn biển Ðông gần đây đang dần chứng minh rằng họ cũng là đối tượng mà chúng ta cần suy nghĩ đối sách hiệu quả để đương đầu.”


Báo Ðất Việt ngày 11 Tháng Bảy thuật lại lời lẽ kích động kêu gọi đánh Việt Nam của một số tướng lãnh Trung Quốc hay được nêu tên trên báo như Bành Quang Khiêm (phó tổng thư ký Ủy Ban Chính Sách An Ninh Quốc Gia Trung Quốc, Hội Nghiên Cứu Khoa Học Chính Sách Trung Quốc), La Viện (phó tổng thư ký Hội Khoa Học Quân Sự), Kiều Lương (phó chủ nhiệm Ủy Ban Chính Sách Quốc Gia Trung Quốc). Thậm chí, cả bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc cũng tuyên bố những lời lẽ hàm ngụ đe dọa khi nói “Quân đội Trung Quốc sẵn sàng chiến đấu”.


Tờ Ðất Việt viết: “Bên cạnh hàng loạt bài viết xuyên tạc, sai sự thật về tình hình hình biển Ðông dồn ‘mũi nhọn’ chống phá về phía Việt Nam đăng trên báo mạng, báo viết, báo hình ở Trung Quốc, nhiều tờ báo của nước này, trong đó có cả những tờ báo chính thống, có nhiều bài viết thể hiện sự hăm dọa với lời lẽ hung hăng, sặc mùi gươm đao.”


Một trong những ví dụ điển hình là bài “Trung Quốc buộc phải ra đòn ở Nam Hải (tức biển Ðông)” của một tờ báo đầy quyền uy là Nhân Dân Nhật Báo (bản hải ngoại) ngày 30 Tháng Sáu vừa qua. Giọng điệu của bài báo đầy rẫy những từ mang tính đe họa, hiếu chiến như: ‘Quả đấm thẳng’, ‘một loạt quả đấm móc’, ‘một số đòn thái cực quyền’”…


Ngày 30 Tháng Sáu, tờ Nhà Báo và Công Luận viết: “Ngày 21 Tháng Sáu 2012, Quốc Hội Việt Nam thông qua 13 luật, trong đó có Luật Biển Việt Nam. Vậy mà, trước và sau khi Luật Biển Việt Nam được thông qua, báo chí Trung Quốc, kể cả một vài báo lớn, chính thống, đã đăng tải nhiều bài viết công kích, xuyên tạc với những lời lẽ xúc phạm, làm tổn thương lòng tự tôn dân tộc của nhân dân Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận Việt Nam.”


Trước sự hung hăng đe dọa của Bắc Kinh, Nhà Báo và Công Luận kêu rằng: “Viết lách như thế thì còn gì hình ảnh một nước Trung Quốc ‘đang trỗi dậy hòa bình.’”

Biểu tình, phản kháng và lật đổ

 


LTS: Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được là chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người-Việt”, xuất hiện Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Hàng ngày, thời sự thường loan tải tin tức và đôi khi hình ảnh về các cuộc biểu tình phản kháng xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới.


Người Việt chúng ta, ít ra là những ai quan tâm theo dõi, có nghe nói hoặc chú ý đến các cuộc biểu tình trong nước để phản đối sự bành trướng ngang ngược của Trung Quốc. Nhà cầm quyền tại Hà Nội kiểm soát và đàn áp khá triệt để vì e ngại là các cuộc biểu tình ấy có thể chuyển mục tiêu là đấu tranh cho dân chủ và nhắm vào chế độ độc tài.


Tại các quốc gia khác, mục tiêu và đối tượng của biểu tình thường tập trung vào chế độ, như tại Tunisia, Egypt, Libya, Yemen, Sudan. Cũng có trường hợp biểu tình của một đảng đối lập và quần chúng của mình để phản đối đảng cầm quyền, như đã thấy tại Thái Lan giữa hai phe áo vàng áo đỏ từ năm 2007. Hiền hòa như xứ Na Uy cũng có nhiều vụ biểu tình của công nhân dầu khí. Tự do như nước Mỹ cũng có biểu tình của phong trào “Tea Party” bên cánh hữu hoặc “Chiếm đóng Wall Street” bên cánh tả.


Trong các biến động này, ta có thể thấy nét chung là sự phản kháng của người yếu chống lại kẻ mạnh. Nhưng về mục tiêu hoặc phương thức thì lại có nhiều khác biệt.


Từ biểu tình, người ta có thể vận động một cuộc nổi dậy, hoặc tổng nổi dậy để lật đổ nhà cầm quyền mà không dùng giải pháp quân sự. Người ta cũng có thể biểu tình để hỗ trợ một đòi hỏi, hoặc tác động vào một tiến trình thương thuyết. “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ trình bày khung cảnh của hiện tượng này.


 


Ðịnh nghĩa và phân biệt


 


Hàng tuần, chúng ta chứng kiến các cuộc biểu tình hay lãng công (từ chối làm việc) để đòi hỏi điều kiện sinh hoạt trong một tập thể, như lương bổng hay quy chế lao động trong doanh nghiệp, hoặc luật lệ về môi sinh của một thị xã. Ra khỏi tập thể hay địa phương này, các cuộc biểu tình ấy đều ít được chú ý và chẳng có ảnh hưởng. Nhưng thế giới lại có những cuộc biểu tình phản kháng nhằm đưa tới một thay đổi chính trị. Chúng ta sẽ tìm hiểu riêng về hiện tượng đó.


Trong mục tiêu “thay đổi chính trị”, người ta lại thấy nhiều biểu hiện hoặc biến thái khác.


Ban đầu, dân chúng Syria biểu tình chống chế độ cầm quyền của hệ phái Allawite tập trung vào gia đình hoặc vây cánh của Tổng Thống Bashar Al-Assad. Khi bị đàn áp, phong trào phản kháng lan rộng thành phong trào nổi dậy và dâng cao thành đấu tranh võ trang. Một năm sau, cuộc đấu tranh võ trang ấy đã trở thành cuộc vận động quốc tế, tức là có ảnh hưởng đến tính toán về ngoại giao và an ninh của nước khác. Ðáng chú ý nhất là Iran và Turkey, ở vòng ngoài là Liên Bang Nga, Hoa Kỳ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Quốc.


Một trường hợp tương tự Syria nhưng đã phần nào ngã ngũ, là chuyện Libya.


Ban đầu cũng là biểu tình phản kháng rồi chuyển thành đấu tranh võ trang cho đến khi quốc tế can thiệp qua một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc. Sự tham gia quân sự của bốn thành viên Minh Ước NATO (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ý) đã kết thúc chế độ cai trị của Ðại Tá Muammar Ghaddafi.


Tại Egypt, phong trào phản kháng xuất phát đầu tiên từ giới trẻ và những người khát khao dân chủ. Nhưng các cuộc biểu tình đã dẫn đến kết quả khác. Ðó là làm cho các tướng lãnh chấm dứt vai trò lãnh đạo của Tổng Thống Hosni Mubarak nhưng lại tạo điều kiện cho sự lớn mạnh của Lực lượng Huynh Ðệ Hồi Giáo rồi biến thái thành đấu tranh chính trị, bầu cử và đấu trí giữa Thượng Hội Ðồng Quân Lực và tổng thống vừa đắc cử Mohammed Mursi.


Ra khỏi thế giới Á Rập Hồi Giáo, người ta được biết Trung Quốc cũng có hơn một trăm ngàn vụ biểu tình ở khắp nơi. Ngoài ra còn những vụ phản đối có bạo lực hay không của dân Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương còn có hơn hai chục vụ tự thiêu của dân Tây Tạng từ các tỉnh Tứ Xuyên, Cam Túc hay Thanh Hải vào đến thủ đô (cũ) của Tây Tạng, là Lhasa. Người ta cũng muốn có “thay đổi chính trị”, thí dụ như hoàn cảnh lao động, giải trừ tham nhũng hoặc quy chế tự trị cho dân thiểu số.


Nhưng kết quả vẫn chỉ là đàn áp mà không có thay đổi.


Ðịnh nghĩa của đề mục chúng ta tìm hiểu lần này là 1) một phong trào phản kháng của người yếu thế chống cường quyền, 2) để tiến tới thay đổi chính trị, 3) với hậu quả có thể là bạo lực, 4) hoặc sự can thiệp ngoại giao, 5) hay quân sự của xứ khác; 6) làm cường quyền sụp đổ; hoặc 7) người biểu tình bị đàn áp mà không đạt kết quả.


Trong bảy bước chuyển hóa thật ra rất khác biệt như vậy, người dân biểu tình nghĩ sao, làm gì, có chiến lược hay tổ chức không? Một câu hỏi bên lề mà cũng có ảnh hưởng là truyền thông nhìn sự thể ra sao và tường thuật thế nào?


 


Chiến thuật, chiến lược và tổ chức


 


Tổng kết kinh nghiệm và hậu quả hay kết quả của nhiều vụ biểu tình phản kháng, người ta có thể thấy ra một số đặc tính hay điều kiện chung của hiện tượng này.


Khởi đầu là sự bất mãn và ước vọng thay đổi. Khi ước vọng không thành, người ta mới biểu tình phản đối và thật ra chỉ là một nhóm thiểu số yếu ớt trước quyền lực và trước khả năng trấn áp của hệ thống đương quyền. Hệ thống đó có thể là một đảng, một chính quyền có bạo lực công an hay quân sự để đàn áp.


Ban đầu thì chế độ chính trị này tìm hiểu vấn đề và có thể chấp nhận vài hình thái phản đối nhỏ để xả bớt sức ép của quần chúng bất mãn và chứng tỏ họ biết nghe ý dân hoặc tôn trọng dân chủ. Với điều kiện là người biểu tình chỉ có yêu cầu giới hạn chứ không đe dọa sự tồn tại của chế độ.


Nhưng nếu biểu tình vẫn lan rộng và lớn mạnh vì những đáp ứng còn giới hạn của chế độ, người ta bắt đầu có phong trào phản kháng. Phong trào là một tập thể tự phát, có quần chúng tham gia. Khi đối diện với một phong trào, chế độ bèn tính lại về rủi ro và có thể vận động các thành phần ủng hộ chế độ tổ chức biểu tình chống phản kháng, hoặc ra tay đàn áp.


Trong trường hợp thứ nhất là biểu tình chống biểu tình, yếu tố thành bại vẫn là tổ chức, là nghệ thuật biểu tình và tranh thủ hậu thuẫn của đa số vẫn còn vô tư hoặc đứng ngoài vòng tranh chấp. Chính quyền thường có ưu thế trong cách phản ứng vì có tay chân và tổ chức, từ “mặt trận tổ quốc” đến nghiệp đoàn hay các “đoàn thể quần chúng” do chế độ lập ra và nuôi dưỡng.


Trong trường hợp đàn áp, chế độ truy tìm thành phần nhân sự có ảnh hưởng trong trào để vừa triệt hạ hoặc mua chuộc, vừa tấn công quần chúng biểu tình. “Cầm tặc cầm vương”, hoặc diệt trừ lãnh tụ phản kháng và xoa dịu quần chúng là những giải pháp cổ điển.


Vì thế, khi bị đàn áp, phong trào chỉ tồn tại với hai điều kiện là còn lãnh đạo và quần chúng. Việc đàn áp có thể dẫn đến hai kết quả trái ngược. Hoặc là gây ra sợ hãi khiến quần chúng biểu tình phải rút lui, hoặc gây căm phẫn khiến thành phần đa số còn thờ ơ đứng ngoài bèn bước vào vòng tranh chấp. Yếu tố thành bại ở đây là bảo toàn được lực lượng (từ lãnh đạo biểu tình đến quần chúng phản kháng) và thuyết phục được người khác tham gia hoặc từ bỏ phương tiện đàn áp. Thuyết phục được quân đội đừng bắn vào dân là điều cần thiết, thuyết phục được quân đội bảo vệ người dân mà chống lại công an võ trang mới là thành quả quyết định.


Và càng tiến dần đến chỗ đe dọa chế độ thì rủi ro bị tiêu diệt lại càng cao, bạo lực càng dữ dội.


 


Then chốt là thông điệp


 


Từ giai đoạn thai nghén đến khi dàn trận đối đầu, yếu tố quan trọng nhất chính là “thông điệp”.


Ðó là trình bày nguyện vọng của người phản kháng một cách mạch lạc, không mâu thuẫn trong đòi hỏi, mà phải có tác dụng rộng lớn cho nhiều thành phần và địa phương khác nhau. Trí thức thành phố mà biểu tình thì thông điệp thường trừu tượng và cao xa nên khó vận động quần chúng ở thôn quê, hoặc các thành phần xã hội khác cùng tham gia. Chúng ta có thể thấy ra điều ấy trong cuộc biểu tình tại Iran sau cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 6 năm 2009.


Yếu tố thứ hai đáng chú ý là thành phố dễ có báo chí quốc tế. Dân biểu tình thường nhắm vào đối tượng này nên trưng biểu ngữ bằng tiếng ngoại quốc để truyền bá thông điệp. Khi truyền thông bị đẩy ra ngoài hoặc không loan tải, chuyện phản kháng bị yếu thế, chẳng có tác dụng vào quần chúng ở nơi khác. Với thế giới, hình như là quốc gia đó đã hết phản kháng – là chuyện oan uổng.


