Nghi có người trong container trên tàu nước ngoài vào Mỹ

 


NEWARK, New Jersey (AP) – Xe cứu thương và nhân viên công lực túc trực tại một bến cảng ở New Jersey hôm Thứ Tư, sau khi kiểm tra thường lệ một tàu hàng, Lực Lượng Tuần Duyên tình nghi có người bên trong một container chất lên tàu từ Ấn Ðộ.









Tàu hàng Ville D’Aquarius, cập ở bến cảng Port Newark, New Jersey hôm Thứ Tư. Tuần Duyên Mỹ tình nghi có người bên trong một container được chất lên từ Ấn Ðộ, theo giấy tờ, bên trong chứa cơ phận máy móc. (Hình: AP/Julio Cortez)


Một toán Tuần Duyên lên chiếc Ville D’Aquarius, dài 850ft, ngoài cảng New York, cách bờ chừng 20 dặm, vào sáng sớm Thứ Tư, khi chiếc này đang chuẩn bị cập vào bến Port Newark. Tại đây họ nghe những âm thanh như có người bên trong container.


Drew Barry, thuộc Sandy Hook Pilots Association, cho biết ông lên tàu lúc 5 giờ sáng. Ông nói: “Nếu có người trong container đó, và họ sống trong tình trạng không nước không thức ăn trong nhiều ngày, chắc là tuyệt vọng lắm.”


Phát ngôn viên Tuần Duyên, Charles Rowe, cho biết, bên trên container này có ít nhất từ 30 đến 40 container khác, phải chờ mất nhiều giờ và có thể cả ngày mới xuống đến container tình nghi có người bên trong.


Ông Rowe cho biết thêm, giấy tờ khai thùng này chứa phụ tùng máy móc và được chất lên tàu ở Ấn Ðộ.


Con tàu khởi hành hôm 30 Tháng Năm từ United Arab Emirates, rồi dừng một chặng ở Pakistan và hai chặng ở Ấn. Trạm dừng cuối cùng của nó trước khi đến Newark là Ai Cập, vào ngày 15 Tháng Sáu. (TP)

Hoa Kỳ và Trung Quốc gặp nhau dưới đáy biển

 


LTS – Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được là chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người-Việt,” xuất hiện Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Từ 27 tháng 6 này đến mùng 7 tháng 8, 22 quốc gia trong vành cung Thái Bình Dương (RIMPAC hay Rim of the Pacific) sẽ có cuộc thao dượt hải quân hỗn hợp, hai năm lại tiến hành một lần. Lần này, có bốn quốc gia đã đưa tiềm thủy đĩnh (tầu ngầm) vào cuộc và Hoa Kỳ là nước duy nhất gửi tới loại tầu ngầm nguyên tử.










 Chiến hạm Hoa Kỳ trên Thái Bình Dương (Hình: Adam K. Thomas/U.S. Navy via Getty Images)


 Hiển nhiên là Hải Quân Trung Quốc và lãnh đạo Bắc Kinh theo dõi rất sát khả năng vận hành của Hoa Kỳ dưới đáy biển.


Vì thế, “Hồ Sơ Người-Việt” kỳ này xin tìm hiểu khái quát về cuộc hội ngộ đó.


Việc Trung Quốc xây dựng lực lượng hải quân lớn mạnh đã khởi sự từ 20 năm trước, tức là 10 năm sau khi quốc gia này bắt đầu cải cách kinh tế. Nhưng mục tiêu bành trướng ngày càng trở thành tinh vi và có trọng tâm. Ngày nay, sự kiện đó đã thành mối quan tâm cho nhiều quốc gia trong vùng và nhất là cho Hoa Kỳ.


Là siêu cường quân sự có thực lực từ cả trăm năm nay, mà cũng là một “quốc gia hải đảo” nằm giữa hai đại dương lớn nhất địa cầu, Hoa Kỳ cần phát triển khả năng lưu thông tự do trên mọi mặt biển để bảo vệ quyền lợi của mình. Ngược lại, Trung Quốc mới chỉ ra khỏi đại lục và vừa bước chân xuống biển. Sự gặp gỡ tất nhiên của hai nước là một biến cố đáng chú ý.


Chúng ta có nhiều giác độ khác nhau để nhìn vào cuộc gặp gỡ lịch sử này.


 


Trung Quốc ngoài Ðông Hải


 


Khái niệm Ðông hải hay “biển Ðông” là cách gọi tiện dụng, hàm ý mặt biển ở phía Ðông của Trung Quốc. Nếu không bị bó trong khuôn khổ tư duy và cảm nhận đó, người ta cũng có thể gọi biển Ðông này là… biển Tây của Hoa Kỳ. Nước Mỹ thực dụng không cần để ý đến cách gọi mà lại rất chú ý đến cách bảo vệ quyền lợi.


Khu vực Ðông Hải đó có hai phần.


Phía Bắc và đích thực là biển Ðông của Trung Quốc thì có vùng Ðông Bắc Á Châu, kéo dài từ lãnh thổ Nga qua bán đảo Triều Tiên, biển Nhật Bản xuống tới Eo biển Ðài Loan và dãy đảo Lưu Cầu hay Ryu Kyu của Nhật. Phía Nam, và đích thực là biển Ðông của Việt Nam, có vùng biển Ðông Nam Á. Nhìn theo giác độ kinh tế thì biển Ðông Nam Á mới là khu vực then chốt vì nối liền Thái Bình Dương với Ấn Ðộ Dương và là vùng sinh hoạt sinh tử của Nhật Bản phía Bắc với lãnh hải của Úc Ðại Lợi ở phía Nam. Ðây là nơi sinh sống của gần 600 triệu dân Ðông Nam Á và hai tỷ người chung quanh, từ miền Nam Trung Quốc đến bán đảo Ấn Ðộ.


Một số nhà tư tưởng hay lý luận của Trung Quốc và cả Tây phương nhắc đến chuyện xưa để bàn về chuyện nay. Nếu ngày nay Trung Quốc coi Ðông hải là khu vực chiến lược của họ thì chẳng khác gì Hoa Kỳ đã từng xem Tây Bán cầu, là đại lục Mỹ Châu nếu nhìn từ Âu Châu, là khu vực ảnh hưởng của Mỹ.


Họ nhắc đến “Chủ thuyết Monroe” của Hoa Kỳ xuất hiện từ đầu thế kỷ 19 dưới thời Tổng Thống James Monroe. Thật ra, chủ thuyết đó do Ngoại Trưởng John Quincy Adams đề xướng (trước khi cũng thành tổng thống) nhắm vào hai khía cạnh. Thứ nhất, sau hàng loạt cuộc chiến thời Napoléon, Hoa Kỳ không muốn can dự vào chuyện Âu Châu. Thứ hai, Hoa Kỳ cũng không muốn các nước Âu Châu lập thêm thuộc địa tại các quốc gia Trung Nam Mỹ.


Về sau, khái niệm hai mặt đó được thu gọn thành “Mỹ Châu là của người Mỹ.” Mà “người Mỹ” ở đây là Hoa Kỳ. Trung Quốc ngày nay cũng có thể lý luận trên các diễn đàn quốc tế rằng “Á Châu là của người Á” với hàm ý là không của Hoa Kỳ.


Chỉ nội lý luận đó đã nói lên mâu thuẫn không thể tránh với nước Mỹ, khi Hoa Kỳ khẳng định rằng mình là một quốc gia Châu Á và bảo vệ quyền lợi của Mỹ tại Á Châu là mục tiêu chiến lược. Lý luận này của Hoa Kỳ không xuất phát từ Ngoại Trưởng Hillary Clinton ngày nay mà từ lãnh đạo Mỹ vào đầu thế kỷ 20, trước tiên là Tổng Thống Theodore Roosevelt.


Hệ quả thứ hai của “chủ thuyết Monroe – với màu sắc Trung Hoa,” rằng Á Châu là của người Á, còn đụng vào một thực tế phức tạp khác của Châu Á. Về địa dư, lục địa này bao gồm các nước Tây Á như Iran hay Saudia Arabia đến Viễn Ðông, như Nga, Ðại Hàn, Nhật Bản qua bán đảo Ấn Ðộ đến các quốc gia quần đảo hay bán đảo tại Ðông Nam Á. Trong một chuỗi dài như vậy, Á Châu là của người Á nào?


Nói cách khác, Á Châu có thể là của người Á, mà không thể là của người Trung Hoa. Nhật Bản, Ðại Hàn, Ấn Ðộ và nhiều quốc gia khác tất nhiên cũng đồng ý như vậy!


Một cách nhìn cũng chiến lược, và đây là vấn đề của Việt Nam, thì nếu ngoài Ðông hải của Trung Quốc (khu vực Ðông Bắc Á), lãnh đạo Bắc Kinh gặp phải bốn nước cứng đầu là Nga, Nam Hàn, Ðài Loan Nhật Bản, tại Ðông hải của Việt Nam (khu vực Ðông Nam Á), họ không có đối thủ. Vì chỉ gặp các nước nhỏ yếu hơn, đó là 10 quốc gia trong Hiệp hội ASEAN.


Chiến lược Ðông hải của Trung Quốc tất nhiên nhắm vào Ðông Nam Á, gây ảnh hưởng tới 10 nước trong nhóm ASEAN. Ða số trong nhóm này lại là đồng minh hay đối tác của Hoa Kỳ.


Sau khi nhắc lại bối cảnh chung, chúng ta nên mò sâu hơn xuống đáy biển.


 


Hải Quân Trung Quốc


 


Hoa Kỳ là siêu cường đại dương từ cả thế kỷ. Hàng không mẫu hạm đầu tiên của Mỹ đã được hạ thủy từ 1911, 100 trước khi Hải Quân Bắc Kinh thử nghiệm “tầu sân bay” Varyag mua lại của Ukraine. Hoa Kỳ cũng là cường quốc thường xuyên lâm chiến ở mọi nơi trong mọi hình thái chiến tranh và có kinh nghiệm chiến trường hơn hẳn mọi quốc gia khác trên địa cầu. Binh lính và sĩ quan Mỹ lên lon là từ thành tích tác chiến và cải thiện phương pháp tổ chức hay chiến lược, chứ không từ các tiêu chuẩn nào khác, như đảng tịch, hay sắc tộc.


Kết hợp với sức mạnh kinh tế và khả năng sáng tạo về kỹ thuật từ cả trăm năm, Hoa Kỳ trở thành quốc gia không đối thủ ngoài đại dương. Ngoài đại dương tức là trên không gian và dưới cả đáy biển. Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng hoặc đưa quân vào kiểm soát Trung Quốc qua hình thức trận địa chiến, như Nhật Bản đã làm và thất bại. Siêu cường này chỉ cần bảo vệ quyền tự do và ưu thế của mình trên các đại dương, và dĩ nhiên ngoài Ðông hải của Trung Quốc và Ðông hải của Việt Nam.


Trước một đối phương như vậy, Trung Quốc không dại gì mà trực diện thách đố, gây hấn hay tấn công trong một cuộc chiến tất bại ở ngoài đại dương.


Lãnh đạo Bắc Kinh chỉ muốn cản trở sự xâm nhập của Hoa Kỳ ở ngoài biển và ngăn ngừa sự khống chế của Hoa Kỳ trên không gian. Họ nhắm vào hai mục tiêu “cản trở” và “ngăn ngừa” (Ngũ Giác Ðài của Mỹ gọi tắt là A2/AD, anti-access/area denial) với điều kiện là không bị thiệt hại. Họ thực hiện mục tiêu có điều kiện ấy qua tính toán về lẽ hơn thiệt: làm sao cho Hoa Kỳ cân nhắc lợi hại và e ngại tổn thất mà chấp nhận sự hiện diện của Trung Quốc ngoài biển.