Yếu tố thứ ba là tổ chức, hoặc kỹ thuật tổ chức để kiểm soát kỷ luật. Trong cảnh tối sáng của phản ứng tự phát, người biểu tình chỉ nghĩ đến mục tiêu của mình là bày tỏ sự bất mãn. Những ai tổ chức biểu tình thì phải nghĩ xa hơn vậy, là làm sao điều hướng sự phẫn nộ vào một điểm chính của thông điệp “vì sao chúng tôi biểu tình”.


Nhưng ngoài thành phần tham gia vì lý tưởng cũng còn nhiều người khác. Ðương khi hỗn loạn thì nhảy ra cướp bóc là cách suy tính của những kẻ bị gọi là thổ phỉ. Cũng nhân dịp hỗn loạn mà còn gây loạn nhiều hơn và có những hành động khiêu khích làm thông điệp bị hiểu sai. Du đãng côn đồ có thể phá vỡ biểu tình vì hành động đốt nhà để hôi của. Tay chân của chế độ cũng có thể hủy diệt chính nghĩa của thông điệp phản kháng qua hành động quá khích.


Vì vậy, tổ chức, thông điệp và kỷ luật trong hành động là những tiêu chuẩn thành bại then chốt.


 


Nghệ thuật gây ấn tượng


 


Khi khơi mào biểu tình và nhất là khi biểu tình để lật đổ một hệ thống chính trị, những người khởi xướng đều phải nhớ một chuyện nằm lòng là “gây ấn tượng để làm thay đổi cách suy nghĩ và phản ứng của người khác”. Chữ “ấn tượng” ở đây là cảm quan sâu đậm có thể vượt qua sự hãi sợ mà chi phối hành động.


Khởi đầu là một nhóm người thiểu số trong một cộng đồng đông đảo. Nhóm thiểu số này nhìn xa trông rộng và muốn cộng đồng ấy thay đổi để gây áp lực thay đổi trong hệ thống chính trị. Tạo ra sự thay đổi ấy bằng thế cô lực kém là khó khăn phổ biến và chỉ có thể thành công nếu gây ấn tượng đủ mạnh để những người khác sẽ vì quyền lợi của họ mà tham gia vào việc công ích.


Gây ấn tượng có thể là chuyện “lượng”. Ðó là số người tham gia biểu tình trong mục tiêu làm cho quần chúng thờ ơ thấy ngày càng có nhiều người bất mãn và phong trào biểu tình thật ra đông đảo hơn là những gì được truyền thông báo chí hay lời đồn của thiên hạ nói tới. Nghệ thuật biểu tình có khi là nghệ thuật nhiếp ảnh. Chụp hình thể nào để gây cảm giác là có rất nhiều người bất mãn và phản kháng.


Gây ấn tượng sâu xa hơn chính là chuyện “phẩm”.


Ðó là nội dung của thông điệp, mẫu số chung của nhiều thành phần khác biệt. “Còn một người thiếu tự do là toàn thể chúng ta chưa có tự do” là loại thông điệp phổ biến, được cô đọng thành khẩu hiệu dễ nghe dễ nhớ. Nếu lại tìm ra một vài hình ảnh về nạn nhân tiêu biểu, một bé gái, cụ già hay một thiếu nữ hiền lành tử tế mà tan thây mất mạng, hoặc bị đánh đập tàn tệ là loại ấn tượng có thể làm chế độ sụp đổ.


Nhưng, nghệ thuật “gây ấn tượng” này đòi hỏi một điều kiện then chốt: Phải có cử tọa, phải có người biết, tức là phải có tường thuật.


Trăm người tự thiêu trong rừng không có ảnh hưởng bằng một người ở giữa ngã tư đông dân. Ống kính của báo chí vì thế cũng là một phương tiện biểu tình và gây ấn tượng. Các chế độ độc tài đều kiểm soát được báo chí và gây ấn tượng ngược. Phong trào biểu tình phải vượt qua chướng ngại ấy mà không nên chỉ trông cậy vào truyền thông ngoại quốc.


Nghệ thuật gây ấn tượng cao cấp nhất là khả năng tổ chức ra biến cố và chuẩn bị trước sự tường thuật của truyền thông về biến cố đó. Mà phải làm sao để truyền thông không có cảm tưởng là họ bị sai khiến!


Hồ Sơ Người-Việt vừa trình bày một số khái niệm và phương thức có vẻ trừu tượng về hiện tượng biểu tình và phản kháng. Nhưng mục tiêu đó là gì?


Với người quan sát và tường thuật, mục tiêu là để ta ý thức được là có sự bất mãn, tuyệt vọng. Nhưng cách bày tỏ lại không đơn giản và thống nhất. Thí dụ như có phong trào dân chủ nổi dậy để lật đổ cường quyền ở nơi nào đó. Sự đời không đơn giản như vậy. Chuyện Egypt là thí dụ.


Với người lý tưởng có ước vọng thay đổi, mục tiêu là để nhắc nhở về chiến lược, chiến thuật, tổ chức và phát triển khả năng gây ấn tượng. Truyền thông không thể làm việc tuyên truyền và truyền thông càng tự do thì càng có khả năng phán đoán cao. Tranh thủ được truyền thông để người ta thấy rằng một chế độ xấu xa sẽ không thể tồn tại được là một điều cần thiết.

9021Pho to open at Glendale Galleria


Chef Kimmy Tang. Photo courtesy of www.9021pho.com


 


 


          GLENDALE, Calif. — Glendale Galleria will welcome new tenant 9021Pho, a Vietnamese-French fusion restaurant serving a new blend of cuisine with California flair. Inspired by renowned Chef Kimmy Tang, widely known as a pioneer in Asian fusion cuisine with more than three decades of culinary experience, 9021Pho offers a menu rich in vitamins and antioxidants paired with a balance of flavors. Using a diverse collection of herbs including lemongrass, mint, Vietnamese mint, cilantro and Thai basil leaves, Vietnamese dishes are considered both fresh and healthy meals.


 


 



Photo courtesy of www.lamag.com


 


 


          “Traditional Vietnamese cooking is known for its fresh ingredients and healthy eating style. Given how our country is shifting to healthier eating habits, 9021Pho fits perfectly into Glendale Galleria’s dining experience,” said Shoshana Puccia, marketing manager for Glendale Galleria.


          Scheduled to open in the fourth quarter of 2012, 9021Pho will be in the Galleria Front Entrance. A patio and a living garden wall are designed to give customers a relaxed atmosphere, where they can enjoy the menu, a selection of French and California wines, and Asian beers and saki.


 


 



Photo courtesy of www.lamag.com


 


 


          This will be the third 9021Pho location in Southern California, joining two others in Beverly Hills and Westlake Village.


          Appetizers range from Tang specialties like crab, shrimp and chicken crunchy rolls to vegan pot stickers and crab cakes. With prices ranging from $8.95 to $16.95, 9021Pho features low-carb, high-protein Pho meals, chicken, fish and vegan lunch specials and entrées highlighting a variety of popular chicken and vegan dishes.


          For more information about the Glendale Galleria, visit www.GGP.com.


 


 


 

Nhật triệu tập đại sứ Trung Quốc

 


TOKYO (AFP) – Chính phủ Nhật hôm Thứ Tư triệu đại sứ Trung Quốc ở Tokyo đến Bộ Ngoại Giao để bày tỏ sự không hài lòng sau khi có thêm rắc rối trong cuộc tranh chấp biển đảo giữa hai nước, với chính quyền Bắc Kinh cho rằng họ có “chủ quyền không chối cãi được” ở các hòn đảo không người ở này.


Vụ tranh chấp vừa bùng lên sau khi ba tàu tuần Trung Quốc tiến vào khu vực có các hòn đảo, cùng lúc ngoại trưởng Trung Quốc tuyên bố trong một cuộc họp ở Cambodia, có cả sự hiện diện của ngoại trưởng Nhật, rằng các đảo này là của Trung Quốc “từ thời xa xưa”.


Cuộc tranh chấp liên quan đến các hòn đảo trong vùng East China Sea, được phía Nhật gọi là Sensaku và phía Trung Quốc là Diaoyu, chỉ là một trong các tranh chấp biển đảo Bắc Kinh có với các quốc gia láng giềng.


Tuần Duyên Nhật cho hay tàu Trung Quốc tiến vào hải phận Nhật quanh các đảo này vào sáng sớm ngày Thứ Tư.


“Ðiều rõ ràng là trên phương diện lịch sử cũng như pháp lý, Sensaku là một phần lãnh thổ Nhật,” theo lời phát ngôn viên chính phủ Nhật, Osamu Fujimura, cho hay trong một cuộc họp báo.


Các tàu tuần Trung Quốc lúc đầu không chịu rời khỏi vùng biển quanh các đảo tranh chấp, yêu cầu phía Nhật “đừng can dự” và ngược lại “phải rời khỏi hải phận Trung Quốc”. Tuy nhiên sau đó các tàu này cũng rút đi.


Quần đảo Sensaku (Diaoyu) nằm ở nơi có nhiều cá và nghe nói cũng chứa quặng mỏ quý giá. Chính phủ Tokyo nói một gia đình Nhật đang làm chủ nơi này và dự định sẽ mua lại từ họ. (V.Giang)

Tối Cao Pháp Viện Ai Cập hủy lệnh triệu tập Quốc Hội

 


CAIRO (Reuters) – Quốc Hội Ai Cập, với đa số thuộc thành phần Hồi Giáo, tái nhóm hôm Thứ Ba, trong một hành động được coi là trực diện đối đầu với các tướng lãnh từng ra lệnh giải tán cơ chế này hồi tháng qua.



Hàng ngàn người Ai Cập tụ tập tại quảng trường Tahrir ngày 10 Tháng Bảy, 2012, ủng hộ tổng thống tân cử Mohamed Mursi. (Hình: AFP/GettyImages)


Tuy nhiên, Tối Cao Pháp Viện Ai Cập nhanh chóng ra phán quyết rằng tổng thống tân cử có hành động vi hiến khi tái triệu tập Quốc Hội, tạo thêm sự căng thẳng giữa vị tân nguyên thủ quốc gia và cơ chế quyền lực đã có từ thời nhà độc tài Hosni Mubarak.


Quốc Hội Ai Cập, với đa số đại biểu thuộc đảng Hồi Giáo Huynh Ðệ của Tổng Thống Mohamed Mursi cùng các đồng minh khác, bị Tòa Hiến Pháp Tối Cao ra phán quyết buộc phải giải tán hồi tháng qua, chỉ ít ngày trước khi có cuộc bầu cử đưa ông Mursi lên làm tổng thống. Ông Mursi, nhà lãnh đạo dân sự đầu tiên của Ai Cập từ 60 năm qua, ra lệnh tái triệu tập Quốc Hội hôm Chủ Nhật.


Nhiều nhóm cấp tiến trong Quốc Hội, ở thế thiểu số so với phía Hồi Giáo, tẩy chay cuộc họp ngày Thứ Ba, nói rằng sắc lệnh triệu tập phiên họp Quốc Hội của ông Mursi là sự vi phạm vào quyền hạn của ngành Tư Pháp.


Sự chuyển tiếp đầy khó khăn sang thể chế dân chủ ở Ai Cập đang gây ra nhiều kiện tụng, nhưng điều này che giấu mối tranh chấp sâu xa hơn với thành phần quân đội đã nắm quyền cai trị quốc gia này từ sáu thập niên, với một nửa thời gian là dưới chế độ Mubarak.


Phía Hồi Giáo đang tìm cách đẩy tướng lãnh ra khỏi chính trường và thanh lọc hàng ngũ lãnh đạo trong nước, từ trung ương đến địa phương, hiện vẫn còn sự hiện diện của nhiều giới chức thời Mubarak. (V.Giang)

Mỹ bổ nhiệm đại sứ tại Myanmar

 


NAYPYIDAW (AFP) – Ðại sứ đầu tiên của Mỹ tại Myanmar từ hơn hai thập niên qua đã đến thủ đô Naypyidaw để trình ủy nhiệm thư hôm Thứ Tư, trong lúc Washington giảm thêm các biện pháp trừng phạt kinh tế và ngoại giao để đáp ứng với nỗ lực cải cách của Myanmar.



Ðại sứ đầu tiên của Mỹ tại Myanmar từ hơn 20 năm qua, Derek Mitchell (trái) và tổng thống Myanmar, Thein Sein, tại dinh tổng thống, ngày 11 Tháng Bảy, 2012. (Hình: STR/AFP/GettyImages)


Ông Derek Mitchell, một chuyên gia nhiều kinh nghiệm về Á Châu của chính phủ Mỹ, được Tổng Thống Thein Sein đón tiếp tại thủ đô, theo lời một giới chức cao cấp chính quyền Myanmar, đánh dấu thái độ hòa hoãn của Mỹ giữa lúc mối giao hảo giữa hai nước ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.


Ông Mitchell được Tổng Thống Barack Obama đề cử để tiến hành chính sách mở rộng hợp tác ngoại giao với Myanmar trong lúc quốc gia này đang dần ra khỏi ảnh hưởng của chế độ quân sự độc tài trước đây.


Washington tuần này cho hay sẽ có thêm biện pháp nhằm giảm bớt trừng phạt Myanmar, tiếp theo việc nới lỏng cấm vận kinh tế và tài chánh sau khi bà Aung San Suu Kyi đắc cử Quốc Hội hồi Tháng Tư.


Một giới chức ngoại giao Mỹ khi tường thuật với báo chí về chuyến công du Á Châu hiện nay của Ngoại Trưởng Clinton, nói rằng bà sẽ loan báo thêm về việc này. (V.Giang)

Graves for the unborn


Photo by Diane Macdonald, Getty Images


 


 


From WIRE REPORTS 


            The grieving mother visits the grave of her babies almost every day.


            She burns incense, makes food offerings, beseeches them to forgive her.


            “I am so sorry. I am such a coward who has aborted two lives. I only hope that you understand that a 16-year-old girl would never be able to give birth and raise both of you. Your dad abandoned me when I was pregnant.”


            The teenage mother mourning the death of aborted twin fetuses posts these messages on an online grave (www.nhomai.vnnho mai means remembered forever) that she visits after finishing her high school classes.


            Website founder Nguyen Anh Tu says he launched the cyber site in 2008 to offer people who did not have the time or opportunity to visit real graves the opportunity to express their feelings for deceased relatives and friends. The free service provides members with more than 100 gravestone samples and also allows them to create their own.


            The online grave has different sections, and the children’s section, including those set up by women for aborted fetuses, is the most crowded place.


            The large number of graves in the online cemetery as well as an increase in the number of real graves for aborted fetuses is worrying authorities and experts who say there has been an alarmingly high number of abortions among the country’s youth of late.


            It shows that efforts to educate the youth about safe sex as well as the dangers of having many abortions have not succeeded, they say.


            According to the Sai Gon Health Department, the number of abortions equals 76 percent of the number of births, which means for every five babies born in the city, four fetuses are being aborted.


            Figures from the three main pediatric hospitals in the city show that 2 percent of the abortion procedures are performed for girls less than 16 years old. Most are performed for women between 16 and 49 years of age.


            According to the Health Ministry, each year, around 300,000 abortions are carried out for women between 15 and 19 years old, and an average of one woman dies per week because of unsafe abortions.


            At a recent online conference, Nguyen Thi Hoai Duc, head of Ministry of Health’s Reproductive Health and Family Institute, said that Viet Nam “topped the list of countries with the largest number of abortions” and that “abortions among the country’s unmarried teenagers was much higher than many other countries near the top of the list.”


            In Viet Nam, 41 percent of maternal deaths are caused by hemorrhages, with convulsions accounting for 21.3 percent of deaths, infections for 16.6 percent and unsafe abortions for 11.5 percent, according to the Health Ministry.


 


Confession chamber


            The online cemetery has so far attracted more than 56,500 members and attracts thousands of visitors at a time.


            The cemetery has sections for war martyrs, artists, children, orphans, foreigners, victims of accidents and natural disasters, different religions, pets and even virtual people, such as game characters.


            Many members who set up online graves admit that they are teenage students who visit the site frequently to “burn incense” for their aborted babies. Currently, there are more than 1,000 graves in the children’s section.


            Some give a name for the unborn and others use their family name, listing “no name” as the first name.


            A mother using the nickname Kimnen said she had chosen the moniker because it means “repressed”. She said she has been repressing her feelings of guilt and sorrow for having aborted three fetuses of between 3 and 7 weeks old. She gave the fetuses names: Ly, Sun and Tu Ti.


            “I am sorry for a thousand times. I was too young then… I have repented for it thousands of times and am doing good things to pray for you,” she wrote in an entry.


            A couple in Da Nang set up a grave for five aborted fetuses between 5 and 12 weeks old between 2005 and 2006 with an epitaph reading: “Rest in peace! So sorry because Dad and Mom were not ready to welcome you.”


            One young mother wrote that she prays for her aborted fetuses every day. She said “her babies still love me” because she became pregnant again after marriage.


            Hoang, an administrator of the website, said the website’s server gets overloaded very often, especially when it is reported on the media. Many of the visitors are teenagers who set up virtual graves for their aborted fetuses.


 


Real graves


            In tandem with the rising number of graves for aborted fetuses, the number of real graves is also increasing.


            Recently, the VietNamNet news website carried a report about residents of Doi Coc Village in Ha Noi’s outskirt district of Soc Son collecting aborted babies and burying them at the local cemetery.


            Nguyen Van Thao, the village head, they began doing this in 2000 when a villager found an abandoned dead infant on the roadside and buried it in the local cemetery.


            Since then, more and more abandoned dead infants and fetuses have been left behind in the village and the locals have buried them. The villagers then set up a team to collect such aborted fetuses and dead infants from other villages and hospitals for burial.


            “We want their little souls to rest in peace. No one advised us to do so, we only do it because we believe it is a good deed,” Thao said.


            Currently, there are more than 50,000 such graves in the village.


            Nguyen Thi Lam, one of the team members, said that of late, they have been burying an average of 200 fetuses and dead infants per week.


 


Easy redemption?


            Experts say that abortions have a major psychological impact on women. Guilty about their act, they get easily stressed out or depressed.


            Nguyen Thi Ngoc Giau, a psychologist at the Hon Viet Applied Psychology Center, said many teens setting up graves in the online cemetery showed that they are well aware that what they did was wrong, and are using the online grave to seek redemption.


            However, she said, feeling guilty and correcting themselves are two different things. Setting up a virtual grave does not work if it is not accompanied by corrective actions, she added.


            “It is not a positive way to relieve their guilt. It’s a way to indulge in unethical behavior,” she told Vietweek.


            “Some mothers set up virtual graves just to express their anger against their partners. Besides, after receiving sympathy from other members, they might not feel the pressure to change their behavior in real life.


            Doctors are not being spared by the increasing number of abortions.


            Whether they perform it for unmarried teens or for those wanting to have sons and choosing to abort female fetuses, doctors are suffering psychological trauma themselves.


            Nguyen Thi Hong Minh, director of the Central Obstetrics and Gynecology Hospital in Ha Noi, said she is having to confront her “worst fears, having to abort unborn fetuses that are 20 to 22 weeks old, when their bodies are fully formed.”


            Under Vietnamese law, there is no cutoff limit for abortions as long as they are performed in public hospitals. Private hospitals are not allowed to perform abortions of fetuses more than 6 weeks old.


            “I always feel a sharp pain along my back when I have to treat those unlucky babies,” Minh said as she described the abortion procedure where “the nutrition between the mother and baby is cut and the fetus dies in the womb in most cases.”


            “But some fetuses are delivered so quickly and they manage to take a breath before they’re gone. There’s no way to save them as they weigh only 400 grams (less than a pound) or so,” she said, adding that her hospital does more than 40 abortions every day, many of them for students and teenagers.


            Minh admitted that she and many others like her seek consolation after performing abortions by “visiting pagodas frequently, trying to find some peace.”


            “The psychological trauma faced by doctors could emerge as an important issue in the country, given the rapidly increasing number of people seeking to have abortions,” she said.


 


 

Hạn hán ở Mỹ, giá thực phẩm tăng

 


WASHINGTON (McClatchy) – Tình trạng hạn hán trầm trọng ở vùng nông nghiệp Trung Tây nước Mỹ có thể dẫn đến tình trạng lạm phát giá thực phẩm vì giá bắp tăng vọt và giá thực phẩm gia súc cũng tăng. Các chuyên gia kinh tế cảnh cáo rằng điều này có thể làm giá mọi loại thức ăn khác lên cao, từ bánh hamburger cho đến sữa, trong vài tháng tới đây.



Steve Niedbalski cho thấy trái bắp của nông trại. Vùng trung tây Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng nặng của cơn nóng kỷ lục trong 25 năm qua. (Hình: AP Photo/Seth Perlman)


“Giới nông gia sẽ phải chi thêm tiền cho thực phẩm gia súc. Chúng ta chắc chắn sẽ thấy giá thực phẩm tăng lên,” theo lời Phil Flynn, một chuyên gia mua bán trên thị trường nông phẩm Chicago. “Tôi nghĩ chúng ta đang ở vào giai đoạn quyết định. Ðây là một trong những tuần lễ quan trọng nhất (cho mùa màng) và chúng ta không có đủ lượng mưa cần phải có.”


Các nông gia sử dụng bắp để nuôi gia súc sẽ là những người bị ảnh hưởng đầu tiên.


“Chúng ta sẽ gặp phải tình trạng leo thang chi phí nuôi bò, heo, gà vì mức thu hoạch đậu nành và bắp sẽ bị ảnh hưởng năm nay,” theo lời Michael Miller, phó chủ tịch đặc trách nghiên cứu, cho hiệp hội các chủ trang trại nuôi bò (NCBA) ở Denver, cho hay giá bán bắp nuôi gia súc đã tăng đến 50% tuần này.


Cơ Quan Nông Nghiệp Mỹ (USDA) cho hay hiện khoảng 60% diện tích trồng bắp ở Mỹ đang gặp phải tình trạng hạn hán từ vừa cho đến trầm trọng. (V.Giang)

Tình báo Mỹ bị tố thu thập tin tức sai trái

 


WASHINGTON (McClatchy) – Một trong những cơ quan tình báo tối mật của Mỹ, Sở Trinh Sát Quốc Gia (National Reconnaissance Office – NRO), bị tố cáo là thúc đẩy các chuyên viên sử dụng máy dò sự thật của họ phải tìm cách thu thập các chi tiết riêng tư nhất về hàng ngàn người nộp đơn xin việc cũng như của các nhân viên, có thể đi quá ranh giới cho phép của đạo đức và luật pháp trong chương trình được đề ra để phát giác gián điệp và khủng bố.


Cơ quan NRO quá mong muốn có được những chi tiết riêng tư trong đời sống các cá nhân này đến nỗi cấp chỉ huy la rầy những chuyên viên sử dụng máy dò sự thật không chịu hỏi đến những lãnh vực đó và tặng thưởng, đôi khi bằng tiền mặt, những người làm điều này.


Những điều được hỏi liên hệ đến đời sống riêng tư gồm cả việc sử dụng ma túy, lạm dụng tính dục trẻ nhỏ, các ý định tự tử, trầm cảm và các ý thích tính dục bị coi là khác thường.


Cơ quan NRO có nhiệm vụ điều hành các vệ tinh do thám của Mỹ, ghi lại kết quả của các cuộc thẩm vấn dò sự thật này để cấp giấy phép cho sử dụng các tài liệu mật và đưa vào nơi lưu trữ dữ kiện chung.


Nhưng cho dù ghi lại hết những điều bí mật riêng tư, khi có người khai ra về những tội bị coi là trầm trọng như lạm dụng tính dục trẻ nhỏ, họ vẫn không bị bắt hay truy tố.


“Chúng ta phải thắc mắc là hỏi những vấn đề này để làm gì nếu không truy tố những người khai là từng có hành động lạm dụng tính dục trẻ nhỏ,” theo lời Mark Phillips, một chuyên gia máy dò sự thật nhiều năm kinh nghiệm. Ông Phillips từ chức hồi Tháng Năm vừa qua, nói rằng ông bị trừng phạt vì không chịu hỏi những câu hỏi được coi là quá cá nhân. (V.Giang)

Mitt Romney bị la ó khi nói sẽ hủy bỏ Obamacare

 


HOUSTON – Ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa Mitt Romney hôm Thứ Tư đến nói chuyện tại đại hội NAACP họp tại Houston. Trong bài nói chuyện tranh cử, ông được vỗ tay tán thưởng ở một số điểm nhưng khi nói rằng sẽ thu hồi đạo luật cải tổ y tế mà ông gọi là Obamacare thì hầu hết cử tọa đều ồ lên la ó.



Ứng cử viên tổng thống Mitt Romney bắt tay ông Robert Lydia, chủ tịch hội đồng quản trị NAACP trước buổi nói chuyện tại đại hội ở Houston hôm Thứ Tư. (Hình: Eric Kayne/Getty Images)


Ông nói: “Tôi sẽ hủy bỏ mọi chương trình không thiết yếu, tốn kém, như là Obamacare” và hứa hẹn sẽ thay thế bằng một luật khác ít tốn kém hơn, trả tiền nhẹ hơn, đồng thời cũng hứa hẹn gia tăng tài trợ cho quỹ an sinh xã hội và chương trình Medicare. Ông cho rằng tỷ lệ thất nghiệp 14% ở dân da đen là tình trạng không công bằng so với những sắc dân khác.


NCAA (Hiệp Hội Thăng Tiến Người Da Màu) là tổ chức dân quyền lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, tranh đấu cho dân da đen và có truyền thống ủng hộ các ứng cử viên Dân Chủ. Tổng Thống Bush chỉ đến đọc diễn văn tại đại hội NAACP một lần năm 2000 khi tranh cử, 5 năm liền sau đó ông không tới nữa.


Tổng Thống Obama năm nay không đến đại hội và Phó Tổng Thống Joe Biden sẽ nói chuyện tại đại hội ngày Thứ Năm. (H.C.)

Hạ Viện lại biểu quyết đòi thu hồi luật cải tổ y tế

 


WASHINGTON (AP) – Bằng một hành động được coi là chỉ có giá trị tượng trưng, Hạ Viện do đảng Cộng Hòa nắm đa số hôm Thứ Tư biểu quyết đòi thu hồi đạo luật cải tổ y tế do Tổng Thống Obama ký ban hành năm 2010 và sau khi Tối Cao Pháp Viện đã phán định là hợp hiến.