Không thể trực diện đối đầu ngoài biển và trên không gian, Trung Quốc đi ngầm ở dưới: dùng tiềm thủy đĩnh làm sức mạnh hăm họa hay can gián. Ngày xưa, chúng ta có một chữ cho khái niệm “deterrence” này, là “gián chỉ,” xin hiểu là can gián và cấm chỉ.


Vì lối tính toán ấy, Hải Quân Trung Quốc ngày nay có lực lượng tiềm thủy đĩnh cổ điển lớn nhất thế giới. Cổ điển là chạy bằng dầu cặn, diesel. Song song, họ cũng có một số tầu ngầm chạy bằng năng lượng nguyên tử (hay hạt nhân, hạch tâm, nuclear). Gần đây, dường như họ còn cải tiến loại cổ điển bằng sức đẩy của phản lực để có thể nằm lâu hơn dưới đại dương. Hiện nay, Hải Quân Trung Quốc đã có 60 tầu ngầm đủ loại và đặt chỉ tiêu là nâng số này lên 75 trong thập niên tới.


Nhưng nằm im dưới biển để làm gì nếu không có khả năng tấn công?


Khả năng đó là loại phi đạn đối hạm ASBM, Anti Ship Ballistic Missile. Dùng ám khí bắn từ đáy biển để phục kích các chiến hạm của Mỹ. Nếu các ám khí này lại mang đầu đạn nguyên tử thì ưu thế của các hạm đội Mỹ có thể bị triệt tiêu. Các nhà nghiên cứu quân sự đều đang tìm hiểu khả năng này của Hải Quân Trung Quốc (được gọi tắt là PLAN, People’s Liberation Army – Navy).


Vì thế, song song với cách dàn trận trên mặt đất, như xây dựng các đơn vị Công Binh của Hải Quân, loại Hải quân Công xưởng, ngoài biển Ðông Nam Á là chuyện đang xảy ra, Trung Quốc cũng bố trí phương tiện dưới đáy biển. Và tìm hiểu xem Hoa Kỳ biết được tới đâu và sẽ làm những gì để chống trả.


Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn vào không gian ba chiều này, trên không, ngoài biển và dưới đáy, như một hệ thống quân sự thống nhất, với sự phối hợp chặt chẽ về thông tin, điều động và tác chiến. Vệ tinh, tầu ngầm hay hỏa tiễn gì thì cũng do con người điều khiển căn cứ trên nhận thức và tổ chức với những phương tiện hiện đại nhất mà cũng phải là bí mật nhất.


Hoa Kỳ đã có cả trăm năm đào luyện, Trung Quốc mới chỉ bắt đầu. Khi nào các sĩ quan hải quân đời nay lên tới chức Ðô đốc, trong sự cải tiến đồng bộ của cả hệ thống quốc phòng, thì hải quân Trung Quốc mới trở thành một sức mạnh đáng kể. Nghĩa là cũng phải một thế hệ, 25-30 năm nữa. Trong khoảng thời gian đó, Hoa Kỳ không ngồi yên hoặc ngủ quên.


Ðiều đáng chú ý nhất của cuộc cờ đấu trí hơn là đấu lực, Hoa Kỳ lại thường hay hốt hoảng.


 


Tương quan lực lượng


 


Người ta có cảm tưởng là nước Mỹ chỉ có khả năng tập trung trong ngắn hạn vào những ưu tiên nhất thời, nên lâu lâu lại giật mình rằng họ có vấn đề và bị tụt hậu trong nhiều lãnh vực khác. Truyền thông và chính giới Hoa Kỳ thường có thói quen như vậy. Rồi trong cái trớn của sự “giác ngộ,” người ta mới vận động phương tiện (ngân sách) cho các ưu tiên mới đã bị lãng quên quá lâu…


Một thí dụ liên quan đến hồ sơ lần này là cuộc tranh luận về ngân sách quốc phòng để trang bị cho hải quân. Hoa Kỳ cần phải có 600 chiến hạm như dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan, chứ chỉ có 284 đơn vị như hiện nay thì không đủ, nhất là khi cần bố trí 60% lực lượng hải quân tại Thái Bình dương. Một thí dụ khác là từ năm 2000, so với Mỹ thì Hải Quân Trung Quốc đã thiết kế tầu ngầm nhiều gấp bốn lần, và qua năm 2005 thì tỷ lệ này lên gấp tám. Trong khi ấy, Hải Quân Mỹ mất dần khả năng tấn công tiềm thủy đĩnh và sẽ thua sút Trung Quốc. Một thí dụ cũng thời sự là lời báo động về cuộc thi đua võ trang do Trung Quốc đề xướng trong khi cả nước Mỹ lên cơn sốt về nhu cầu tiết giảm công chi và phải cắt bớt quân phí.


Trong cuộc thao dợt RIMPAC kỳ này, chắc chắn là truyền thông được nhắc nhở về tình trạng sa sút đó của Hoa Kỳ. Hoặc về sức mạnh của các tiềm thủy đĩnh Trung Quốc, ngày càng chìm sâu và lâu hơn, di động âm thầm hơn nên khó bị phát giác, với những ám khí hiện đại hơn. Song song, Hoa Kỳ cũng phải quan niệm lại chiến lược phòng thủ tích cực của mình qua sự hợp tác với các đồng minh tại Ðông Nam Á. Người ta nói đến khái niệm “trục bánh và nan hoa” (hub and poke) theo đó, Hoa Kỳ là trục bánh xe nằm ở giữa, chung quanh là những chiếc nan hoa nối kết với các đồng minh ở ngoài biển Ðông.


Các đề tài ấy rất hấp dẫn cho truyền thông báo chí và tất nhiên là được Trung Quốc mở ăng ten theo dõi rất sát để thẩm định tương quan lực lượng giữa hai bên.


Kết luận ở đây?


Bắc Kinh có thể thấy mình đang có cơ hội nhấn tới. Khi nước Mỹ còn lúng túng bên trong về chuyện chi thu đến độ hụt hơi về quốc phòng thì đấy là lúc Trung Quốc phải nắm lấy thời cơ và đầu tư rất mạnh vào hệ thống gián chỉ của mình dưới đáy biển.


Nhưng chúng ta nghĩ sao nếu Hoa Kỳ cũng mong muốn điều ấy?


Gần một phần tư thế kỷ trước, dưới thời Tổng Thống Jimmy Carter, dân Mỹ cũng than vãn về kinh tế suy sụp và tâm lý bất an (malaise) của Hoa Kỳ và báo động về sự lớn mạnh của Liên Bang Xô Viết. Sau đó cuộc thi đua khiến Liên Xô sụp đổ – một cách bất ngờ như nhiều người đã bình luận!

Vàng Ðen (Kỳ 141)

 


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 141


 


Giấc ngủ tưởng chừng thiên thu. Không biết bao nhiêu thời gian cả hai đã ôm nhau ngủ trên chiếc ghế bành. Khi Phong cựa mình tỉnh giấc, bên trong phòng chỉ thấy tối đen, nhưng Phong vẫn có thể nhận thấy đôi mắt đen nhánh đang chăm chú ngước nhìn mình.


-Ồ, tôi ngủ quên mất… Không biết…


-Em cũng ngủ quên, em nghĩ có lẽ khoảng ba giờ chiều.


Cô nàng này có vẻ thông minh. Chưa hết lời đã đoán ra được ý.


-Tôi ngủ hư quá nhỉ?


Không trả lời câu hỏi của Phong, Mộng Cầm thì thào nói:


-Anh Phong… Em cám ơn anh.


-Sao lại cám ơn tôi?


-Anh đã cho phép em dựa đầu ngủ trên vai anh.


-…


-Em chưa bao giờ được ngủ một giấc bình an, không lo sợ như vậy… Em cảm thấy thật an toàn bên anh. Em cám ơn anh.


Ấp úng, Phong không biết trả lời sao.


-Tôi… tôi…


-Em thèm khát một ngày nào đó, được gối đầu, nằm ngủ trên vai một người thật đàn ông như anh. Ðược người đó cho phép hầu hạ…


-Mộng Cầm, đừng, đừng nói như vậy. Tôi thật sự không thoải mái.


-Em biết trong tim anh hiện đang có người khác, dù anh có thể yêu được em hay không, em cũng vẫn van xin anh cho em được phép yêu anh…


-…


-… Em sẽ không đòi hỏi một chút gì nơi anh, em sẽ giữ một khoảng cách để anh luôn luôn được thoải mái. Nhưng khi có cơ hội, anh cho em được săn sóc, hầu hạ cho anh.


Phong càng nghe, càng không hiểu nổi, sao lại có người đàn bà lãng mạn như vậy


-Tôi vẫn chưa thể hiểu nổi những gì Mộng Cầm muốn nói. Ái tình chứ đâu phải nô lệ. Mộng Cầm, mình vẫn có thể là bạn tốt với nhau…


-Không, em không muốn là bạn, em muốn là người yêu anh.


Vô cùng lúng túng để đi sâu vào những gì Mộng Cầm muốn, Phong vội né trái tim sang một bên.


-Tôi sẽ đối xử và quý mến Mộng Cầm như một người em gái.


-Không, em không muốn loạn luân dù em chưa sẵn sàng trao phần thể xác cho anh.


Phong tự hỏi, không biết cô này lãng mạn hay điên. Muốn yêu, muốn được yêu, nhưng lại không muốn có sự va chạm thể xác. Trái tim phải né thêm cú nữa.


-Mộng Cầm, mình có thể nói chuyện này vào một lúc khác không? Hiện giờ, tôi cần rửa mặt cho tỉnh một chút. Nếu có thể, tôi xin một chút gì để dằn bụng cho bữa tối.


Những gì Phong nói, quả không một chút tế nhị trước một người đàn bà đang nói những lời yêu đương. Nhưng Phong phải né. Lạng quạng một chút nữa, cô nàng sẽ dùng cái lúng túng của mình để điểm huyệt cái rột. Nhưng né chỗ này, đụng chỗ khác.


-Anh cứ ngồi yên, em đem nước lên cho anh rửa mặt. Rửa mặt xong, em làm cơm ngay cho anh.


-Mộng Cầm, cho phép tôi vào nhà tắm để làm sạch sẽ một chút. Trong khi đó, Mộng Cầm chỉ cần tìm chút gì để ăn qua loa thôi. Nếu được nữa, tôi sẽ cùng ngồi ăn với Mộng Cầm.


Ðiệu này, cô nàng điên hơn là lãng mạn. Cái bánh phỉnh ngồi ăn chung xem chừng có hiệu quả.


-À này, Mộng Cầm, còn những đứa em của tôi thì sao?


-Em bảo đảm với anh, một trăm phần trăm, chúng được đối xử tốt. Anh đừng ngại, lát nữa ra sau rửa mặt, anh sẽ gặp những người ấy.


Mộng Cầm không điên chút nào như Phong tưởng. Mộng Cầm đang muốn chiếm đoạt. Xa hơn cả sự lãng mạn, Mộng Cầm muốn trọn vẹn chiếm Phong từ Phong Sương. Linh hồn lẫn thể xác. Tuy rơi vào cái bẫy ái tình, con người của Mộng Cầm vẫn đủ khôn khéo để hiểu, không thể đến với Phong bằng một cách bình thường. Dùng sự thương hại để mở con đường cho Phong đến với mình; Từ thương hại đến thương thật, con đường chắc chẳng xa.