Trưởng khối đa số Cộng Hòa Hạ Viện, Dân Biểu Eric Cantor, tiểu bang Virginia, trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba tại trụ sở Quốc Hội, nói về vấn đề gia hạn giảm thuế cho giới trung lưu và thu hồi đạo luật cải tổ y tế. (Hình: Alex Wong/Getty Images)


Ðã hơn 30 lần Hạ Viện biểu quyết sửa đổi, cắt bỏ hay thu hồi đạo luật cải tổ y tế nhưng cuối cùng đều không đi tới đâu vì Thượng Viện do đảng Dân Chủ nắm đa số chắc chắn sẽ chặn đứng quyết định.


Tuy vậy lần này vấn đề có một ý nghĩa khác, đó là dấu hiệu cho thấy Hạ Viện Cộng Hòa sẽ ngăn chặn luật giảm thuế cho giới trung lưu nếu không tiếp tục giảm thuế cho người giàu.


Sau khi Tối Cao Pháp Viện phán quyết tiền phạt những người không có bảo hiểm y tế được coi như là thuế, phía Cộng Hòa đưa ra lập luận rằng như vậy sẽ có 20 triệu dân Mỹ phải đóng thêm thuế.


Những người Dân Chủ phàn nàn là Cộng Hòa khăng khăng đòi thu hồi luật cải tổ y tế mà không có gì khác để đưa ra. (H.C.)

Ohio: Tàu lửa nhiên liệu trật đường rầy, cháy lớn

 


COLUMBUS, Ohio (AP) – Ðoàn tàu lửa chở nhiên liệu ethanol bị trật đường rầy, nổ tung và cháy dữ dội, khiến dân cư ở gần đó phải di tản khẩn cấp. Không ai bị thương.



Ba toa tàu chở nhiên liệu ethanol cháy rụi trong tai nạn đoàn tàu dài 98 toa bị trật đường rầy ở gần Columbus, Ohio, sáng Thứ Tư. (Hình: AP video)


Cơ Quan An Toàn Giao Thông NTSB cử 10 nhân viên đến điều tra nguyên nhân khiến tàu bị trật đường rầy. Ba toa tàu, mỗi toa chở 30,000 ga lông ethanol bị thiêu hủy.


Tai nạn xảy ra lúc 2 giờ sáng trong một khu vực kỹ nghệ gần xa lộ Interstate 71, nằm về hướng Bắc trung tâm thủ phủ Columbus. Sức nổ có thể cảm nhận được ở cách đó nhiều khu phố và lửa bắn vọt cao lên không. Lính cứu hỏa quyết định để mặc cho lửa cháy đến khi tàn rụi. Họ nói rằng ethanol không gây hại cho môi trường hay sức khỏe.


Dave Pidgeon, phát ngôn viên của Norfolk Southern cho biết, đoàn tàu chở hàng gồm 98 toa, di chuyển từ Chicago đến Linwood, North Carolina, trong đó 16 toa bị lật.


Hội Hỏa Xa Hoa Kỳ, AAR, cho hay, tai nạn xảy ra đối với tàu lửa chở hàng là hiếm hoi. Mỗi năm có khoảng 29.4 triệu toa chở hàng được đưa đi trên 140,000 dặm đường rầy ở khắp Hoa Kỳ, trong đó 1.8 triệu toa chở chất liệu độc hại đủ loại, và ethanol chiếm khoảng 325,000 toa. Năm ngoái được xem là năm an toàn nhất của ngành hỏa xa Hoa Kỳ. (T.P.)

Nga lập tường lửa Internet kiểu Trung Quốc

 


MOSCOW – Hôm 10 Tháng Bảy, trang mạng Wikipedia tiếng Nga chào đón hằng triệu người sử dụng Internet với những trang để trống và kèm theo một dòng chữ hỏi họ “hãy tưởng tượng một thế giới không có tự do kiến thức”. Ðây là hình thức của một ngày phản kháng của trang mạng về sự kiện các nhà lãnh đạo Nga đang xúc tiến việc tạo một “tường lửa”, kiểu Trung Quốc, để hạn chế người sử dụng Internet những gì không được thấy hay được đọc, theo tường thuật của Bloomberg.



Minh họa về khái niệm của “tường lửa”. Nga đang xúc tiến việc thiết lập tường lửa kiểu Trung Quốc để chận bớt sự tiếp cận của cư dân mạng. (Hình: Wikipedia/Bruno Pedrozo)


Ngày hôm sau, hạ viện Nga thông qua một dự luật nhằm bảo vệ trẻ em khỏi tiếp cận những thông tin có thể “có hại cho sức khỏe và sự phát triển của các em,” qua việc cho phép kiểm duyệt rộng rãi Internet.


Hạ Viện lập ra một danh sách chính thức gồm các trang mạng có chứa đựng những thông tin bị cấm, gồm ấu dâm, “tuyên truyền sử dụng ma túy,” thông tin “có thể khiến cho trẻ con noi theo, làm hại đến đời sống và sức khỏe” hay “bất kỳ thông tin nào bị cấm theo quyết định của các tòa án,” mà các cơ quan này lại đều trung thành với Ðiện Kremlin.


Development of Civil Society and Human Rights, một cơ quan của riêng Tổng Thống Vladimir Putin nhưng đang ngày mỗi có khuynh hướng cấp tiến hơn, bác bỏ dự luật khi nói: “Nhiều nguồn Internet với nội dung hợp pháp có thể là nạn nhân của những vụ phong tỏa ồ ạt.”


Viết trên trang mạng Chaskor, Andrei Kolesnikov, trưởng ủy ban điều hợp vùng miền “.ru,” phát biểu rằng, biện pháp hạn chế này sẽ gây tai hại cho cấp lãnh đạo hiện thời hơn là cho người sử dụng Internet. Hệ thống tường lửa kiểu Trung Quốc “chỉ có thể hiện hữu trong khuôn khổ môi trường văn hóa và tập quán của nước đó mà thôi. Tại đây, nếu làm thế chỉ gây hại cho thanh danh của nước Nga”. (T.P.)

Những chặng đường của Tạp chí Văn Học

 


Hoàng Khởi Phong (viết nhân cái chết của Nguyễn Mộng Giác)


 


Gửi hương hồn Cao Xuân Huy và Nguyễn Mộng Giác


 


Khi tôi viết những dòng chữ này, thì ở Nam California gia đình và thân hữu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác đang tiến hành những nghi thức cuối, tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Trước đây gần hai năm cũng tại địa điểm này, cũng những thân hữu này, đã tiễn đưa nhà văn Cao Xuân Huy trong chuyến đi chót cùng của đời anh. Nguyễn Mộng Giác là chủ nhiệm kiêm chủ bút đầu tiên và Cao Xuân Huy là chủ nhiệm kiêm chủ bút cuối cùng của tạp chí Văn Học, một nguyệt san văn chương, xuất hiện ở hải ngoại từ năm 1985 cho tới 2008, khi Cao Xuân Huy lâm vào căn bệnh hiểm nghèo và không thể cáng đáng nổi việc điều hành tờ báo. Nói như thế có nghĩa là tờ Văn Học đã không còn hiện diện trong cõi đời này vài năm, trước khi những người chủ trương quan trọng nhất của tờ báo vĩnh viễn nằm xuống.


Ðể viết về Văn Học, tôi phải nhắc tới một tờ báo khác với một cái tên dài hơn là Văn Học Nghệ Thuật, và cũng phải nhắc tới căn nhà đầu tiên tôi mua vào năm 1983, trên đường Dapplegrey, thành phố Garden Grove. Ðó là một căn nhà 4 phòng ngủ, và đàng sau có một cover patio rất rộng. Khi mua căn nhà này gia đình tôi chỉ có hai bố con tôi và hai người cháu trai. Tôi không thể hình dung được nửa năm sau, vợ chồng con cái Cao Xuân Huy từ một thành phố ở phía Bắc Cali dọn xuống miền Nam.


Huy và tôi vốn là hai anh em họ “Hồng Bàng”, đã biết nhau từ khi Huy học trung học, và ngay cả sau này khi đã vào quân đội, Huy đã từng ăn dầm nằm dề ở nhà tôi. Năm 1971 ở Pleiku, Huy đi phù rể với nhiệm vụ chụp hình cho đám cưới của tôi, nhưng rút cục tôi không có một tấm ảnh nào trong ngày cưới. Chẳng những thế tôi còn mất cả chiếc máy ảnh đi mượn, bởi vì anh còn mải uống rượu với những người bạn thân của anh và tôi từ Sài Gòn lên.


Do đó đầu năm 1984 khi anh dọn xuống Nam Cali, nhà tôi tất nhiên là nơi trú ngụ ban đầu cho vợ chồng con cái anh. Chỉ vài tháng sau khi Cao Xuân Huy đổ bộ từ phía Bắc xuống, tới phiên bố con Nguyễn Mộng Giác thiên đô từ Texas qua.


Tôi và Nguyễn Mộng Giác vốn là bạn văn từ những năm đầu thập niên 70, nên khi anh dọn qua Nam Cali, nhà tôi chính là nơi anh sẽ tạm trú trong lúc chân ướt chân ráo mới đến. Rút cục căn nhà đó có một thời gần giống như một trại tị nạn, với số người lớn nhỏ cả thẩy 16 người, và được phân phối như sau: Hai bố con tôi một phòng, bố con Nguyễn Mộng Giác một phòng, vợ chồng Cao Xuân Huy một phòng, hai người cháu tôi một phòng. Còn tất cả những cậu con trai bị dồn hết vào trong cái patio được làm thành một phòng ngủ tập thể. Trong thời gian này điều phiền nhiễu nhất cho chúng tôi chính là chỗ đậu xe, bởi vì vỉa hè trước cửa nhà tôi nhiều lắm chỉ có thể chứa được bốn chiếc xe, kể cả driveway, trong khi những người trong nhà có tới bẩy chiếc xe, đó là chưa kể tới khách khứa văn nghệ của Giác và tôi, cùng với khách nhà binh của Cao Xuân Huy nườm nượp ra vào. Nhất là những dịp cuối tuần, chúng tôi làm phiền hai bên hàng xóm hầu như suốt từ chiều Thứ Sáu cho tới khuya Chủ Nhật. Thời gian này Cao Xuân Huy chưa chính thức viết, tuy nhiên anh đang ngấm ngầm viết những dòng đầu của cuốn hồi ký làm nên tên tuổi nhà văn Cao Xuân Huy sau này, đó là cuốn “Tháng Ba Gẫy Súng”.


Tháng Ba năm 1985, nhà văn Nguyễn Bá Trạc từ San Jose xuống thăm chúng tôi, anh mang xuống miền Nam một không khí sôi nổi như con người anh. Trong lúc ngồi quán cà phê với tôi và Nguyễn Mộng Giác, cùng quan sát cộng đồng biểu tình với rừng cờ quạt biểu ngữ, Nguyễn Bá Trạc nói với chúng tôi có lẽ bọn mình nên làm một cái gì đó, một tờ báo chẳng hạn. Nguyễn Bá Trạc đã từng một mình chủ trương tờ Thời Luận ở trên San Jose, đây là tờ báo sớm nhất trong vùng Bắc Cali từ năm 79, nhưng không thể trụ nổi vì thời gian đó việc buôn bán của người Việt trên San Jose chưa mấy phát đạt, mà tờ Thời Luận là một tờ báo tựa vào quảng cáo nên không thể tồn tại. Do đó tôi trả lời Nguyễn Bá Trạc là tôi không mặn vụ làm báo quảng cáo. Tối đó tại nhà tôi ngoài các gia chủ Nguyễn Mộng Giác, Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong còn có thêm Nguyễn Bá Trạc cùng hai thân hữu nữa, chúng tôi bàn thô về một tờ báo văn học thuần túy.


Sau khi Nguyễn Bá Trạc quay trở lại San Jose, Nguyễn Mộng Giác và tôi càng ngày cang nung nấu ý nghĩ về tờ báo thần túy văn học này. Trước đó hai năm tờ báo văn chương thuần túy là tờ Văn Học Nghệ Thuật do hai nhà văn Võ Phiến và Lê Tất Ðiều chủ trương sống lây lất chưa đầy mười số thì phải đình bản, và hiện nay trên thị trường chữ nghĩa của người Việt hải ngoại còn duy nhất một tờ Văn, do nhà văn Mai Thảo chủ trương.


Lần họp thứ hai cũng ở nhà tôi, có nhiều anh em văn nghệ hơn, nhưng tựu trung có hai ý kiến: Một là tìm cách quy tụ hết tất cả những cây viết thành danh, bầy hàng tất cả những người hiện đang sống bên ngoài đất nước trên trang bìa tờ báo. Ý kiến thứ hai dường như thiểu số tuyệt đối, vì chỉ có mình tôi cho là không cần các tên tuổi lớn, chỉ cần trong vài số đầu chứng tỏ cho độc giả thấy đây là một tờ báo văn học thuần túy. Ban đầu với những cây viết mới có thể không gây được tiếng vang, nhưng đó là tờ báo, mà những người chủ trương trân trọng từng bài thơ, từng mẩu chuyện. Tôi chủ trương tin vào chính mình, viết cho tới không sớm thì muộn độc giả cũng mở vòng tay đón nhận tờ báo.


Rút cục tờ báo xuất hiện với sự tham dự của khá nhiều cây bút đã thành danh ở trong nước. Với sự hiện diện của nhà văn Võ Phiến ở vị trí chủ nhiệm, tờ báo là sự tiếp nối, hay khác đi là sự tục bản tờ Văn Học Nghệ Thuật, và hầu như tất cả mọi thành viên đều cho là với cái tên này, ít nhất tờ báo không mang vẻ cạnh tranh với tờ Văn của nhà văn Mai Thảo. Vị trí chủ bút do nhà văn Lê Tất Ðiều đảm nhiệm, và Nguyễn Mộng Giác là tổng thư ký. Ðó là bộ ba thực sự điều hành tờ báo, phần tôi là chủ nhiệm trên phương diện pháp lý, nghĩa là có bổn phận hàng năm khai thuế. Ngoài ra nhà văn Nhật Tiến tuy không giữ một chức vụ nào, nhưng nhà anh là nơi mỗi tháng nhóm chủ trương họp một lần, ăn với nhau một bữa cơm, nhận báo mới, và đồng thời chọn chủ đề, phân chia bài vở cho số sắp tới. Sở dĩ chọn nhà anh Nhật Tiến vì ông chủ nhiệm Võ Phiến ở hướng Bắc tại Los Angeles, chủ bút Lê Tất Ðiều ở phía Nam tại San Diego, nhà tôi thì đang là trại tị nạn, và nhất là chị Phương Khanh với các cháu gái con anh chị Nhật Tiến sẽ đãi nhóm chủ trương một bữa ăn đích đáng.


Chỉ sau vài số báo, Văn Học Nghệ Thuật được các cây bút hải ngoại tới tấp gửi bài tham dự, cũng như sự trợ giúp tài chánh của những người coi văn chương như là một ăn tinh thần. Khoa học gia Trương Vũ, là một thí dụ điển hình. Trương Vũ là người của khoa học, ông làm việc tại NASA, nhưng đã có những đóng góp đáng kể cho văn học Việt Nam ở hải ngoại. Năm 1995, hai mươi năm sau khi chiến tranh tàn, nhà xuất bản Cub Stone ở tiểu bang Massasschusset dự định ấn hành một tuyển tập văn học về hậu chiến Việt Nam, quy tụ nhà văn của Việt Nam ở trong nước và nhà văn Mỹ. Chính nhờ sự đóng góp của Trương Vũ trong thành phần chủ biên, khi tuyển tập “The Other Side of Haven” ra đời, nó có thêm tiếng nói của tám cây bút Việt Nam ở hải ngoại, cùng xuất hiện với mười hai cây bút Việt Nam ở trong nước và mười tám cây bút Hoa Kỳ. Nói tóm lại sau khi chiến tranh tàn được hai chục năm, đây là một tác phẩm quy tụ nhà văn của ba phe tham chiến, đã từng tận lực bắn giết nhau ngoài mặt trận. Không riêng gì Văn Học nhận được sự trợ giúp hết lòng của Trương Vũ, sau này khi tờ Hợp Lưu ra đời, anh cũng là một người lúc nào cũng mở hầu bao cứu cấp, mỗi khi hai tờ Văn Học và Hợp Lưu gặp phải những cơn khủng hoảng tài chánh.


Tròn một tuổi do những hoàn cảnh cá nhân, lại xa xôi cách trở nhà văn Võ Phiến và Lê Tất Ðiều rút ra khỏi ban chủ biên, tờ Văn Học Nghệ Thuật đối diện với lần lột xác đầu tiên, trở về với cái tên dự định ban đầu là Văn Học. Trong lần cải tổ này Nguyễn Mộng Giác ở vị trí chủ nhiệm kiêm chủ bút, tôi đảm nhiệm phần vụ cũ của Nguyễn Mộng Giác, nghĩa là tổng thư ký cho tờ báo.


Về công việc thì Nguyễn Mộng Giác vẫn gánh vác nhiều hơn cả, vì anh đang “viết thuê” cho một tờ báo chuyên về quảng cáo, nên có nhiều điều kiện lo cho tờ Văn Học hơn tôi. Thời gian này tôi vẫn là một người làm thợ tiện ca ba, nghĩa là đi làm từ 11 giờ đêm tới 6 giờ sáng, mỗi khi về tới nhà tôi lăn quay ra ngủ tới một, hai giờ chiều mới trở dậy, đi lấy thư với hy vọng có thêm nhiều độc giả dài hạn, có thêm tiền để lo trả nợ nhà in, mua thêm tem để gửi báo. Và rồi mỗi tháng một, đôi lần tôi và Cao Xuân Huy ôm một đống báo ra bưu điện. Tôi cũng có nhiệm vụ trả lời thư tín của thân hữu và bạn đọc. Riêng về Cao Xuân Huy, anh không còn là một người lính thuần túy như trước kia, lòng tiếc thương đồng đội cũ, càng ngày càng dìm anh lún sâu vào con đường chữ nghĩa. Ðêm đêm khi tôi lên đường kiếm ăn trong xưởng tiện, thì ánh đèn trong phòng riêng của vợ chồng, con cái anh vẫn còn le lói, và tôi biết anh đang ráo riết hoàn thành những trang cuối của cuốn hồi ký viết về sự sụp đổ của miền Trung và nỗi uất hận của những người lính một đời thiện chiến, giờ đây ngơ ngác trước những mệnh lệnh chết người.


Năm 1987, để sửa soạn đón gia đình qua đoàn tụ, Nguyễn Mộng Giác thuê một căn chung cư ở Tustin. Anh cũng đón ông Võ Thắng Tiết từ Alaska về chung sống. Tưởng cũng nên nhắc lại ông Võ Thắng Tiết chính là tu sĩ Từ Mẫn, giám đốc nhà xuất bản Lá Bối trước kia. Sau năm 75 dù không muốn ông cũng phải trở về đời sống bình thường. Năm 1980 ông vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình nhà văn Nhật Tiến. Khi đến Mỹ ông chọn nghề làm cua ở Alaska trong ba, bốn năm liền, rồi tích lũy vốn liếng trở về Cali dựng nhà xuất bản Văn Nghệ. Giờ đây sau hơn ba chục năm sống rải rác khắp năm châu, giả như người Việt có một dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại, thì phải nói ông Võ Thắng Tiết là một trong những người có công đầu. Bởi lẽ nếu không có bệ phóng của nhà xuất bản Văn Nghệ, thì có thể giờ đây rất nhiều tác gả ở hải ngoại vẫn còn chìm trong bóng tối. Gần hai chục năm sau khi hoàn cảnh buộc phải ngưng hoạt động, nhà xuất bản Văn Nghệ còn tồn lại một kho sách, với mấy trăm đầu sách văn chương và biên khảo. Ông Võ Thắng Tiết cũng xuất bản những cuốn sách vì nhu cầu giải trí, thị hiếu của độc giả, và đồng thời cũng là một nguồn thu không nhỏ để nuôi sống những cuốn sách văn học. Nhưng những đầu sách này được in dưới nhãn của nhà xuất bản Ðồng Văn, không phải Văn Nghệ.


Năm 1988 vợ và con gái út của Nguyễn Mộng Giác được đoàn tụ, để được toàn tâm toàn trí lo cho gia đình sum họp, Nguyễn Mộng Giác có ý định rút lui ra khỏi ban chủ biên. Ðây là một biến cố lớn của tờ Văn Học, đến độ Trương Vũ từ DC phải đích thân bay về Cali, với ý định thuyết phục Nguyễn Mộng Giác vẫn để tên trong ban chủ biên, còn công việc điều hành thật sự do Cao Xuân Huy và tôi sẽ làm thay. Nhưng anh Giác quyết liệt rút ra, và đề nghị tôi thay thế cho anh Giác. Ban đầu tôi định từ chối, vì nghĩ mình không đủ uy tín. Mặc dù trước đó không lâu cuốn hồi ký “Ngày N+…” của tôi đã gây được một tiếng vang đáng kể trong giới cầm bút, và trước đó một năm cuốn hồi ký “Tháng Ba Gẫy Súng” của Cao Xuân Huy được coi như là một hiện tượng của văn học hải ngoại.


Ngoài ra tôi chưa kể tới những trói buộc về sinh kế cho bản thân tôi cùng con và hai người cháu đang ăn học ở Mỹ, đồng thời vẫn phải yểm trợ tài chánh cho toàn bộ gia đình ở quê nhà. Thời điểm đó sau khi đổi tên và thành phần chủ biên Văn Học đã đứng vững được ba năm, với gần bốn chục số báo và ý kiến của Cao Xuân Huy cũng như Trương Vũ là phải duy trì tờ Văn Học gằng mọi giá, mà nhân sự thì chỉ còn hai người có thể cáng đáng là Cao Xuân Huy và tôi. Cuối năm 1988, nếu tôi nhớ không lầm thì Văn Học số 38, thành phần chủ biên giờ đây sẽ gồm: Hoàng Khởi Phong chủ nhiệm kiêm chủ bút, Cao Xuân Huy tổng thư ký, họa sĩ Khánh Trường lo phần trình bày. Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ và Nhật Tiến trong thành phần cố vấn.


Nhìn chung thì ba người trong ban chủ biên giờ đây đều là cựu quân nhân của QLVNCH, mà trong đó Cao Xuân Huy là sĩ quan TQLC, Khánh Trường thuộc binh chủng Nhảy Dù và đã từng ở trong Ðại Ðội của Phan Nhật Nam là ÐÐT, và tất nhiên cả ba người “lính tẩy” chúng tôi không hề có ý định làm một tờ báo mà nội dung cũng như hình thức, quá nghiêm chỉnh và quý phái như hai vị tiền nhiệm vốn là nhà giáo. Ngay trong số đầu trách nhiệm, tôi cho đăng tải truyện ngắn “Pháo đài trên sông Zyangty” của nhà văn Trần Vũ, một cây bút mới thành danh cư ngụ ở Pháp. Nội dung truyện ngắn này quả là một trái bom, vì nó chứa đựng những pha làm tình của hai chị em ruột, sau khi vượt biên mà người chị vì muốn cứu mạng người em, đã bị dầy vò, vùi dập bởi hàng chục tên hải tặc.


Số kế đó Văn Học đăng tải truyện ngắn “Có yêu em không” của Khánh Trường. Nội dung của truyện ngắn này còn bạo liệt hơn cả truyện Trần Vũ, khi một người lính mang xác đồng đội về nhà, trong lúc gia đình lo tang lễ và quàn xác người chết ở dưới, thì trên gác xép người lính đã làm tình với em gái của người quá cố. Sau hai truyện ngắn này dư luận của giới văn nghệ rộn hẳn lên. Bản thân tôi khi chọn đăng tải hai truyện ngắn này không phải vì mối quan hệ đặc biệt với hai tác giả, mà vì đó là hai truyện ngắn hay, và tôi vốn không coi tình dục là một cấm kị trong văn chương.


Sau hai truyện ngắn này Nguyễn Mộng Giác mời tôi và Cao Xuân Huy đi uống cà phê, anh cũng cảnh báo chúng tôi là muốn thay đổi nội dung và hình thức tờ Văn Học thì nên từ từ, không thể gấp gáp quá e rằng sẽ gặp những phản ứng ngược từ chính những nhà văn đang cộng tác. Trong lần gặp gỡ này tôi đã dấu Nguyễn Mộng Giác vài lá thư của các văn hữu kết án nặng nề nhóm chủ biên mới. Trong phần thư tín với các văn hữu, tôi đã trả lời thẳng thừng về việc không viết tắt những chữ vốn được coi là kỵ húy trong văn chương Việt Nam. Tôi nghĩ rằng văn chương dù có ngôn ngữ riêng, nó cũng phải phần nào dung chứa ngôn ngữ đời thường, vả lại người đọc khi đọc đến những chữ viết tắt đó, ai cũng biết nghĩa đích thực của nó, thì không vì một lý do nào phải viết tắt. Tất nhiên khi quyết định đăng tải những đoạn văn này, tôi cũng đã cố gọt bớt những chữ quá thô tục, nhưng dứt khoát Văn Học không viết tắt bất cứ một chữ nào.


Ðể không khí nhẹ đi phần nào, hai số kế tiếp Văn Học giới thiệu những cây bút trẻ mới xuất hiện trên vòm trời chữ nghĩa và đang sinh sống ở Pháp và ở Úc, tiếc là ở Canada trong thời điểm đó không quy tụ nổi các cây bút trẻ xuất hiện đủ cho một số báo, nên không thể làm một số riêng biệt cho vùng đất này.