Phong không ngờ ngôi nhà lại quá rộng phía bên trong. Dễ đến có năm, sáu phòng. Tụi nhỏ của Phong đang thoải mái, ngả ngớn chơi xì dách với lũ người của Mộng Cầm. Vài tên trong lũ người của Mộng Cầm ngồi vật vờ xa xa, phì phèo điếu thuốc lá nhưng những đôi mắt vẫn kín đáo canh chừng. Trong đám hỗn độn đó, Phong không thấy bóng ông Sán, người của ông Sán, cũng không thấy cả tên da trắng bị cụt ba ngón tay cùng hai tên ẩu đả với mình. Nhìn chung tình hình, Phong thấy cũng chật vật để tẩu thoát.


Dẫn Phong đến ngưỡng cửa nhà tắm, Mộng Cầm chừng không muốn rời. Trông cô nàng thờ thẫn như người để quên hồn ở một cõi nào khác. Ðôi mắt tha thiết nhìn Phong.


-Anh để cho em tắm cho anh…


-Cám ơn Mộng Cầm, tôi tự làm được.


-Vết thương trên vai của anh vẫn chưa lành hẳn, anh để em tắm cho anh.


-Không.


Sau khi xẵng giọng với cô nàng, Phong khá ân hận. Ðôi mắt tha thiết của người nữ bỗng trở thành buồn. Ân hận làm Phong không nhìn thấy trong cái buồn của đôi mắt, thoáng một tia nhìn ác độc lạ thường.


-Mộng Cầm, tôi không có ý thô lỗ như vậy, nhưng Mộng Cầm cũng nên cho tôi một chút thoải mái.


Cô nàng còn cố nán lại bằng cách chỉ cho Phong đâu là khăn tắm, đâu bàn chải đánh răng, trước khi quay ra.

Pháp luật Việt Nam quá nhân từ?

Về “Khi chủ tịch nước cũng kêu buồn


 


 Ðúng là xã hội Việt Nam này buồn tẻ thật. Người giàu thì cứ giàu người nghèo thì vẫn vậy, thiết nghĩ như câu nói người xưa “con vua rồi lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa” tôi rất đồng tình với chủ tịch nước về hiện trạng tình hình Việt Nam chúng ta.


Chúng ta không thể phủ nhận Việt Nam ta nhỏ bé kiên cường ngày một vững mạnh biết bao người con đất Việt hy sinh cho nền độc lập của nước nhà, đáng buồn hơn là thế hệ cầm cân nảy mực sau này đang làm mất đi dần giá trị đó. Việt Nam chúng ta tự hào với thế giới rằng tuy chúng ta có nghèo nhưng nhân dân ta biết chia sẻ đùm bọc nhau thể qua chương trình nối vòng tay lớn mà đảng và nhà nước làm vơi nhân dân một việc làm vô cùng ý nghĩa và có trách nhiệm, nhưng thực tế bây giờ pháp luật của Việt Nam còn quá nhân từ, nước mình bỏ qua việc xét xử tử hình là sai lầm chúng ta cần phải làm kiên quyết như Trung Quốc. Tôi xin góp ý kiến chúng ta vẫn nên để mức tử hình để răn đe các thế hệ sau này.


 Thực trạng chống tham nhũng nhà nước đề ra là không thể, hãy áp dụng mức tham nhũng 500 triệu bị tù chung thân; 1 tỉ đồng bị tử hình; buôn bán heroin 5 tép bị tù chung thân rồi, còn việc phá rừng cũng nên xét đến vấn đề này, thiết nghĩ nhà nước ta không nghiêm trị bằng phát luật mà cứ để tình trạng này diễn ra nước ta sẽ mất nước mất. Các ông chủ tập đoàn kinh tế thi nhau tham nhũng đầu tư thất thoát mà cũng chỉ bị tù chung thân khi họ có tiền sẽ chạy xuống mức án thấp rồi chẳng mấy mà hiên ngang bước đi trên con đường Việt Nam chúng ta. Nhà nước đừng nói đến thành tựu kinh tế mà hãy nhìn nhận thức trạng Việt Nam, chúng ta mà mổ xẻ tìm hướng giải quyết thấu đáo, làm được điều đó nước ta mới phát triển được.


namhung261087


 


Ðến bây giờ đã là thế kỷ thứ 21 rồi, Internet nhanh như sao xẹt, vậy mà vẫn còn những tên Cộng phỉ đầu sỏ giở trò láo, lừa với thiên hạ. Bày đặt tỏ vẻ cảm động, thương dân mến nước, ngày không buồn ăn, đêm không buồn ngủ, v.v… chỉ chuyên gạt gẫm con nít, đàn bà được thôi. Một lũ Cộng phỉ mặt chai mày đá không biết nhục.


Khanh H. 

Khỏe re như bò kéo xe

 


Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)


 


Gần đây, các cơ quan truyền thông tiếng Việt ở khắp nơi loan tin, theo bảng xếp hạng “chỉ số hành tinh hạnh phúc” của New Economics Foundation, Việt Nam là quốc gia có chỉ số “hạnh phúc” đứng nhất ở Châu Á và đứng nhì trên thế giới, chỉ sau Costa Rica; và bỏ xa các quốc gia phát triển và giàu có khác, như Nhật (thứ 45), Ðức (46), Pháp (50), Hàn Quốc (63), Canada (65), Mỹ (105), v.v…










Hình chụp năm 2012 tại Hà Giang. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Trước đây, Viện dư luận BVA và tổ chức Gallup cũng xếp hạng Việt Nam là nước lạc quan nhất thế giới (nước đứng cuối bảng là Pháp, được xem là bi quan nhất).


Ðọc những bản tin như thế, thoạt đầu, bao giờ tôi cũng thấy vui; sau, thấy vui vui.


Và cuối cùng, lần nào cũng thế, lại nhớ đến một bà dì họ của tôi. Dì Mười.


Trong giới phụ nữ thuộc bên ngoại của tôi, dì Mười suýt nữa là người đẹp nhất. So với những người khác, dì cao hơn hẳn, da trắng hơn hẳn, mũi thẳng hơn hẳn, và đặc biệt, mắt lớn và sáng hơn hẳn. Tiếc, dì bị một khuyết tật khiến tôi phải dùng chữ “suýt” ở trên: Hồi nhỏ không biết dì bị bệnh gì đó khiến một chân và một tay của dì hơi bị rút lại, còn miệng thì hơi bị méo đi một chút. Dì đi theo kiểu chấm phẩy, một chân bước ngay ngắn, còn một chân thì hơi hụt, kéo lê trên mặt đất, vì vậy ống quần ở chân ấy bao giờ cũng dính đầy bụi đất, dày cộm lên, trông rất dơ bẩn.


Mà dì bẩn thật. Lúc nào cũng bẩn. Quần áo của dì, trong ký ức của tôi, suốt mấy chục năm, hầu như lúc nào cũng màu đen, và lúc nào cũng cũ kỹ, rách rưới, vá chằng vá đụp. Dì lại ăn trầu và hút thuốc, thường là thuốc Cẩm Lệ vấn sâu kèn, lâu lâu lại phun nước miếng phèn phẹt xuống nền đất. Hồi nhỏ, tôi thương dì, nhưng lại cảm thấy ghê ghê, không dám gần dì. Hình như tôi chưa bao giờ bước vào nhà dì, lúc nào cũng là một túp nhà lụp xụp, chật chội, tối tăm, nằm đâu đó ở ngoài rìa làng. Tôi chỉ gặp dì những lúc dì đến nhà tôi. Cũng không thường xuyên lắm. Khoảng vài ba tháng một lần. Thường, đến nhà, dì nói về tướng số người này người nọ, kể chuyện tiếu lâm, không ngần ngại phun ra những chữ rất tục. Dì nói chuyện rất vui và có duyên. Dì nhớ rất nhiều ca dao, tục ngữ, thơ cổ và đặc biệt sấm Trạng Trình.


Những lần dì đến chơi như thế, nói chuyện được một lát, bao giờ mẹ tôi cũng rầy dì. Chuyện tướng số, mẹ tôi không tin, rầy dì nói nhảm. Rồi lại rầy dì không tắm giặt cho sạch sẽ, không bới tóc cho gọn gàng, không chịu làm ăn cho tử tế. Rồi hai chị em cãi nhau. Rồi dì đứng phắt dậy, cầm chiếc nón lá ngoe nguẩy ra về. Với một bàn chân lẹt quẹt kéo lê dưới đất.


Thường, mẹ tôi lại kéo dì lại, dúi vào tay dì ít tiền hoặc kéo ra sau, đưa cho dì ít ký gạo.


Mẹ tôi biết dì và các con dì đang đói.


Có lẽ dì thường xuyên đói. Chồng dì đi lính, chết trận. Dì một mình nuôi bốn năm đứa con nhỏ xíu. Lại tàn tật. Tôi thực tình không biết dì làm gì để sống. Có lẽ chỉ làm thuê làm mướn những việc không quá nặng nề. Và có lẽ bằng việc coi bói. Dì nổi tiếng coi bói hay. Nhưng cũng chỉ nổi tiếng trong làng. Mà làng lại nghèo. Nên có lẽ dì không thể sống hẳn bằng cái nghề ấy được. Coi xong, người ta thương tình tặng cho dì ít tiền hoặc ít lúa gạo. Vậy thôi.


Nhưng dì lúc nào cũng cười. Cũng vui. Khi ai hỏi về đời sống của dì như thế nào, bao giờ dì cũng đáp lại bằng một câu, một câu duy nhất: “Khỏe re như bò kéo xe!” Rồi lại cười hê hê.


Sau năm 1975, dì cũng kéo được mấy đứa con vào Nam, sống ở Ðồng Nai. Cả gia đình dì làm rẫy. Nhưng lúc ấy con dì vẫn còn nhỏ, còn dì thì tàn tật nên sức canh tác và thu hoạch chắc cũng chẳng được bao nhiêu. Lâu lâu dì lại lẹt quẹt kéo lê bàn chân đầy bụi đất đến nhà tôi. Lại nói chuyện bói toán. Lại kể chuyện tiếu lâm. Lại cười hê hê. Khi ai hỏi về đời sống của dì, dì cũng lại đáp: “Khỏe re như bò kéo xe!”


Gần đây, anh tôi về Việt Nam, lại gặp dì. Con cái dì đã lớn, và may mắn, có một đứa làm ăn tương đối khá, dì không còn đói nữa. Nhưng vẫn nghèo. Và già yếu. Bàn chân tật nguyền vẫn lê lẹt quẹt trên đường, lúc nào cũng dính đầy bụi đất. Dì vẫn say sưa với chuyện bói toán, vẫn đoán hậu vận người này kẻ khác, vẫn thích nói chuyện tiếu lâm. Và vẫn cười hê hê.


Hỏi về đời sống của dì, dì vẫn đáp: “Khỏe re như bò kéo xe!”

‘Chương trình chế tạo bom nguyên tử của Iran’ – Vấn đề sôi nổi của thế giới

 


 


Nguyên tác: Kenneth N. Waltz


Lược dịch: Trần Bình Nam


 


LTS – Tạp chí Foreign Affairs, số tháng 7 & 8, 2012, đăng bài của Giáo Sư Kenneth Waltz, Ðại Học Columbia, có tựa đề “Why Iran Should Get the Bomb” (Tại sao Iran cần có bom nguyên tử). Bài viết có lập luận “lề trái,” thường thấy tại các đại học, nhưng không phải là không đáng quan tâm đối với Do Thái và nhất là Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng độc giả bản lược dịch dưới đây.