Cũng trong thời gian này ở trong nước, ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố mở cửa về kinh tế và cởi trói cho văn nghệ, đã làm thay đổi bộ mặt thiếu sinh động của văn học trong nước, chuyên về minh họa. Chỉ trong một thời gian ngắn văn học trong nước trúng mùa bội thu, trên khắp các cánh đồng. Ở bất cứ bộ môn nào cũng có những thành tựu với các tác phẩm không còn viết theo chiều hướng cũ. Ðã có những tác giả ở trong nước quay lưng lại với loại văn chương minh họa đã ngự trị suốt nửa thế kỷ trên những tờ báo chuyên về văn học ở trong nước. Văn Học là tờ báo đầu tiên ở hải ngoại đã lên tiếng cổ võ cho những tác phẩm này, và sử dụng cụm từ “văn chương phản kháng” đối với các tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ đích thực trong giai đoạn này. Từ số 45 cho tới số 48, Văn Học đang tải rải rác một số truyện ngắn và thơ được sáng tác trong buổi phôi thai, ngay khi lời tuyên bố của ông Nguyễn văn Linh vừa ráo miệng, để sửa soạn cho số 49 và 50 là hai số chuyên đề về “văn chương phản kháng” ở trong nước. Hai số báo đó vô hình trung là mục tiêu đánh phá Văn Học, của những tờ báo coi hiện tượng này chỉ là phản kháng giả, hay là một đòn đánh phủ đầu của nhà nước đối với giới cầm bút cả trong cũng như ngoài nước. Tuy Văn Học không chính thức trả lời những bài viết đầy ngôn ngữ quy chụp, nhưng một số tác giả khác không phải trong nhóm chủ trương đã gửi về Văn Học những bài viết giá trị nhận định về hiện tượng này, như là một hình thức gián tiếp trả lời cho những công kích đầy ác ý. Và nếu đúng là chế độ ra đòn như thế, thì quả thật những người cầm bút ở hải ngoại đã trúng đòn, vì cuộc tranh cãi ban đầu ngôn ngữ còn chừng mực, nhưng càng về sau càng tệ hại, đến độ giữa một số anh em cầm bút, đã có thời giao tình với nhau, sau hai số báo này đã không thể hàn gắn được, không thể ngồi chung với nhau trong bất cứ một cuốn sách nào.


Ngoài Văn Học là tạp chí văn chương chính thức công nhận hiện tượng văn chương phản kháng ở trong nước, một số các cây bút độc lập ở rải rác khắp nơi quy tụ lại thành lập nhà xuất bản Lê Trần, mà tác phẩm duy nhất: “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” đã quy tụ được 27 nhà văn ở hải ngoại, viết về hiện tượng này, và đồng thời trích đăng tác phẩm của 69 nhà văn, nhà thơ, kịch tác gia và kịch bản điện ảnh mà tác phẩm của họ gây xôn xao trong nước trong giai đoạn đầu cởi trói cho văn nghệ này. Hầu như tất cả các cây bút chủ chốt của tờ Văn Học đều đóng góp cho cuốn sách này. Nói cho cùng đây là những bài còn dư lại của hai số chuyên đề 49 và 50, nhưng đó cũng là một hình thức trả lời cho những người đã chỉ trích Văn Học hàng năm trời ròng rã, với những luận điệu quy chụp, thậm chí còn vu khống.


Năm 1990, tôi bị thất nghiệp. Ở đây tôi xin trình bày về tài chánh của tờ Văn Học, hay bất cứ một tờ báo thuần túy văn chương nào cũng lỗ. Ngoại trừ tờ Văn của Mai Thảo, được một nhà in hào phóng in báo với giá tượng trưng chỉ bằng nửa giá in thị trường, và những người hâm mộ nhà văn Mai Thảo ở rải rác khắp nơi hết lòng ủng hộ. Tất cả những may mắn đó giúp cho Mai Thảo sống khá ung dung với hai nguồn tài chánh chính là tiền già và tiền bán báo. Với tờ Văn Học tuy không lời, nhưng với 700 độc giả dài hạn, lúc nào nó cũng đủ tiền in, tiền tem. Phần lời là báo bán lẻ tại những tiệm sách rải rác trên toàn nước Mỹ và Canada. Nhưng có nhiều tiệm sách không chịu thanh toán nếu như tờ báo không có người đến kiểm kê số báo tiêu thụ hàng tháng. Tại Texas có một tiệm sách suốt hai năm trời không chịu thanh toán tiền báo và sách do Văn Học phát hành, cho tới khi ông chủ bán tiệm cho người khác, thì số tiền báo đã bán được khoảng hai ngàn đô la coi như bị xù.


Ở đây Văn Học lúc nào cũng mang ơn chị Thụy Khuê, người đại diện cho Văn Học ở Pháp và Âu Châu, thỉnh thoảng chị gửi cho một khoản tiền, mà tôi nghĩ cho dù có bán hết báo mà chị nhận phát hành, cũng không thể được con số đó. Dù gì chăng nữa thì tờ báo coi như hòa, nhưng thỉnh thoảng có những khoản chi bất thường ngoài vụ in ấn, thí dụ một bạn văn thường xuyên gửi bài vở cộng tác, bỗng một hôm đến chơi với anh em vài ngày, thì khoản đãi đằng cơm tây, rượu chát trong thời gian đó phải móc từ túi ông chủ nhiệm.


Tôi đã làm thợ tiện được hơn mười năm, việc thất nghiệp ở Mỹ là chuyện bình thường, nếu chịu khó tìm tòi thế nào cũng có việc lại, nhưng nhân dịp này tôi muốn thay đổi không khí cho bản thân mình, muốn bỏ nghề và thử tìm một con đường nào gần hơn với việc viết lách, nên tôi dồn hết tiền bạc mà sở cũ trả cho tôi đâu khoảng mười ngàn, lên San Jose bỏ thêm vốn vào nhà in Lam Sơn của một ông bạn đã hoạt động được mười năm, tưởng chừng sẽ có lúc chính tôi sẽ đứng ra in tờ Văn Học. Vì quyết định dời lên phía Bắc của tôi, Văn Học lại một phen sắp xếp lại đội hình. Trương Vũ lại một phen từ thủ đô bay về, lần này Trịnh Y Thư là chủ nhiệm kiêm chủ bút, Cao Xuân Huy vẫn là tổng thư ký. Trịnh Y Thư là một khuôn mặt mới của Văn Học. Anh đang du học ở Mỹ thì xảy ra vụ 75, anh có bằng MA và đang làm việc cho một công ty lớn, với số lương hậu hĩnh hơn trăm ngàn đô la một năm. Không phải vì Trịnh Y Thư khá giả mà anh bị anh em dồn anh vào chỗ phải chi tiền. Trịnh Y Thư là một người dịch rất hay, anh là một trong những người dịch Milan Kundera đầu tiên, và “Ðời nhẹ khôn kham” là một bản dịch cực kỳ hay cuốn tiểu thuyết của nhà văn gốc Tiệp này. Thời gian này vì ở xa, tôi không có điều kiện để quan sát kỹ những thăng trầm của tờ Văn Học.


Việc làm tiệm in của tôi rút cục không khá, năm 1991 tôi một mình băng qua sa mạc Mojavie để tiến sang Texas, tìm một nơi lập nghiệp mới. Trong một năm trời tôi di chuyển qua đủ bốn thành phố lớn nhất của tiểu bang này là Houston, Dallas, San Antonio và Austin, làm đủ các nghề vớ vẩn. Khi thì đứng bán ở cây xăng, khi thì đứng bán cho các tiệm tạp hóa Stop and Go hay tiệm Seven – Eleven. Có lúc lại làm một loại việc khá giống như bốc vác cho một hãng sản xuất phụ kiện điện tử. Năm 1992 khi tôi quay trở lại nam Cali thì mới biết Văn Học lại một lần nữa sắp xếp lại đội hình. Lần này nhà văn Nguyễn Mộng Giác quay trở lại vị trí chủ nhiệm, Trịnh Y Thư là chủ bút, Cao Xuân Huy không thay đổi.


Một năm sau tôi chính thức đi làm báo và phụ trách trang Văn Học Nghệ Thuật cho tờ nhật báo Người Việt, mà lẽ ra tôi đã làm một nhân viên của tờ báo này từ số đầu tiên ra đời từ năm 1978. Tôi nhận chức biên tập viên cho tờ báo này, với mục đích có nhiều thời gian để bắt đầu viết bộ trường thiên Người Trăm Năm Cũ. Tờ Văn Học vẫn hàng tháng có một bữa cơm chung, để các người chủ trương nhận báo mới, hàn huyên với những bạn văn từ khắp nơi về thăm Nam Cali. Bữa cơm chung này trước kia thường được tổ chức ở nhà Nhật Tiến, giờ đây nó được tổ chức tại nhà Nguyễn Mộng Giác. Ðó là căn nhà anh Giác đã mua và ở cho đến khi qua đời.


Ðầu thế kỷ 21, khi Internet phát triển cực độ, các trang web ra đời. Các cây viết trẻ đầy sung mãn và am hiểu tường tận kỹ năng điện toán, đã thiết lập hàng chục trang web chuyên về văn học. Ðồng thời lứa độc giả văn chương của người Việt ở hải ngoại lớp thì qua đời, lớp thì làm biếng vì tuổi tác, đã khiến cho các tờ báo chuyên về văn học càng ngày càng tiến gần đến việc đình bản các tờ báo in.


Năm 2003, một buổi trưa Nguyễn Mộng Giác và Cao Xuân Huy đến chỗ tôi làm việc. Anh Giác có ý định cho tờ Văn Học đình bản, nên bàn với Cao Xuân Huy và tôi. Tôi chưa có ý kiến gì thì Cao Xuân Huy đã khẳng khái đứng ra nhận trách nhiệm chăm nom cho tờ Văn Học. Và anh đã chăm nom cho nó cho tới khi anh qua đời. Tất nhiên trong giai đoạn khó khăn này, lại chỉ có một mình xốc vác cho tờ báo, nên Văn Học trước tiên để tiết kiệm tiền in và tiền tem, thay vì phát hành mỗi tháng một số 120 trang, thì giờ đây hai tháng phát hành một số dầy tối thiểu là 200 trang và có khi lên tới 250 trang. Trong cơn ngắc ngoải của tờ báo, vẫn là Trương Vũ đã hết lòng khích lệ, yểm trợ cho Cao Xuân Huy. Số Văn Học cuối cùng sau rất nhiều lần trì hoãn đã ra đời vào cuối năm 2008. Thế có nghĩa là một mình Cao Xuân Huy xốc vác tờ Văn Học trong suốt bốn, năm năm sau cùng.


Mặc dù không ở Mỹ lúc Cao Xuân Huy qua đời, song tôi biết khá tường tận diễn tiến căn bệnh của Cao Xuân Huy. Huy phát giác ra mình có một cái u trong mắt một cách tình cờ, khi đang đánh mà chược với tôi vào năm 2007. Ðang xoa bài, đột nhiên anh dụi mắt, rồi lấy tay che đi một con mắt vài lần, rồi quay qua nói với tôi: “Sao kỳ quá, con mắt phải của em chỉ nhìn thấy từ ngực bác trở xuống”. Hôm sau Huy đi khám mắt, hai ông bác sĩ Việt cho hai định bệnh khác nhau, một ông bảo là nấm, một ông bảo là có u nhưng không biết lành hay dữ. Nguyễn Thành Quan là bạn thân của Huy và tôi từ hồi nhỏ, và đã từng là sĩ quan trợ y của QLVNCH thấy vậy chen vào: “Ngày mai mày đi khám lại ở UCLA Medical Center cho chắc ăn”. Hai ngày sau Huy cho biết các bác sĩ của UCLA xác nhận đó là u độc, và ở đây sẽ dùng xạ trị để chữa. Tính Huy ít nói, trong hai tuần chờ đợi đi điều trị anh vẫn đến xoa mà chược tại nhà tôi, và không bao giờ có vẻ mặt tư lự hay lo âu. Có điều anh dấu tất cả mọi người là căn bệnh của anh là một căn bệnh hiếm, hàng ngàn người bị ung thư mới có một người bị ung thư gần mắt, và quan trọng hơn hết là nếu may mắn xạ trị có thể khỏi luôn, nhưng nếu không chữa được tuyệt nọc thì nó có thể chạy thẳng lên óc, hay xuống gan.


Xạ trị xong vài ngày, anh lại có mặt tại nhà tôi trong những canh mà chược. Cứ như vậy trong hơn hai năm liền một tuần hai, ba canh mà chược. Các bạn hữu của Huy ai cũng nghĩ là sức khỏe của Cao Xuân Huy hoàn toàn bình phục. Bề gì thì cũng là Trung oái TQLC, sá kể gì ba cái cancer vớ vẩn. Khoảng giữa năm 2010, sau khi tái khám định kỳ Huy cho tôi biết anh bị di căn xuống gan. Khi nói về án tử của mình, anh không hề đổi sắc, và vẫn một tuần hai cữ mà chược ở nhà tôi. Thời gian này tôi đang sửa soạn làm đám cưới cho con trai tôi. Hai bố con tôi phải về Việt Nam, vì cô vợ chưa cưới của cháu là người Việt. Ðám cưới diễn ra ở Sài Gòn vào ngày 31-10 năm 2010.


Huy bắt đầu được hóa trị vào giữa tháng 7. Anh cho biết sẽ có hai đợt hóa trị, mỗi đợt là 6 tuần, mỗi tuần một liều. Bọn chúng tôi nín thở nhìn Huy mỗi tuần đi chữa bệnh. Trong sáu tuần của đợt hóa trị đầu, tôi không thấy Huy bị những phản ứng xấu như rụng tóc, xuống cân& Và đặc biệt là anh có một tinh thần bằng thép, sống hệt như những ngày trai trẻ, không hề một phút băn khoăn lo lắng về bệnh trạng của mình. Sáu tuần lễ đầu qua đi, anh vẫn nhởn nhơ cười đùa với bằng hữu. Anh vẫn tự mình lái xe lên nhà tôi chơi bài. Hết đợt đầu, anh được nghỉ một tuần để sửa soạn hóa trị đợt hai, cũng sáu tuần lễ nhưng liều lượng gấp đôi. Ðầu tháng 10, tôi phải về Việt Nam, lúc đó Huy đã chịu hai liều của đợt hai, ngoài vẻ mặt bình thản bên ngoài, tôi biết anh đau đớn dữ dội bên trong, vì có lần tôi hỏi Huy về bệnh trạng trước khi tôi sẽ đi xa thì được anh cho biết: “Người ta cứ nói đau xé gan xé ruột, không ăn thua gì vì em đang đau xé từng thớ thịt, bất cứ một thớ thịt nào từ trên đầu xuống tới chân giống như bị một bàn tay vô hình xé vụn ra”. Có một điều lạ là anh không bao giờ lộ vẻ đau đớn, đặc biệt là trước mặt vợ và hai cô con gái, lúc nào anh cũng cười và còn bông đùa cho không khí trong nhà bớt căng thẳng.