***


Trong mấy tháng qua dư luận thế giới sôi nổi thảo luận thái độ Hoa Kỳ và Do Thái cần có để đáp ứng chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử của Iran.


  Hoa Kỳ đã tăng các biện pháp trừng phạt Iran và trong tháng 1, 2012, Cộng đồng Âu Châu thông báo sẽ không mua dầu hỏa của Iran từ ngày 1 tháng 7 năm nay. Không khí có vẻ khẩn trương dù mới đây Hoa Kỳ, Do Thái và Iran lại ngồi vào bàn thương thuyết.


Mặc dù các nhà làm chính sách cũng như các nhà bình luận tại Hoa Kỳ, Do Thái và Âu Châu đều cho rằng Iran có bom nguyên tử là điều nguy hiểm nhất cho thế giới, nhưng biết đâu – Giáo Sư Kenneth Waltz lập luận – Iran có bom nguyên tử lại làm cho thế lực tại Trung Ðông cân bằng và do đó được ổn định hơn.


Thế lực cần được cân bằng:


Cuộc khủng hoảng nguyên tử Iran có thể kết thúc bằng một trong 3 kịch bản sau.


Thứ nhất, Iran ngưng chương trình chế tạo trước áp lực ngoại giao và các biện pháp trừng phạt quốc tế. Nhưng điều này khó xẩy ra. Một nước khi đã quyết tâm trang bị vũ khí nguyên tử ít khi bỏ vì áp lực. Bắc Hàn chẳng hạn, đã vượt qua nhiều đe dọa và trừng phạt của Liên Hiệp Quốc và đã chế tạo được bom nguyên tử. Nếu Iran nghĩ rằng vũ khí nguyên tử sẽ bảo đảm an ninh quốc gia hơn thì họ sẽ đi đến cùng.


Kịch bản thứ hai, Iran không chế tạo bom ngay mà chuẩn bị hiểu biết khoa học và phương tiện kỹ thuật để ráp bom khi cần trong một thời gian ngắn. Ðó là kế sách của Nhật Bản hiện nay. Kịch bản này vừa làm yên lòng thành phần có trách nhiệm về an ninh của Iran vừa tránh được sự trừng phạt của thế giới. Nhược điểm của kịch bản này đối với Iran là không biết chắc khi cần có ráp được bom hay không.


Hoa Kỳ và cộng đồng Âu Châu có thể yên tâm với kịch bản này, nhưng chưa chắc Do Thái yên tâm. Và nếu Do Thái tiếp tục tìm cách phá hoại và ám sát chuyên viên nguyên tử của Iran thì Iran sẽ không thấy kịch bản này là toàn hảo.


Kịch bản sau cùng là Iran bất chấp áp lực quốc tế cứ đi tới, chế tạo và cho nổ thí nghiệm. Hoa Kỳ và Do Thái từng tuyên bố đây là một viễn ảnh kinh hoàng không chấp nhận được. Tuy nhiên tiền lệ cho thấy các nước độc quyền vũ khí nguyên tử thường tuyên bố mạnh bạo như vậy, nhưng khi đứng trước “sự đã rồi” thì mọi việc cũng êm xuôi. Và thực tế thế giới cũng không mất ổn định hơn.


Do Thái đã có bom nguyên tử từ 40 năm qua (Do Thái và bom nguyên tử) và dù không nói ra ai cũng thấy vùng Trung Ðông mất ổn định vì Do Thái ỷ có bom nguyên tử một mình thường hành động một cách quá khích. Nếu Iran có bom nguyên tử sức mạnh của Do Thái được cân bằng và tình hình Trung Ðông có thể sẽ bớt căng thẳng.


Người ta thông cảm tại sao Do Thái (TBN: sống giữa một khối Ả Rập thù nghịch) muốn mình là lực lượng duy nhất trong vùng có bom nguyên tử và sẵn sàng dùng sức mạnh để duy trì ưu thế này. Do Thái đã đánh bom phá hủy cơ sở sản xuất bom nguyên tử của Syria năm 2007 và giờ đây cho biết sẽ làm như vậy với Iran.


Ưu thế của Do Thái kéo dài sự bất thăng bằng quyền lực tại Trung Ðông đã khá lâu. Và các nước trong vùng thấy cần phải làm gì đó (thí dụ Iran quyết định chế tạo bom nguyên tử) để chấm dứt ưu thế của Do Thái. Với góc nhìn đó cuộc “khủng hoảng nguyên tử Iran” có thể xem là sự việc giúp chấm dứt sự bất cân bằng quyền lực tại Trung Ðông.


 


Nỗi sợ hãi thiếu căn cứ của thế giới


         


Một trong những lý do thế giới phập phồng lo sợ Iran có bom nguyên tử vì chưa tìm hiểu thấu đáo tâm lý của các quốc gia có bom. Thế giới Tây phương cho rằng các nhà lãnh đạo Iran là những kẻ nguy hiểm dựa vào những lời tuyên bố sắt máu của họ (TBN: như đòi xóa bỏ Do Thái trên bản đồ thế giới). Nhưng thực tế chứng tỏ các nhà lãnh đạo Iran có đủ tỉnh táo để lãnh đạo đất nước một cách khôn ngoan. Sẽ là một sự nhầm lẫn lớn nếu Hoa Kỳ và Do Thái nhất quyết tin rằng các nhà lãnh đạo Iran chế bom nguyên tử không phải để ngăn ngừa một cuộc tấn công của Do Thái, và (khi đã có bom) có thể làm những hành động phiêu lưu đưa đến sự diệt vong của Iran.


Lẽ dĩ nhiên không ai có thể đoan chắc Iran sẽ hành động như thế nào. Nhưng chắc chắn Iran quyết chế tạo bom để bảo vệ an ninh quốc gia chứ không phải để tấn công phủ đầu Do Thái. Sự tồn tại của Iran là quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh đạo Iran và họ – dù có hay không có bom nguyên tử – cũng không muốn tự diệt. Mới đây, trước các đe dọa trừng phạt Iran cho biết sẽ đóng eo biển Hormuz, nhưng rồi Iran không làm gì cả vì Iran biết đóng eo biển Hormuz đụng chạm đến quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ ắt phải hành động.


Một số nhà quan sát và lãnh tụ chính trị khác tuy nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Iran không đến nổi điên, nhưng cũng nghi hoặc rằng một khi có vũ khí nguyên tử che chở, Iran sẽ bạo dạn chi viện cho các tổ chức khủng bố hay cung cấp vũ khí nguyên tử cho bọn khủng bố đánh Hoa Kỳ.


Nhưng nếu theo dõi cách hành xử của các quốc gia có bom nguyên tử từ năm 1945 đến nay chúng ta thấy gì? Nước nào chế được bom đều biết họ ở trong tầm nhắm của các thế lực khác và trở nên thận trọng hơn. Thí dụ Trung Quốc từ năm 1964 khi có vũ khí nguyên tử Mao trở nên ít hung hăng. Ấn Ðộ và Pakistan cũng vậy, trở nên mềm mỏng hơn khi có vũ khí nguyên tử. Iran cũng sẽ đi vào mẫu mực đó.


Chuyển vũ khí nguyên tử cho khủng bố cũng không nước nào dám làm vì không thể giữ kín xuất xứ và sẽ lãnh đủ nếu khủng bố dùng để tấn công một nước Tây phương, nhất là tấn công Hoa Kỳ.


Sự lo sợ khác là nếu Iran có bom nguyên tử các nước trong vùng (như Saudi Arabia, Iraq, Syria, Ai Cập…) cũng sẽ chế tạo bom nguyên tử tạo thành một cuộc chạy đua vũ khí tại Trung đông. Nhưng từ thập niên 1960 khi Do Thái có bom nguyên tử đến nay nếu các nước Ả Rập vốn không thân thiện với Do Thái đã không chạy đua chế tạo bom thì hôm nay không có lý do gì thấy Iran có bom lại hoảng sợ.


 


Hãy yên tâm


         


Năm 1991 khi Ấn Ðộ và Pakistan nhận ra rằng sự đe dọa (deterrence) lẫn nhau của hai kho vũ khí nguyên tử không làm cho quan hệ giữa hai nước căng thẳng bằng sự tìm cách phá hoại lẫn nhau (TBN: để làm giảm tiền lực nguyên tử của nhau) nên đã ký thỏa ước cam kết không đánh kho bom của nhau. Từ đó đến nay có lúc quan hệ giữa hai nước rất căng thẳng nhưng không đi đến chiến tranh. Giữa Iran và Do Thái cũng sẽ như thế. Khi Iran có bom hai nước có khả năng đe dọa lẫn nhau và sẽ không dễ đi đến đánh nhau. Và Trung Ðông sẽ ổn định hơn.


Kết luận, Hoa Kỳ, Do Thái và các nước đồng minh không cần phải quá lo Iran có bom nguyên tử. Giữ quan hệ tốt với Iran, giúp Iran sống với cộng đồng thế giới và hủy bỏ kế hoạch trừng phạt Iran. Chính sách trừng phạt hiện nay chỉ làm cho dân Iran khổ mà không mang lại một kết quả cụ thể nào cả.


Cộng đồng thế giới cần nhìn nhận một sự thật (khó nghe!) là nơi nào có vũ khí nguyên tử nơi đó ổn định hơn. Chẳng thà thế giới đã không làm ra bom nguyên tử. Nhưng khi lỡ có rồi thì độc quyền sở hữu mới là mối đe dọa cho thế giới.


Kenneth N. Waltz


(Trần Bình Nam lược dịch)


[email protected]


www.tranbinhnam.com

Thụy An (1915-1989), nữ sĩ hiện đại

 


Viên Linh


 


Vào ngày 16 tháng 6, 1989, nhà văn nữ Thụy An, tác giả Một Linh Hồn (truyện dài, 1942) và Bốn Mớ Tóc (tập truyện ngắn, 1950), từ trần tại Sài Gòn, thọ 74 tuổi. Thơ văn bà viết và đã xuất bản từ ba phần tư thế kỷ qua, tới nay đọc lại, tưởng như của một nhà văn của thế kỷ này.










Bìa cuốn “Bốn Mớ Tóc” của Thụy An, xuất bản năm 1950 tại Hà Nội.


Không những trong văn chương, mà trong đời sống, Thụy An là người mạnh bạo, thúc đẩy và tự thân tranh đấu cho nữ quyền, từ việc nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày (như kêu gọi cắt tóc ngắn, trong Bốn Mớ Tóc), tới viết báo, xuất bản báo riêng tại Sài Gòn, lấy tên là “Ðàn Bà mới” (La Femme nouvelle), chủ trương rõ ràng: “Journal feminin (la femme dans la famille et dans la société), bà là giám đốc quản lý, báo số 1 ra ngày 1 tháng 12, 1934 và sau ba năm thì ngưng ở số 95. Ðến năm 1939, bà tục bản tờ báo ở Hà Nội, chỉ còn lấy tên là “Ðàn Bà, Tuần báo xuất bản ngày thứ sáu” (La Femme – Hebdomadaire paraissant le vendredi). Báo Ðàn Bà số 1 xuất bản ở Hà Nội hôm 24 tháng 3, 1939, sống được 7 năm, đóng cửa vào 1945, số chót là số đôi: 302-303. Như thế về tác phẩm in thành sách, bà chỉ có vài cuốn, song về chữ nghĩa trên báo, báo của bà, có từ năm 1934, lúc bà 20 tuổi. Có một nhà văn nữ nào như thế sau này không? Chúng tôi không thấy.


Thật ra Thụy An còn hơn thế nhiều. Tên khai sinh là Lưu Thị Yến, sinh năm 1915 ở Hà Nội, quê gốc ở làng Vân Ðình, Hà Ðông, con ông Lưu Tiến Ích và và Phùng thị Tôn. Năm 13 tuổi có thơ đăng trên Nam Phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Do đó “cô tác giả” đã được Quốc Trưởng Bảo Ðại và Hoàng Hậu Nam Phương tiếp kiến. Khoảng 1950-51, khi còn là một cậu học sinh ở Hà Nội, người viết bài này đã nghe tên tuổi Thụy An vang lừng, song không phải qua văn chương, mà qua tin tức phóng sự nhật báo. Tin tức loan truyền: nhà hoạt động cách mạng Ðỗ Ðình Ðạo, từng là Quân ủy Trung ương của Quốc Dân Ðảng, bị ám sát chết, báo chí có nhắc đến tên Thụy An như là một người trách nhiệm, hoặc liên hệ. Sự thật ra sao cho tới nay không rõ, chỉ xin nhắc lại, đó là lúc chúng tôi đọc nhật báo từ nhỏ, nên biết đến tên của nhà văn nữ. Cuối thập niên ’50 khi đã ở Sài Gòn thì tên bà lại được báo chí nói đến nhiều. Lần này bà bị cộng sản Hà Nội qui tội làm gián điệp cho ngoại bang, hoạt động bên cạnh ông Nguyễn Hữu Ðang, Trần Thiếu Bảo, là hai nhân vật chủ chốt trong nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm; bà bị kết án và ở tù 15 năm trong nhà giam Hỏa Lò.


Trong bộ Nhà Văn Hiện Ðại, quyển năm, Vũ Ngọc Phan xếp Thụy An vào khuynh hướng Tiểu thuyết Xã hội cùng với Trương Tửu, Nguyên Hồng, Thạch Lam, Ðỗ Ðức Thu, Nhượng Tống,… Ông dùng những dòng sau đây để kết luận về Thụy An: “Một Linh Hồn cũng đáng kể là một tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay: tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn.” (NVHÐ, trang 1208).


Cách đây hai năm, một thân hữu đã gửi tặng Khởi Hành nhiều sách quí hiếm, trong có tập truyện ngắn Bốn Mớ Tóc của Thụy An, do nhà xuất bản Thế Giới xuất bản tại Hà Nội vào tháng 7, 1950. Sách dày 100 trang, trình bày thật mỹ thuật, dù bìa chỉ có 2 màu, đen và màu rêu. Ngoài bài “Thay lời tựa,” sách chỉ gồm có 3 truyện: Một Thương, Bà Mẹ Cô Con và Mớ Tóc, Thế Phát. Cả ba đều viết về tóc, và “Thay lời tựa” cũng nói về tóc.


Nhà xuất bản Thế Giới (mà chúng tôi biết là do ông Nguyễn Văn Hợi chủ trương – ông đã tiếp tục hoạt động in ấn ở Sài Gòn, và đã cho chúng tôi đặt tòa soạn ngay trong nhà in của ông trên đường Phạm Ngũ Lão) đã viết những dòng giới thiệu như sau về Thụy An: “Như nhiều nhà văn khác, bà Thụy An khởi đầu văn nghiệp bằng sự viết báo. Bà đã viết trong những báo Phụ Nữ Thời Ðàm, Phụ Nữ Tân Văn, Essor và Bạn Trẻ, từ năm 1934 đến 1945 bà chủ trương hai tờ tuần báo phụ nữ: Ðàn Bà Mới ở Sài Gòn và Ðàn Bà ở Hà Nội… Chúng ta sẽ thấy ở tác phẩm này và những tác phẩm sau, bà Thụy An với cây bút uẩn súc bằng tấm lòng thành thực đầy tư tưởng đã vượt cái địa hạt văn chương tình cảm và lãng mạn để cảm thông và diễn đạt cái nhịp sống chung của dân tộc, của nhân loại đang trỗi dậy.”


Ngay những dòng đầu của “Thay lời tựa,” nhà văn Thụy An đã cho thấy tâm tư người tác giả ý thức trong cuộc sống thời Hà Nội trong chiến tranh ấy như thế nào. “Mỗi khi qua chợ Ðồng Xuân, có bao giờ các bạn đưa mắt nhìn mấy ngôi hàng ngay trước cửa, bán một thứ hàng đặc biết: tóc, tóc đã sắp thành độn. Ðộn tóc cuộn tròn bày trên giá hàng, độn tóc treo giài [ngày nay ta viết là dài], buông thõng từ giẫy [dẫy] phía sau lưng người bán, làm thành một tấm nền ma quái, hồ nhìn ta vội quay mặt đi ngay, để tránh một cảm giác ghê ghê, rợn rợn. Nhưng mà một câu hỏi cũng đã kịp đến ám ảnh tâm trí ta: ‘Tóc ai đấy nhỉ?’”… “Ta nghĩ ngay đến những xác chết vô thừa nhận của những nhà thương thí… Nhất là trong buổi loạn ly này, với cái số người chạy trốn khói lửa ở miền hậu phương bát ngát, ùn ùn kéo vào cái Hà Nội rất giàu có mà rất kiệt quệ này, những xác chết ấy càng sẵn lắm…”


Bà còn làm thơ lưu loát. Ví dụ:


Cái Tết miền Nam vô vị quá


Câu thơ Nguyễn Bính lại mang ngâm


Nắng thiêu rụi cả, thiêu tàn cả


Còn nét gì đâu gợi tứ xuân


(Tôi về quên mất cả xuân sang)


Hay:


Ghê cái mùa thu Hà Nội


Hững hờ mấy lá vàng bay


Ru nỗi buồn câm phố vắng


Lê chân vẹt mấy gót giầy.


Em những âu vui duyên mới


Lâu lâu chợt nhớ tới anh


Môi đào mỉm cười hóm hỉnh:


“Hẳn là anh ấy giận mình.”


(Sao Lại Mùa Thu, ký Nguyên Quy, Phật danh của Thụy An, bản thảo.)


Mặc dù nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong cuốn sách in từ 1942 xếp Thụy An vào cùng lớp với Trương Tửu, Nguyên Hồng, Thạch Lam, Ðỗ Ðức Thu, Nhượng Tống,… song Thụy An cho tới nay, trong cái nhìn của người viết bài này, là một nhà văn hiện đại.


(VL-26.6.2012)

Phác họa mấy thời kỳ lục bát và, thơ Cung Trầm Tưởng

 


Du Tử Lê


(Tiếp theo kỳ trước)


 


Là người Việt Nam, ai cũng biết lục bát là một thể thơ truyền thống, đặc biệt của riêng văn học Việt Nam. Mặc dù gần đây, có người đưa ra “phát kiến” cho rằng, không chỉ Việt Nam mà, một vài đân tộc khác, cũng có thơ lục bát hoặc một thể thơ tương tự như vậy.










Từ trái qua: Thanh Tâm Tuyền, Cung Tiến, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng.


“Phát kiến” này, theo tôi không có cơ sở vì hai yếu tính căn bản sau đây


Thứ nhất, vì đặc tính của ngôn ngữ Việt Nam là Ðơn âm/Monosyllabic, nên lục bát mới có thể giữ đúng cấu trúc 6 chữ cho câu thứ nhất và, 8 chữ cho câu thứ hai.


Thứ nhì, ngoài Việt Nam, chúng ta biết, có ngôn ngữ của một số dân tộc khác, cũng là loại đơn âm. Nhưng, vì những ngôn ngữ đơn âm kia, không có 5 dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng (như của Việt Nam,) để ứng hợp với luật Bằng/Trắc căn bản, bắt buộc mà, thể thơ lục bát đòi hỏi. Chúng ta cũng biết, các chữ có dấu huyền hoặc không dấu, thuộc “Vần Bằng.” Những chữ có dấu sắc, hỏi, ngã nặng thuộc “Vần Trắc.”


Cụ thể, luật thơ lục bát được quy định như sau:


1. Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng (cho câu sáu.)


2. Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng, trắc, bằng (cho câu 8.)


Tuy nhiên, luật thơ lục bát cho phép người làm thơ được miễn trừ luật bằng, trắc ở những chữ thứ nhất, thứ ba và, thứ năm. (Giới làm thơ quen gọi là luật “nhất, tam, ngũ bất luật.”


Thí dụ hai câu thơ mở đầu “Ðoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du:


Trăm năm trong cõi người ta


Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.


Tóm lại, với niêm luật bắt buộc để lục bát là… lục bát, tôi không nghĩ và, cũng không tin có một nền văn học nào khác trong nhân loại, cũng có một thể thơ lục bát, giống Việt Nam.


Khi nói, lục bát là một thể thơ truyền thống, đặc biệt của riêng người Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh, thể thơ này xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của chúng ta hàng nghìn năm trước. Nó xuất hiện dưới dạng ca dao, tục ngữ khi chữ quốc ngữ trở thành phổ thông.


Nhưng, chúng ta vẫn phải đợi tới khi Nguyễn Du Tiên sinh chọn thể thơ lục bát để ký thác tâm sự mình, qua trường thiên “Ðoạn Trường Tân Thanh,” (dân gian quen gọi là “Truyện Kiều,”) lúc đó, lục bát mới chính thức trở thành một thể thơ có đầy đủ tính văn học ở mọi khía cạnh.


Ðặt qua một bên nghệ thuật tả cảnh, tả tình, tâm lý, triết lý, tâm sự, phản ảnh xã hội, thời đại sống của mình v.v… căn bản lục bát của Nguyễn Du Tiên sinh là “kể chuyện.” Vị cha già của lục bát Việt Nam, (nếu tôi được phép gọi như vậy,) là một nhà văn kể chuyện (Story Teller) cực kỳ tài hoa, uyên bác.


Nói cách khác, Lục bát của Nguyễn Du Tiên đã sinh trở thành “khuôn vàng thước ngọc” ảnh hưởng vào dòng chảy lục bát của văn học Việt mấy trăm năm sau. (3)


Tiêu biểu cho sự kiện này là nhà thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ nổi tiếng từ thời Tiền chiến. (4)


Không kể những bài lục bát dài hàng trăm câu trở lên, như bài “Lỡ Bước Sang Ngang,” ở những bài lục bát khác ngắn hơn, như bài “Trăng Sáng Vườn Chè,” vỏn vẹn chỉ có 10 câu, nhưng nó vẫn là dạng kể một câu chuyện.


Một trong những bài lục bát cuối cùng của sự nghiệp thi ca đồ sộ của tác giả “Lỡ Bước Sang Ngang,” bài “Tỉnh Giấc Chiêm Bao,” đăng trong giai phẩm “Trăm Hoa,” Hà Nội, 1956, cũng vẫn ở dạng kể chuyện, rất có lớp lang, thứ tự:


Chín năm đốt đuốc soi rừng,


Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân.


Cửa xưa mành trúc còn ngân


Góc tường vẫn đọng trăng xuân thuở nào…


Tuy nhiên, cùng thời gian đó, khi Huy Cận, tác giả “Lửa Thiêng” xuất hiện thì, ông đã cho lục bát một gương mặt, một chiếc áo mới. Nói cách khác, lục bát Huy Cận, đóng vai trò chấm dứt chu kỳ lục-bát-kể-chuyện kéo dài từ thời Nguyễn Du.