Ngày 15 tháng 10 năm 2010 tôi chia tay với Huy để về Việt Nam làm đám cưới cho con trai. Trong một bữa cơm tiễn tôi đi tại nhà Nguyễn Kỳ Hùng, cả hai vợ chồng Huy cố tham dự. Lúc này anh đã không lái được xe, khi chia tay ra về tôi thấy Huy lảo đảo, nhưng anh gạt phắt tay của một người bạn có ý định dìu anh đi. Anh nói với tôi giản dị: “Khi bác sang chắc là em không còn hiện diện trên cõi đời này. Thôi chúc bạn mọi điều tốt lành”. Ðáng lẽ tôi là người sẽ phải nói những lời chúc tụng sức khỏe cho Cao Xuân Huy, thì anh đã chúc tôi trước, mà qua nội dung những lời cuối của anh, những lời chúc tụng của tôi sẽ trở thành vô nghĩa. Sau khi tôi đi khoảng mười ngày thì Huy mất. Anh sinh năm 1947, mất năm 2010 hưởng thọ 63 tuổi.


Năm 2005 Nguyễn Mộng Giác bị ung thư, anh đi mổ lần đầu. Từ đây sức khỏe của Nguyễn Mộng Giác không còn như cũ. Năm 2008 anh về VN để chịu tang cùng an táng bà mẹ, trước khi lên máy bay về lại Mỹ anh bị đột quỵ, rồi kế đó anh bị mổ lần thứ hai vào năm 2009. Những năm cuối cùng của anh giống như là ngọn đèn sắp cạn dầu mà còn bập bùng trong gió. Gần đây anh phải vào ở trong một nhà dưỡng lão, vì không thể tự mình săn sóc cho mình, thành thử chị Diệu Chi có nhà mà hầu như không ở, cứ lẩn quẩn nơi anh nằm bệnh. Mới đây trong dịp trở lại Mỹ vào tháng 4 và tháng 5 năm 2012, tôi hai lần điện thoại để ghé thăm, nhưng không một ai bốc điện thoại trả lời. Tôi cũng lái xe đến bất ngờ hy vọng có ai ở nhà, để tôi chuyển lời thăm hỏi, song không một ai có nhà. Sau cùng việc gì đến đã đến, Anh qua đời vào ngày 3 tháng Bẩy, năm 2012 tại nhà riêng, hưởng thọ 72 tuổi.


Sau cùng xin thông báo với các độc giả của tờ Văn Học:


Ðịa chỉ của tòa soạn hiện nay đã dời lên thiên đường từ năm 2008. Ðể tiện việc điều hành tờ báo, mới đây hai vị chủ nhiệm đầu tiên và sau cùng cũng đã dời về đó. Cho dù trong khi sống, nhà văn Nguyễn Mộng Giác và Cao Xuân Huy có thể làm phật lòng một số người, vì quan điểm văn chương, hay chính trị. Nhưng nghĩ cho cùng, sự khác biệt về quan điểm không bao giờ là một tội lỗi, càng không thể là một tội ác. Nghĩ cho cùng một nhà giáo hết lòng với học trò của mình, một nhà văn hết lòng với độc giả của mình, một người lính hết lòng với nhiệm vụ của mình sẽ có một chỗ ở nơi thiên đường. Nếu như thiên đường là một nơi có thật.


Sài gòn 8 tháng 7, 2012

TT Syria thảo luận lập ‘chính quyền chuyển tiếp’

 


GENEVA (AP) – Tổng Thống Bashar al-Assad thảo luận khả năng lập một chính quyền chuyển tiếp, như đề nghị của hội nghị quốc tế về Syria ở Geneva tháng trước. Ông Kofi Annan, cựu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và là đặc phái viên dàn xếp tìm giải pháp cho vụ khủng hoảng cho biết như vậy hôm Thứ Tư sau chuyến đi ngoại giao ở Trung Ðông vừa qua.



Nawaf al-Fares, đại sứ Syria ở Iraq, tuyên bố đào nhiệm. (Hình: Getty Images via al-Jazeera)


Nói với các phóng viên sau một cuộc hội đàm riêng qua Internet/Video với Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ở New York, ông Annan không tiết lộ nhân vật mà ông và Tổng Thống Assad đã đề cập. Theo lời đại sứ Anh tại Liên Hiệp Quốc, ông Mark Lyall Grant, “Ông Annan kêu gọi các thành viên Hội Ðồng Bảo An hãy gạt qua bên quyền lợi quốc gia mình và cùng nhau áp lực hai phía đối nghịch ở Syria”.


Trước đó, các đại diện phe nổi dậy ở Syria, sau khi tiếp xúc với Ngoại Trưởng Nga Sergei Lavrov ở Moscow, cho biết Nga vẫn không chịu từ bỏ sự ủng hộ dành cho chính quyền Assad và cho rằng thỏa hiệp hòa bình có thể đạt tới mà không cần Assad phải ra đi.


Ðại sứ Syria ở Iraq, ông Nawaf al-Fares, hôm Thứ Tư đưa ra một tuyên cáo và xác nhận với truyền hình al-Jazeera là ông đã đào nhiệm và khuyến khích những người khác làm như vậy để phản đối chính quyền al-Assad dùng vũ lực đàn áp dân chúng nổi dậy. (H.C.)

‘Em xin lỗi anh, anh ơi’

 


* Huỳnh Thục Vy


 



Anh ơi,


Em xin lỗi anh.


Em biết rằng em đã làm nhiều người lo lắng cho em, em có lỗi với gia đình và tất cả những người yêu mến em. Từ hôm đi biểu tình bị bắt về công an phường Cô Giang, quận 1 đến lúc lại bị bắt ở công an phường Tân Quy, quận 7 (Sài Gòn), rồi bị đưa về Quảng Nam em hiểu rằng có nhiều người đã vì thương yêu em mà mất ăn mất ngủ, đặc biệt là những người trong gia đình mình. Những tình cảm đó, những mối ưu tư đó của cô chú bác và bạn bè em không biết cuộc đời mình có dịp để đền đáp hay không?


Nhưng nếu có ai đó em phải xin lỗi trước tiên thì đó là anh. Ba và các cô lo cho em nhưng mọi người đã có nhiều kinh nghiệm khổ đau từ hai mươi năm về trước, khi ba em bị bắt; nên mọi người dễ hiểu và dễ chấp nhận. Còn anh, anh chưa từng đối mặt với cảnh huống như thế. Em xin lỗi anh.


Hôm ngày 1 tháng 7 (2012) chúng ta bị đạp, bị nắm tóc lôi lên xe khi tập trung biểu tình ở công viên 30-4, cùng với Minh Ðức và Hiếu, anh bị đánh rất nhiều; anh đã hét to: “Các anh có phải người Việt Nam không?” “Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam” trong nước mắt. Em biết từ giây phút đó, anh đã rất hụt hẫng và lần đầu tiên trong đời, tự tâm can, anh đã cảm nhận sống động về sự nhỏ bé, yếu đuối của người dân Việt Nam chúng ta trong chế độ độc tài, cũng như sự tàn ác của công an Cộng Sản và sự bất công tột độ trong thể chế này.


Từ trưa ngày 4 tháng 7, sau khi em làm việc với công an phường Tân Quy xong thì em bị giằng khỏi tay anh, bị xô lên xe, chở đi mất tích cho đến khi ngồi viết những dòng này, mình vẫn chưa được gặp nhau vì anh còn ở trong Sài Gòn. Hình ảnh cuối cùng mà em nhìn thấy khi rời khỏi đồn công an phường Tân Quy, Sài Gòn trong tức tưởi là khi anh khóc và nói: “Các anh bắt vợ tôi đi đâu? Các anh định làm gì vợ tôi?” Khuôn mặt anh thất sắc, xám ngắt và nước mắt chảy ròng. Em có thể cảm nhận rõ nỗi đau khổ mà anh phải chịu đựng, cả con người anh lúc đó là một khối khổ đau.


Em xin lỗi anh, anh ơi…


Cho tới hơn 9 giờ tối ngày 5 tháng 7 (34 giờ đồng hồ sau khi bị bắt ở Tân Quy) em bị an ninh tỉnh Quảng Nam bỏ giữa đường trong đêm tối, phải đi bộ về nhà. Em đã mất tất cả chút tự do còn lại của mình, em đã bị thẩm vấn liên tục, bị đói khát, bị khủng bố tâm lý, nhưng người mà em lo nghĩ nhiều nhất vẫn là anh. Anh đã từng nói với em rằng: “Em là tất cả hạnh phúc mà anh có trong cuộc đời này. Không có em, anh không còn gì cả”. Em hiểu anh cần có em biết bao! Em cũng biết mấy hôm nay anh như người mất hồn khi bị nhiều đe dọa từ những “kẻ lạ mặt côn đồ” rằng chuyến này Huỳnh Thục Vy sẽ hết đời. Tất cả những đau đớn đó, em thấu hiểu cả và… em xin lỗi anh.


Nhưng anh ơi, không có gì trên đời này mà không có nguyên nhân-kết quả và chúng ta biết rằng vạn vật tồn tại trong mối quan hệ tương tác. Nỗi sợ hãi của em đã giảm đi rất nhiều khi em nghĩ về nguyên lý đó. Với mỗi hành động mà chúng ta thực hiện, không sớm thì muộn chúng ta sẽ nhận lãnh phản lực của nó; vì thế chúng ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hậu quả của hành động do mình gây ra. Những người cộng sản biết rõ điều đó anh ạ.


Dù bị khủng bố tinh thần và mệt mỏi về thể xác; nhưng anh ơi, niềm tin của em, sự khao khát của em đối với tự do vẫn là cả một nỗi niềm to lớn không dứt. Anh hiểu em mà, phải không anh? Em là đứa không chịu nổi những sự lố bịch, những bất công và sự “chướng tai gai mắt”. Ðối với những thứ đó, dù biết mình chỉ là một cá nhân nhỏ bé và bất toàn, em luôn muốn san phẳng chúng đi.


Ngồi trong đồn công an nhìn ra ô cửa kính, từ đáy lòng mình em đã tưởng nhớ và tri ân bao thế hệ người đã vì Việt Nam này mà lãnh nhận đau khổ, tù đày, thậm chí là cái chết. Dù bị thẩm vấn liên tục, em vẫn cố tạo cho mình những giây phút nghỉ ngơi bằng cách không trả lời những câu hỏi cá nhân hoặc nhưng câu hỏi liên quan đến bạn bè. Chỉ những gì người ta đã biết bằng cách rình rập, nghe lén điện thoại… thì em mới kể cho họ nghe. Những lúc em ngồi nhắm mắt, im lặng và hít thở sâu, em nghĩ rất nhiều về cuộc đấu tranh hôm nay, và em nhớ đến một người anh hùng trong lịch sử: Phó Ðức Chính. Ông đã bị thực dân Pháp đưa lên máy chém khi mới 23 tuổi. Nhắc đến ông, chúng ta tự nhiên sẽ thấy bình an hơn, vì những đau khổ mà chúng ta đang chịu đựng làm sao có thể so sánh với sự hy sinh tính mạng của một người đang tuổi xuân xanh?


Không thể so sánh cuộc đấu tranh chống Pháp và cuộc đấu tranh hiện nay, nhưng nhìn vào lịch sử, chúng ta biết rằng “Freedom is not free”, phải không anh? Mọi thứ đều có cái giá của nó. Những ai hy sinh vì điều tốt đẹp, sẽ nhận được hoa quả tốt tươi. Nhưng ai hành động tàn ác, hy sinh nhân tính để bảo vệ quyền lợi của mình, sẽ nhận lấy những điều tồi tệ do chính mình tạo ra. Ðó chính là công lý anh ạ.


Vì vậy, anh ơi, anh đừng lo lắng, đừng đau khổ. Anh phải mạnh mẽ lên. Chúng ta phải mạnh mẽ lên. Mọi khó khăn còn chưa kết thúc, nhưng chúng ta cũng không đầu hàng.


Em biết rằng chỉ mới có năm ngày nhưng ông chồng 64 kg của em bây giờ đã gầy nhom. Em sẽ bồi dưỡng cho anh. Em sẽ dùng cả cuộc đời này để thương yêu anh, cũng như chúng ta sẽ dùng cả cuộc đời này để yêu thương đất nước này.


Nhiều cô chú bác, anh chị em tuy không ở bên chúng ta nhưng họ luôn giúp đỡ và ủng hộ chúng ta. Dù bị an ninh cộng sản tịch thu nhiều thứ mà anh chị em trong gia đình chúng ta đã nhịn ăn nhịn mặt để mua như: Hai điện thoại di động, hai laptop; cho đến giờ chúng ta vẫn được bình an vì có mọi người. Chúng ta phải ghi nhớ ân tình đó, anh nhé.