Lục bát Huy Cận chẳng những không nhắm mục đích kể lể thứ tự các sự việc mà, nó cũng không mô tả một biến chuyển tâm sinh lý nào. Nó là một chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau qua tương tác rất máu thịt với chữ, nghĩa. Tôi muốn nói tới nỗ lực vận dụng những con chữ một cách tân kỳ, sáng tạo. Ðể tự thân hình ảnh và, chữ nghĩa sẽ mang tới cho người đọc những cảm ứng sâu, rộng khác nhau, tùy tâm hồn, trình độ mỗi người đọc.


Với lục bát mới của Huy Cận, độc giả không còn bị nhốt trong những ý, tình được định hướng sẵn bởi tác giả. Người đọc cũng không bị trói tay, chân trong một không gian với một khí hậu bất biến.


Vì không gian trong lục bát Huy Cận là không-gian-mở, nên những liên ảnh (link-image) trong thơ của tác giả “Lửa Thiêng” cũng không diễn biến theo một trật tự cố định nào.


Thí dụ, Huy Cận mở đầu bài “Thu Rừng” của mình bằng hai câu:


Bỗng dưng buồn bã không gian,


Mây bay lũng thấp giăng màn âm u.


Rồi bất ngờ ông “giới thiệu” với những người đọc, một sinh vật:


Nai cao gót lẫn trong mù


Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.


Con nai trong hai câu thơ trên, không hề là hình ảnh đại diện hay “thay mặt” cho tác giả. Nó cũng không giữ một vai trò mang tính ẩn dụ (metaphor) nào. Nó là chính nó. Nó là một phần của cái “không gian buồn bã” – Như một điểm nhấn (making a point) sinh động trong bài thơ (bức tranh) đẫm ướt mùa thu này.


Cũng thế, mở đầu bài thơ “Thuyền Ði,” Huy Cận viết:


Thuyền đi, sông nước ưu phiền;


Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi.


Sang đêm thuyền đã xa vời;


Người ra cửa biển nghe hơi lạnh buồn.


Ông dẫn người đọc đi thẳng vào bài thơ (đúng hơn vào không gian thơ) của ông mà, không cần một rào đón, chuẩn bị tâm lý nào cho người đọc. Suốt bài thơ, người ta cũng không thấy dù thấp thoáng chủ thể (nhân vật) như lục bát cũ.


Ngay bài “Buồn Ðêm Mưa,” một trong vài bài lục bát được nhiều người biết đến nhất của Huy Cận thì, nhân xưng đại danh tự “Ta,” xuất hiện duy nhất một lần trong bài thơ, cũng không phải là cái “Ta” của chủ thể. Hay cái “Ta” của nhân vật. Mà cái “Ta” phiếm-chỉ trong bài thơ, chỉ là chiếc cầu nối, giữa trời đất, và cảm thức nhỏ bé của con người trong bao la mà thôi. Người đọc không thấy một Huy Cận riêng tư nào trong toàn thể bài thơ:


Ðêm mưa làm nhớ không gian,


Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la…


Tai nương nước giọt mái nhà


Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn…


Lại nữa, nếu phải đi tìm một “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt cõi giới lục bát Huy Cận thì đó là tinh thần hoài cổ, rất gần với khí hậu thơ Bà Huyện Thanh Quan thuở trước:


Ðồn xa quần quại bóng cờ


Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về


(Trích “Chiều Xưa,” Huy Cận)


Nó đúng như tinh thần hai câu thơ nổi tiếng của ông:


Một chiếc linh hồn nhỏ


Mang mang thiên cổ sầu.


(Trích “Ê Chề,” Huy Cận.)


Theo tôi, đó là những nét đặc thù trong lục bát Huy Cận. Còn lục bát Cung Trầm Tưởng thì sao?


Du Tử Lê


(Còn tiếp 1 kỳ)


 


Chú thích:


(3): Theo Wikipedia thì tác giả Truyện Kiều sinh năm 1765, mất năm 1820. Ngoài Truyện Kiều, Nguyễn Du còn để lại một số tác phẩm tiêu biểu như: Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh. Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu. Thác Lời Trai Phường Nón (bằng chữ Nôm). Ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, và Bắc Hành Tạp Lục.


(4): Nhà thơ Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính. Ông sinh 1918, mất năm 1966.


(5) Nhà thơ Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Ông sinh năm 1907, mất năm 1989.


(6) Nhà thơ Huy Cận tên là Cù Huy Cận. Ông sinh năm 1919, mất năm 2005.

Tây Ban Nha thắng Bồ Đào Nha 4-2 bằng đá luân lưu

Bán kết Tây Ban Nha thắng Bồ Đào Nha 4-2 bằng loạt đá luân lưu.


 


Thành phần hai đội


Bồ Đào Nha (áo trắng)


Rui Patricio (12, thủ môn), Bruno Alves (2), Pepe (3), Fabio Coentrao (5), Joao Pereira (21), Miguel Veloso (4), Joao Moutinho (8), Raul Meireles (16), Cristiano Ronaldo (7, thủ quân), Hugo Almeida (9), Nani (17).


Tây Ban Nha (áo đỏ)


Iker Casillas (1, thủ môn, thủ quân), Sergio Ramos (15), Gerard Pique (3), Jordi Alba (18), Alvaro Arbeloa (17), Sergio Busquets (16), Xabi Alonso (14), Xavi (8), Andres Iniesta (6), Alvaro Negredo (11), David Silva (21).


Trọng tài: Coney Cakir (Thổ Nhĩ Kỳ)


Trận đấu bắt đầu.


Phút thứ 7, tỉ số vẫn là 0-0.



Thủ môn Iker Casillas của Tây Ban Nha bắt một đường bóng.


Phút thứ 9, Alvaro Arbeloa (số 17) của Tây Ban Nha sút về phía khung thành Bồ Đào Nha, nhưng bóng vọt xà ngang.


Tây Ban Nha vẫn gia tăng tấn công.


Phút thứ 13, Ronaldo (7) của Bồ Đào Nha dẫn bóng xuống cuối sân, tạt vào trước khung thành Tây Ban Nha, nhưng thủ môn Casillas bắt được.


Phút thứ 16, Ronaldo vị chèn té trong vùng cấm địa Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha được hưởng đá phạt, Ronaldo đá trúng hậu vệ Tây Ban Nha.


Bồ Đào Nha được hưởng phạt góc, nhưng bóng bị Tây Ban Nha phá lên.


Phút thứ 26, hai bên vẫn chưa mở tỉ số.



Hậu vệ Fabio Coentrao (phải) của Bồ Đào Nha tranh bóng với tiền vệ David Silva.  


Phút thứ 29, Iniesta (6) của Tây Ban Nha sút cách khung thành 20 mét, bóng vọt sà ngang Bồ Đào Nha.


Phút thứ 31, Ronaldo (7), cách khung thành Tây Ban Nha 15 mét, sút mạnh, thủ môn Casillas bay đúng hướng, bó tay, nhưng bóng ra khỏi cột dọc.


Tỉ số vẫn là 0-0.


Nani (17) của Bồ Đào Nha bị Ramos (15) đánh trúng vào mặt, nhưng trọng tài không thấy.


Phút thứ 40, Ronaldo (7) phản công cho Bồ Đào Nha, nhưng bị Ramos (15) cản người trái phép, trọng tài phạt Ramos thẻ vàng.


Phút thứ 43, hậu vệ Fabio Coentrao (5) của Bồ Đào Nha bị thẻ vàng.


Hết hiệp 1, tỉ số 0-0.


Hiệp hai bắt đầu.



Tiền vệ Miguel Veloso (trái) của Bồ Đào Nha tranh bóng với tiền vệ Xabi Alonso.


Hai bên thay nhau tấn công, nhưng tỉ số vẫn không thay đổi. 


Phút thứ 53, Tây Ban Nha thay người. Alvaro Negredo (11) ra sân, Fabregas (10) vào thay thế.


Phút thứ 57, Bồ Đào Nha được quả phạt góc, nhưng cầu thủ Tây Ban Nha phá lên.


Phút thứ 60, Sergio Busquets (16) của Tây Ban Nha bị thẻ vàng.


Tây Ban Nha rút David Silva (21) ra sân, đưa Navas (22) vào thay thế.


Phút thứ 62, hậu vệ Pepe (3) của Bồ Đào Nha bị thẻ vàng.


Bồ Đào Nha kiểm soát bóng và tấn công nhiều hơn, nhưng vẫn chưa mở được tỉ số.


Phút thứ 64, Joao Pereira (21) của Bồ Đào Nha nắm áo một cầu thủ Tây Ban Nha ngay ngoài vùng cấm địa, bị thẻ vàng.


Tây Ban Nha được quả phạt, nhưng Bồ Đào Nha phá bóng lên.


Phút thứ 67, Andres Iniesta (6) của Tây Ban Nha sút từ xa, nhưng thủ môn Rui Patricio (12) bắt được dễ dàng.


Hai đội có vẻ thấm mệt, bắt đầu đá chậm lại.


Phút thứ 71, Ronaldo (7) đi bóng vào phần đất Tây Ban Nha, Alvaro Arbeloa (17) cản người trái phép, Bồ Đào Nha được quả phạt trực tiếp.


Ronaldo sút mạnh, bóng vọt xà ngang trong gang tấc.


Phút thứ 75, tỉ số vẫn là 0-0.


Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục tấn công Tây Ban Nha, nhưng chưa làm được gì. Ronaldo luôn bị ít nhất hai cầu thủ Tây Ban Nha kèm chặt.


Phút thứ 79, Ramos (15) của Tây Ban Nha phạm lỗi với Nani, Bồ Đào Nha được quả phạt trực tiếp ngoài vùng cấm địa, nhưng tỉ số vẫn giữ nguyên.


Phút 81, Bồ Đào Nha thay người. O2liveira (11) vào sân thay thế cho Hugo Almeida (9) ra sân.


Ronaldo (7) lại bị Alonso (14) của Tây Ban Nha phạm lỗi. Bồ Đào Nha được quả phạt trực tiếp, cách khung thành Tây Ban Nha 25 mét, Ronaldo sút, bóng trúng tay hậu vệ Arbeloa (17), Bồ Đào Nha được quả đá phạt khác, gần hơn, nhưng Ronaldo lại sút bóng vọt xà ngang.


Trọng tài có vẻ yếu trong trận này, cầu thủ hai bên bắt đầu chơi xấu, hậu vệ Bruno Alves (2) của Bồ Đào Nha bị thẻ vàng.


Phút thứ 87, Tây Ban Nha kéo Xavi (8) ra sân và đưa Pedrito (7) vào thay thế.


Tỉ số vẫn là 0-0.


Phút thứ 89, Tây Ban Nha được quả phạt trực tiếp cách khung thành Bồ Đào Nha 30 mét, Alonso (14) sút mạnh, nhưng bóng bị phá lên, Ronaldo được bóng, dẫn xuống, cách khung thành thủ môn Casillas chừng 13 mét, sút mạnh, nhưng bóng không vào khung thành.



Ronaldo thất vọng vì sút không vào khung thành Tây Ban Nha.


Phút thứ 92, Tây Ban Nha được quả phạt góc, Alonso (14) đá vào, nhưng bị Bồ Đào Nha phá lên.


Phút thứ 93, hậu vệ Miguel Veloso (4) của Bồ Đào Nha phá bóng nguy hiểm, bị thẻ vàng.


Kết thúc hai hiệp chính, tỉ số 0-0. Hai đội chuẩn bị đá hai hiệp phụ, mỗi hiệp 15 phút.


Bắt đầu hiệp phụ thứ nhất.


Phút thứ 100, tỉ số vẫn là 0-0.


Phút thứ 101, Tây Ban Nha được quả phạt góc.


Phút thứ 104, Iniesta (6) của Tây Ban Nha sút, bóng đi nhẹ, thủ môn Rui Patricio của Bồ Đào Nha bắt được.


Tây Ban Nha tấn công nhiều hơn, thường xuyên gây sức ép Bồ Đào Nha hòng mở tỉ số, nhưng vẫn chưa được. 


Phút thứ 106, Tây Ban Nha được quả phạt trực tiếp cách khung thành Bồ Đào Nha 25 mét, Ramos (15) sút mạnh, bóng vọt xà ngang.


Kết thúc hiệp phụ thứ nhất, tỉ số 0-0.


Hiệp phụ thứ nhì bắt đầu.


Tỉ số vẫn không thay đổi, dù hai bên thay phiên nhau tấn công.


Phút thứ 112, Bồ Đào Nha đưa Varela (18) vào sân thay Meireles (16).


Alonso (14) của Tây Ban Nha lại phạm lỗi với Ronaldo (7), bị thẻ vàng.


Phút thứ 114, Pedro (7) của Tây Ban Nha một mình dẫn bóng xuống, nhưng bị hậu vệ Coentrao (5) phá ra, chịu quả phạt góc.


Phút thứ 117, Pedro (7) của Tây Ban Nha bị việt vị.


Tây Ban Nha tiếp tục tấn công, được quả phạt góc phút thứ 119, nhưng không mở được tỉ số.


Kết thúc 120 phút, tỉ số 0-0. Hai đội chuẩn bị đá luân lưu để phân thắng bại.



Thủ môn Casillas của Tây Ban Nha đỡ được cú sút luân lưu của Moutinho (8).


Tây Ban Nha


Alonso: thủ môn đẩy ra (0-0)


Inesta: vào (1-0)


Pique: vào (2-1)


Ramos: vào (3-2)


Fabregas: trúng cột dọc, bóng vào lưới (4-2)


Bồ Đào Nha


Moutinho: thủ môn đẩy ra (0-0) 


Pepe: vào (1-1)


Nani: vào (2-2)


Alves: trúng xà ngang (2-3)


Tây Ban Nha thắng Bồ Đào Nha 4-2 bằng loạt đá luân lưu.

Thơ Viên Dung

 


Bến Vô Âm


 


gió chướng rong ngọn sầu đông


tình rong mong ý bén lòng


phận chờ duyên hẹn tơ hồng lênh đênh


 


buồn tênh phận gái tùy hên


mùa lên phất lạnh mơ đền


mù tăm duyên gá nợ bền trăm năm


 


một mai vàng đá hóa thân


đục, trong tùy lượn sóng ngầm


duyên tơ ghé bến vô âm đất trời


________


 


Duyên Ngầm


 


khuya tàn trăng lửng hiên trời


trăng tàn chưa hết cuộc chơi


mai, duyên quên ghé chơi vơi cuộc tình


 


chướng về rủ gió đông nghìn


đêm qua lạnh đến làm thinh


tay đơn chiếc hụt chăn tình trăm năm


 


cửa tình thất vọng ghé thăm


lạnh đông chạm cánh lệ thầm


vào chiêm bao hỏi duyên ngầm ở đâu


____________


 


Cuối Năm


 


em nhé, hồn tình rất sâu


giấu kín tim qua với bậu


lấp lánh tim mình bến đậu chung thân


 


tình huống lạnh chỗ ân cần


anh gom vàng đá hóa thân


em không nghe lạnh duyên phần trăm năm


 


đông phong đổi chướng nằm dầm


trăng tình khuya lửng cuối năm


thấy anh thổi lạnh ăn nằm với em


23 tháng 11, 2011

Thơ Lê Bang Ích

 


Sáng Chúa Nhật
Mùa Hè California


 


Chúa Nhật. Cà phê buổi sáng. Góc hiên, mái quán, nhìn trời. 
Không có một bóng mây trôi. Mùa Hè Cali trong vắt…


 


Bạn đi ngang qua, tay bắt, tự vào kêu một cà phê. 
Kéo ghế ngồi cạnh ngồi kề, vẩn vơ ba điều bốn chuyện…


 


Những“chuyện thường ngày ở huyện”,trên trời dưới biển, vui vui. 
Không ai nghĩ đây quê người, cứ nói cứ cười thoải mái…


 


Chúa Nhật tiếng chông vọng lại bơ vơ từ một mái Chùa. 
Nếu tôi kịp có bài thơ, hai chữ bơ vơ có chỗ…


 


Dẫu là chỗ nằm một xó, dẫu là chỗ giữa mênh mông. 
Tiếng chuông vang boong boong boong vỡ trên con đường xe chạy…


 


Mấy con chim sẻ bay nhảy nhặt từng chút bánh mì rơi. 
Mùa Hè Cali đẹp ơi: Mấy cô gái mặc quần ngắn…


 


Chúa Nhật. Cà phê buổi sáng, góc hiên ngồi ngắm phố phường,
thả khói nhìn tưởng mù sương, thả hồn bay theo gió nhẹ…


 


Lại rồi, lại thơ đấy nhé!Ít ra mình đã dịu dàng! 
Một người con gái đi ngang, hai bàn chân như hoa nở…

Thơ Hồ Thanh Nhã

 


Giọt nắng thiên thu


 


Mười năm mẹ nằm hiu quạnh


Ngàn lau gió thổi vi vu


Hoa cau đầu mùa rụng trắng


Bờ xa lớp lớp sương mù


 


Cây vông đầu làng trốc gốc


Ðâu đàn sáo nhỏ tập bay


Cơm chiều còn đâu mẹ nấu


Hết rồi bếp lửa hơ tay?


 


Mười năm điêu tàn bãi mía


Ðâu làn khói tỏa song thưa


Con đi chân trời góc núi


Chao ôi! Nhớ mấy cho vừa?


 


Mười năm người đi không hẹn


Ngày về vắng bóng tin thư


Mười năm bèo trôi dạt bến


Giòng xa man mác đôi bờ


 


Cầu ao mẹ ngồi giặt áo


Gió về lay động cành tre


Tháng Tư lòng con chợt mát


Bát canh rau má trưa Hè


 


Mười năm gió đùa ngọn cỏ


Nhăn từng nếp trán xanh xao


Mười năm mẹ về với đất


Quạnh hiu giòng nước qua cầu


 


Mười năm vườn xưa lộng gió


Trưa Hè vắng bóng chim cu


Lớp rêu xanh rờn mộ chí


Nô đùa giọt nắng thiên thu


_________


 


Ðôi ta


 


Chú đạp xích lô trưa Hè nghỉ nắng


Chân gác càng xe làm giấc tiêu dao


Con ruồi nhỏ đậu bàn tay hai ngón


Ba ngón kia pháo cối cướp năm nào


 


Nắng Sài Gòn thả từng tia lửa chói


Thèm vô cùng một bóng mát công viên


Và cứ thế , sau chuyến hàng bỏ mối


Ghé góc đường… làm một giấc bình yên


 


Giấc ngủ ngắn… chú mơ về dĩ vãng


Vài bóng hình đồng đội , chiến trường xưa


Những người chết và nghĩa trang quên lãng


Cỏ gai dày… tiếng ếch vọng đêm mưa


 


Ba tư năm chưa một lần tu bổ


Như oán thù chồng chất ở sau lưng


Hồn tử sĩ đâu đây theo tiếng gió


Mộ hoang tàn cỏ bít lối đi chung


 


Anh bộ đội thương binh ngồi vá vỏ


Cột đèn kia độc chiếm một sơn hà


Giọng trọ trẹ của quê hương ngoài nớ


Vùng Nghệ Thanh… ngao ngán bữa tương cà


 


Anh vá vỏ, khách giang hồ độc cước


Chống so le nạng gỗ quá chiều cao


Cố nhẫn nại bơm căng đầy chiếc vỏ


Một bàn chân… còn để lại Nam Lào


 


Nét cam chịu hằn lên vầng trán hẹp


Cả cuộc đời không có một ngày mai


Sau cuộc chiến… anh trở về thân phận


Một hồn ma bóng quế giữa ban ngày


 


Mồ hôi chảy xuống ống quần phe phẩy


Chiếc điếu cày còn giữ thuở đi B


Nầy anh bạn! làm một bi tỉnh ngủ


Bánh thuốc ngon ngoài nớ mới mang về


 


Chú xích lô ngồi bên anh vá vỏ


Cũng gật gù làm một điếu tương giao


Họ hoà giãi bên lề đường góc phố


Ở dưới chân cao ốc… mấy mươi lầu


 


Hai thương binh từ hai đầu chiến tuyến


Cũng một phần thân thể hiến quê hương


Nước thanh bình hai mảnh đời cam phận


Thành một đôi ta… khắng khít bên đường

Thơ Trangđài Glassey-Trầnguyễn

 


như con chim cánh cụt


 


mẹ vòng cổ


ngắm con


trên cánh võng đong đưa


nhìn con thở


nhìn con ngủ


nhìn con lim dim mắt


nhìn con đang giả đò ngáy để nằm nán lại trên mình mẹ


nhìn con đang làm bất cứ điều gì


cứ mải nhìn con


đến nghiêng cả một bên vai


lệch một bên hông


cong cả cái cổ


hai tay ôm con


tê và mỏi


mà chim-cánh-cụt mẹ


vẫn không chán


nhìn con


mãi.


_________


 


bền bỉ


 


có thái dương


từng ngày


đông rạng


soi nhân gian


sưởi ấm cuộc đời


 


như mặt trời


mẹ mỗi ngày thức dậy


để mỗi ngày


mỗi đem nắng trên con.


 


__________


 


con là quê hương của mẹ


 


Dấu Yêu ơi,


Con yêu dấu yêu ơi!


 


mỗi bập bẹ


khuyến thiện vách tường


mân mê ngày tháng cũ


con ô a


đàn trẻ lớp vỡ lòng


lay trường làng thức dậy trước hừng đông


 


mắt nheo nheo, nháy nháy, gieo tình


thắc thỏm sông rạch


xao xuyến gió hè


ruộng xa


 


bàn tay mềm như gió trời mới nở


xoa vào nghìn giấc ngủ của hôm qua


bùn non


mẫn mịn


tan giòn


 


tiếng cười thấm vào không gian


xe chỉ vấn vương


luồn tơ lưu luyến


mẹ nhớ mình cười vài thập niên trước


và một quê hương lẽo đẽo đi cày


 


ôi, Dấu Yêu, con hít vào khoảng trống


xả hồng trần, muôn lượng kiếp trước, sau


trống như nắng, như đêm chưa kịp ngủ


rỗng như trời, như ống trúc, mo cau


 


ôi, Yêu Dấu, con thở ra trăm cõi


xõa quê hương trên vũng nhớ đơn côi


mùi mía thơm trong nắng Tết trắng vôi


mùa tảo mộ nửa con trăng Nguyên Ðán


 


con đã đến, quê hương thôi lẻ bóng


quê-hương-con bòng bọng nước tao phùng./.