Anh ơi, anh cố gắng lên. Chúng ta còn một lễ cưới phải lo thu xếp. Cả anh và em hãy cùng cầu nguyện nhé. Em tin chúng ta sẽ được bình an, hạnh phúc.


Em đang ở quê chờ anh. Hãy tha lỗi cho em vì đã làm anh phải lo lắng quá nhiều. Em yêu anh.


Vợ của anh


Tam Kỳ ngày 6 tháng 7 năm 2012


Huỳnh Thục Vy


Cám ơn em!


Anh và Em. Ðường sẽ còn dài, sẽ còn lắm chông gai, thậm chí hiểm nguy nhưng chúng ta sẽ không bao giờ bỏ cuộc.


Anh yêu em, Thục Vy.


Trầm Tử -FaceBook


(Nguồn từ Danchimviet)

Tiếp nối những mùa trăng tuổi thơ

 


* Mang Viên Long


 


Tôi đã được đón trăng, ngắm trăng ở nhiều nơi, nhiều miền, nhưng chưa có một mùa trăng nào còn đọng lại trong tâm trí tôi sâu đậm và luôn réo gọi như những mùa trăng của tuổi thơ ở quê nhà…



Có nhiều lúc tôi rất đỗi ngạc nhiên, tự hỏi – sao những mùa trăng âm thầm, khép kín, êm ả ấy của cái tuổi vừa lên mười lại khắc sâu, kéo dài theo từng bước chân tôi đến gần hết cuộc đời? Tôi nhắm mắt lại là có thể thấy trăng. Tôi mơ màng một chút là cả cái quang cảnh phố quê rực sáng, êm đềm, mênh mông kia hiện lên, như vừa mới được sống hôm qua!


Tôi được sinh ra và lớn lên trong một con phố nhỏ dọc quốc lộ, cạnh một ngôi chợ đã hoang phế tự bao giờ. Con phố thì chỉ có một đoạn quốc lộ là còn sinh hoạt, nghĩa là còn thấy bóng dáng người đi, còn vài sạp hàng bán buôn rời rạc, thưa thớt. Ba con đường ngang nhỏ hẹp, có đoạn dài không có nhà, cỏ cây mọc um tùm, vắng vẻ. Những ngôi nhà thấp ẩn mình trong vườn cây, được ngăn cách bởi các lùm cây gai hoang dại mọc tua tủa dọc đường, trông khép kín và an phận. Khu chợ rộng thênh nằm giữa, chia hai con đường thì được trồng toàn gòn và phía dưới là cây bông vải. Có lúc được trồng bắp và mì. Những thân cây gòn cao lêu nghêu, chĩa ra những nhánh dài như những cánh tay khẳng khiu, đỡ lấy từng chùm trái thon dài. Về mùa trái khô, nứt vỏ, để lộ từng đám bông trắng, bông gòn bay lãng đãng như tuyết.


Tuổi thơ tôi đã trôi qua lặng lẽ, hồn nhiên như cây cỏ, trong suốt những tháng năm dài kháng chiến chống Pháp. Tôi mồ côi cả cha mẹ. Sống bên anh chị. Cuộc đời đã bất hạnh và chiến tranh đã đẩy chúng tôi đến tột cùng của sự khổ đau, cô độc và nghèo khó.


Bù lại, tôi có tuổi thơ đang xanh biếc. Có sự hồn nhiên, vô tư trước mọi hiểm nguy. Và nhất là tôi có những mùa trăng ngập tràn phố chợ, có những đêm xách đèn dầu chai đi học, có mỗi tuần một buổi tối sinh hoạt thiếu nhi nơi khoảng sân rộng trước nhà để chờ đợi…


Trăng lên cao. Tròn đầy. Ánh sáng vàng êm đềm chảy khắp các ngả đường, trên những cây gòn, trong khu vườn bông vải, trên từng mái nhà im lìm, lấp lánh trên cành cây, kẽ lá hoang dại mọc tràn ra đường vì vắng bước chân người…


Tôi và chị tôi thường ra ngồi ở bãi cỏ mượt dọc đường, trước ngõ nhà, để nhìn trăng. Chung quanh chúng tôi chỉ có trăng là mới mẻ, là tươi mát, là quyến rũ thôi! Tuổi thơ chúng tôi đang khao khát sự thơ mộng, niềm vui, để an ủi đời mình. Và trăng, mặt trăng màu nhiệm kia đã xoa dịu, đã ấp ủ, đã ru nồng giấc ngủ của chúng tôi như người mẹ hiền thuở nào.


Ngồi ngắm trăng, trò chuyện với nhau như thế cho đến khi mặt trăng đã ngự ở trên đỉnh đầu, chênh chếch về hướng Tây, chúng tôi nằm kềnh trên thảm cỏ. Chúng tôi thích thú chỉ cho nhau xem những bà tiên cầm gậy, những ông lão râu tóc bạc phơ, hay từng gốc cây đa cổ thụ từ những cụm mây trắng đang trôi lơ lửng mà lòng thầm ước mơ đến một cõi nào hạnh phúc xa xăm. Có đêm, chúng tôi nằm ngủ quên trên bãi cỏ, anh tôi phải ra gọi vào nhà…


Có những đêm trăng chúng tôi rủ nhau thơ thẩn đi vào ngôi thành cổ. Con đường trước ngõ nhà tôi cũng có lối dẫn vào thành, nhưng um tùm cây lá, hoang vắng quá. Chúng tôi chọn lối đi xuống phố dọc quốc lộ, rồi rẽ vào đường chính dẫn lên thành. Ði lối này, thỉnh thoảng chúng tôi còn trông thấy vài bóng người thấp thoáng qua lại. Nín thở chạy một mạch qua khỏi cổng thành tối om, phía trước là một rừng gòn sáng trực ánh trăng! Sự mênh mông im vắng đến lạnh ngắt, khiến chúng tôi phải dừng bước, chẳng dám tiến sâu vào thành. Ðứng trước cổng thành mà nhìn: Con đường đất nhỏ phía trước dẫn lên cửa Tây như một dòng sông. Xa về hướng Nam là cửa Tiền, là cột cờ bằng xi măng cao vút giữa màu xanh, là con đường ray xe lửa ngập cỏ cây, là dòng Trường Thi mờ mờ sương khói… Có hôm chúng tôi bạo gan tiến sâu hơn về phía nền một góc thành đã sụp đổ, trông thấy từng bầy chồn rượt đuổi nhau, hay bầy thỏ hoang trắng muốt rủ nhau lên nền thềm giỡn trăng… Rồi chúng tôi cùng nhau trèo lên cổng thành tìm bắt những tổ chim cu, chim sáo. Tìm hái những chùm dúi dẻ chín vàng, hay những cánh hoa sực nức mùi thơm… Cứ năm đêm một lần, người ta tụ về ngay trên đoạn đường đất nhỏ trong thành này để họp chợ. Ðêm không trăng thì thắp đèn chai, đèn đĩa- ánh sáng lờ mờ không trông rõ mặt người. Nghe có tiếng “u u u” từ xa là lật đật thổi tắt đèn, tìm gốc cây, lùm cây hay hầm hố mà núp. Vui nhất là những phiên chợ có trăng, những phiên chợ có trăng vào dịp giáp Tết, người ta lại bày bán thêm trên mẹt những chiếc trống rung, con gà đất, con ve quay, hay những chiếc máy bay, chong chóng bằng gỗ gòn nhẹ tênh, được sơn phẩm màu xanh đỏ vàng rất đẹp mắt. Chúng tôi chỉ đi dạo xem, vì làm gì có tiền để mua, dầu chỉ là một con ve quay vài hào…


Tôi đã về sống lại trong ngôi nhà đầy kỷ niệm xưa cũ đã được sửa sang lại tương đối tươm tất sau bao năm chịu dột nát, xiêu vẹo vì bị bỏ phế. Con đường trước này ngày nào cỏ cây giăng mắc nay đã thành con đường nhựa rộng sau 21 năm tôi lớn lên rồi đi xa. Và điện – hàng cột điện đường cao thế, những bảng hiệu đèn màu và những cột ăng ten vươn cao với những dãy nhà cao tầng -nhưng tất cả đều lặng im, bao trùm một nỗi đợi chờ, hiu hắt…


Và mặt trăng của hơn nửa thế kỷ trước vẫn đến. Tròn và đầy. Trăng tỏa ánh vàng tươi mát xuống khắp nẻo đường phố chợ an tịnh, hiền hòa. Tôi vẫn đón trăng, ngắm trăng. Cũng là màu trăng vàng êm đềm thuở xưa, nhưng hình như trong màu trăng ấy đã ánh lên bao điều mới lạ. Vừa thì thầm quyến rũ, vừa man mác ngậm ngùi!


Một người bạn văn là thư ký của một tờ báo ở Sài Gòn đã đến thăm tôi. Thật bất ngờ. Hỏi ra mới biết anh đi công tác ở Nha Trang tiện tạt ra thăm tôi. Anh cho biết là chỉ ở lại một đêm thôi, hôm sau là anh phải đi.


Chúng tôi sẽ làm gì trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó?


-Ông muốn thăm viếng những nơi nào? Tôi hỏi.


-Tùy ông thôi. Anh bạn tôi cười thoải mái.


-Thế thì ông hãy yên trí ngồi sau xe tôi nhé!


Chạy một vòng qua đường sá, tôi dừng xe lại trước cổng Thành Ðông vừa mới được xây dựng, tái hiện lại cổng Thành Bình Ðịnh hơn hai thế kỷ trước. Anh bạn tôi có vẻ thích thú, quan sát từng chi tiết của cổng thành.


-Ông thấy có giống với cổng thành thuở xưa không ?


-Thuở xưa thì cổng thành hẹp hơn, đơn giản hơn, cũ kỹ hơn. Tôi đáp, nhưng chính cái cũ kỹ ấy mới thật có giá trị…


Tôi kể lại cho anh nghe thuở nhỏ tôi đã từng leo lên cổng thành bắt chim sáo, hái dúi dẻ chín, và nhìn ngắm trăng sao như thế nào. Cũng tại trên cổng thành này, hai nhà thơ Chế Lan Viên và Yến Lan cũng đã đón trăng, làm thơ và tâm tình về những ước mơ cho con đường văn học của nhóm“ Bàn Thành Tứ Hữu”…


-Ông còn định cho tôi đi đâu nữa? Anh bạn tôi vui vẻ hỏi.


-Mục này hấp dẫn lắm – tôi cười, qua bến My Lăng, lên Cù Lâm Bắc, đến làng nghề truyền thống Bàu Ðá Nhơn Lộc tìm vài lít rượu Bàu Ðá để tối nay anh em ta lai rai và làm quà cho ông…


-Sáng kiến nghe được đấy – Anh bạn tôi kêu lên. Ðã về tận nơi rồi, thì phải được uống Bàu Ðá chính gốc chứ? Ở Sài Gòn, tôi cũng đôi ba lần được nhấm nháp Bàu Ðá…


Chúng tôi dừng lại trên chiếc cầu bê tông bắc qua dòng sông Côn để nhớ lại một thuở nhà thơ Yến Lan đã được sinh ra trên bãi cát, đã từng gọi đò qua sông, đã đặt tên cho vòm cát vàng hình cong như chân mày người thiếu nữ là “Bến My Lăng”, đã viết nên bài thơ “ Bến My Lăng” bất hủ…


Từ xóm Bàu Ðá, Cù Lâm bắc, chúng tôi quay lại đến cầu Trường Thi thì trăng mười sáu đã nhô lên từ phía cuối dòng sông. Một khối sáng tròn, to, đầy đặn đang từ từ vươn lên cao. Ánh sáng long lanh trên mặt sông như một dải bạc. Và bờ tre, rẫy bắp, bãi cát, chìm đắm trong một màu vàng êm ái vắng lặng. Trăng bao giờ cũng hiền hòa, quyến rũ. Anh bạn tôi đề nghị lấy rượu ra uống vài chung để ngắm trăng. Dĩ nhiên là tôi hưởng ứng ngay. Bởi vì, sau gần ba mươi năm tôi chưa bao giờ được ngắm trăng, và uống rượu bên bến My Lăng như thế vì cuộc đời luôn lao đao, và chiến tranh luôn đẩy xa mọi ước mơ của đời người-cho dù chỉ là một đêm trăng yên ả ở quê nhà!


Tôi tìm vào một quán nhỏ bên sông, mua hai bì mực khô, một gói con ngựa và mượn hai chiếc chén con dùng để uống trà.


Rượu đã rót đầy chén.


-Xin chúc mừng cuộc hội ngộ bất ngờ – Tôi nồng nhiệt nói.


-Xin chúc mừng bạn hiền đã trở về lại được quê nhà! – Anh bạn tôi cũng nâng cao chén rượu lên.


Cứ vậy- chúng tôi vừa uống rượu, vừa chúc mừng cho nhau-cho sự còn lại của bạn bè sau bao năm dài đau thương tang tóc…


Trăng đã ở trên đỉnh đầu.


Vằng vặc sáng….


* Mang Viên Long.


(Nguồn: [email protected]😉


 


Ghi chú: Tất cả địa danh trong bài nay thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh.

Tin mới cập nhật