 


i./ Tôi sinh sau cuộc chiến Việt Nam. Khi tôi còn ấu thơ, thì tiếng cười vô tư của tôi quấn quýt bên những chiếc cày gỗ do trâu kéo trên những thửa ruộng loáng phèn. Cả quê hương tôi lẽo đẽo đi cày trong giai đoạn đó và về sau.


ii/. Triết gia Kim Ðịnh cho rằng cái khoảng trống trong trống đồng chính là cốt lõi của triết Việt: “…triết lý tâm linh lấy việc xả làm bước nhập môn& Riêng Việt thì xây trên chữ Trống… nhấn mạnh đến sự trống rỗng của tâm hồn làm nền móng” (tr. 42, Phong Thái An Vi, tác giả Kim Ðịnh, An Việt Houston xuất bản). Con hít vào khoảng trống, là hít vào cái tinh hoa cốt lõi của an vi.


iii/. Ở miền quê Tây Nam Bộ vào các thập niên sau 1975, người dân làng nghèo, chỉ dùng vôi trắng để sơn phết lại mộ bia, đa số là mộ đất, hay nhà cửa, trong dịp cuối năm, vừa tảo mộ, vừa chuẩn bị đón Tết. Có lẽ


gần bốn thập niên sau, vẫn còn người chỉ có đủ tiền để mua vôi phết trên những nấm mộ nghèo mỗi lần đón Tết.


iv/. Con và quê hương, đối với một người mẹ Việt Nam xa quê, đã nên một. Con là tất cả những hy vọng và tình thương mà mẹ muốn trao cho quê hương, và chính quê hương lại là di sản thiêng liêng nhất mẹ muốn trao cho con. Chính trong con, mẹ đã tìm lại quê hương khi mẹ trao quê hương cho con mỗi ngày trong cúc cục cù lao. Con, quê hương, và mẹ cùng lớn lên trong một sự sống mới, gặp nhau trên một sinh lộ mới. Tôi dùng chữ “nước” ở đây với nhiều ngụ ý. Nước, cũng chính là quê hương. Nhưng nước cũng hàm ý nước ối, mạch nước nuôi dưỡng thai nhi trong thời gian chín tháng mười ngày. Bòng bọng nước chỉ một sự hướng tới, một sự háo hức mong đợi nguồn sống mới trong một con người, hay trên một quê hương.


_________


 


Giáng Sinh của Con


 


Con yêu cái đèn


nhiều màu lấp lánh


cây thông nhiều cành


ngôi sao bằng cỏ


thơm hoài gió hanh


 


Con yêu bài hát


của ngàn năm xưa


từ nơi đất lạ


giờ còn đong đưa


Con thò tay bắt


 


Con yêu quả châu


viền quanh cửa kính


Con mê thiên thần


đàn ca từng tứng


Mẹ lên dây thiều


con cười thênh thang


 


Con yêu gấu bông


vòng thông trên cửa


Mẹ sợ gió lạnh


treo vòng bên trong*


con tha hồ ngắm


 


Con hai mươi tháng


đã biết ỡm ờ


đưa tình liếc mắt


Mẹ si, Mẹ khờ


Con vờ nũng nịu


Mẹ thừa âu lo


 


Con đi Hội chợ


Noel đầu tiên


ôm theo vai Ba


Con hò, Con múa


cái điệu tròn xoay


tròn xoay, tròn xoay


 


Giáng Sinh yêu Con


Mẹ thành sao sáng


muôn màu riêng Con


 


* Vòng hoa trang trí mùa Giáng Sinh (wreath trong tiếng Anh), thường được treo ngoài cửa. Vì Con thích ngắm, mà không muốn Con bị lạnh nên mẹ treo ngược vào trong để Con ngắm tùy thích.


Vì Con thích ngắm, mà không muốn Con bị lạnh nên mẹ treo ngược vào trong để Con ngắm tùy thích.

Tác phẩm cuối cùng của nhà văn Nhất Linh


* Ngọc Cường


 


LTS: Nhân dịp kỷ niệm 49 năm ngày Nhất Linh Nguyễn Tường Tam mất, bài viết này được gửi đến với ý tưởng: Cái chết là một tác phẩm. Nhưng tòa soạn còn tìm được ở đây ra một nhận xét mới khác: Nội dung của “di ngôn” cũng chính là “tác phẩm,” nó đã thể hiện rõ lên thái độ sống của nhân vật lịch sử này. (QV)


 


Ngày 7 tháng 7 năm 1963, nhà văn và nhà cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã tự vẫn bằng độc dược để phản đối chế độ Ngô Ðình Diệm về việc đàn áp đảng phái đối lập Quốc gia.










Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1905-1963). Nguyễn Gia Trí vẽ. (Nguồn: Google)


 Ông chết một ngày trước khi phải trình diện tại Tòa Án Quân Sự vì liên quan đến cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11 năm 1960. Lúc đó đang là cao trào của cuộc tranh đấu của Phật giáo chống kỳ thị tôn giáo; và cái chết của ông đã gây xúc động trong quần chúng: Ông chết đi, để lại một sự nghiệp lớn về văn học và những hoạt động cách mạng chống Pháp và Cộng Sản.


Chúc thư của ông như sau:


“Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Việc bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập Quốc gia sẽ làm cho nước mất vào tay Cộng Sản là một tội nặng. Tôi chống đối việc đó và tự hủy mình như hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.


Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”


Chính quyền lúc đó, trong bản cáo trạng truy tố ông, đã cho ông là thành phần phản loạn, phản quốc và xâm phạm an ninh Quốc gia. Mặc dù, suốt cả cuộc đời bao giờ ông cũng là một người ôn hòa, rất ghét bạo động và chỉ tranh đấu cho Ðộc Lập, Tự Do và phúc lợi của dân tộc. Cũng trớ trêu thay là chỉ vài tháng sau khi ông chết, hai anh em nhà Ngô bị thảm sát, nạn nhân của bạo lực. Ðiều này xác tín là bạo động không giải quyết được gì cho con người, chỉ là nguồn gốc của thảm họa mà thôi.


Từ đó đến nay, đã gần nửa thế kỷ qua, có nhiều bài viết cũng như sách nghiên cứu của các tác giả, nhà phê bình, văn nghệ sĩ đã viết về cái chết đột ngột của Nhất Linh. Bài viết này, nhân ngày giỗ thứ 49 của nhà văn, chỉ nhằm xem xét vài điểm liên quan đến nguyên nhân và lý do nào đã đưa đến sự kiện một nhà văn, lãnh tụ một đảng phái như ông phải tuẫn tiết?


***


Nhìn lại cuộc đời của Nhất Linh, mọi người đều thấy sự nghiệp của ông gồm hai lãnh vực rõ rệt: Thứ nhất là về văn nghệ như hội họa, thơ và tiểu thuyết; thứ hai là chính trị như thành lập đảng Ðại Việt Dân Chính, hoạt động trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Bởi thế, nhiều nhà phê bình cho rằng ở ông, có hai còn người: một nhà văn Nhất Linh và một nhà chính trị Nguyễn Tường Tam. Phân biệt như vậy tuy là hợp lý, nhưng vô hình dung không nêu rõ cho chúng ta thấy được con người thật của ông. Vì dù sao ông từ căn bản vẫn chỉ là một người có tâm hồn nghệ sĩ, đa cảm, nhưng lại có lòng trắc ẩn sâu đậm đối với sự đau khổ của đồng loại; và ông không thể chỉ ngừng lại ở chỗ sáng tác mà còn dấn thân vào công cuộc cải cách xã hội. Có thể nói Nhất Linh là một nghệ sĩ dấn thân và luôn luôn hành động do sự thúc đẩy của trách nhiệm và lý tưởng của mình.


Lúc còn trẻ, ở tuổi 20, Nhất Linh có theo học hội họa ở trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật ở Hà Nội; và cũng như Van Gogh, ông mang giá vẽ và cọ đi về miền quê để vẽ. Và cũng như Van Gogh, ông đã xúc động trước cảnh nghèo khổ của đám nông dân. Trong khi Van Gogh đi tìm giải pháp ở tôn giáo thì Nguyễn Tường Tam tìm thấy ở con đường cách mạng chống thực dân và giải phóng dân tộc. Cả hai nhà họa sĩ này về cuối đời đều tự tìm đến cái chết, nhưng lại vì hai lý do khác hẳn nhau: Van Gogh tự vẫn trong cơn điên loạn, còn Nhất Linh tuẫn tiết vì lý tưởng. Chúng ta tự hỏi, nếu Nhất Linh theo đuổi luôn nghề vẽ thì không biết ông sẽ ra sao? Ðiều ngạc nghiên là gần đây, trong một cuộc đấu giá tranh của nhà đấu giá Sotheby’s ở Hồng Kông, xuất hiện một bức tranh do Nhất Linh vẽ vào những năm 1920 khi ông còn lưu lạc ở Sàigòn về cảnh phố chợ ở miền quê Việt Nam. Bức tranh này đã được người mua với giá cao (75 ngàn Mỹ kim)*! Mặc dù là một nghệ sĩ, Nhất Linh luôn luôn bị ám ảnh bởi cái lý tưởng và trách nhiệm .Ðiều này cho thấy ông đã chủ trương dùng ngòi bút để làm vũ khí tranh đấu của mình ( báo chí như tờ Phong Hóa, Ngày Nay… văn hóa như nhóm Tự Lực Văn Ðoàn với nhà xuất bản sách và các hoạt động xã hội khác như Nhà Ánh Sáng, Áo Dài Le Mur…).


Nhưng có đôi lúc, vì hoàn cảnh của đất nước,ông đã phải bỏ báo chí văn nghệ để hoạt động cách mạng (thành lập Ðại Việt Dân Chính, trốn qua Trung Hoa…). Ðiều đáng nói ở đây là trong khi hoạt động chính trị, ông đã phủ nhận việc dùng những thủ đoạn và bạo lực, khác hẳn so với các đối phương của ông (thực dân ,cộng sản và độc tài).


Trong cuốn “Dòng Sông Thanh Thủy,” ông đã viết về sự tàn bạo của chính trị, về mối nguy hiểm của cái mà ông gọi là “guồng máy,” và sự tàn nhẫn của “guồng máy” đó. Về văn chương nghệ thuật, lập trường của ông cũng thay đổi, từ việc viết tiểu thuyết luận đề cho đến sau này ông chủ trương “văn chương phải vượt thời gian và không gian.”


Năm 1949, từ Trung Hoa về lại Hà Nội sau biến động chính trị tranh chấp Quốc Cộng Thực Dân ông tuyên bố từ bỏ chính trị rồi vào Nam sinh sống. Tại Sàigòn, ông chú tâm vào việc sáng tác truyện dài (trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới) và xuất bản lại sách của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn. Ông có thực sự từ bỏ chính trị không? Ông có từ bỏ trách nhiệm với đất nước, đồng chí của mình không? Theo các đồng chí thân cận, như các ông Nguyễn Thành Vinh, Trương Bảo Sơn, Lê Hưng, Nguyễn Tường Bá, v.v… thì trong thời gian này ông chỉ đóng vai trò cố vấn và không tham dự vào các buổi họp chính trị với các đoàn thể khác (tuy lúc ấy ông lại là thủ lãnh của Mặt Trận Quốc Dân Ðoàn Kết, ủng hộ cuộc đảo chánh năm 60). Như vậy sự từ bỏ chính trị của ông ở đây là không sinh hoạt đảng phái với mục đích tham chính, nhưng vẫn lưu tâm và hoạt động cho dân chủ và tự do (theo nghĩa bây giờ, ông là một “nhà tranh đấu nhân quyền,”chứ không phải là “chính trị gia”). Có thể ông đã thấy bộ mặt xấu của chính trị và cho rằng quyền lực chỉ đưa đến tội ác và làm hủ hóa con người. Có lần ông đã tâm sự với người thân trong gia đình là thời gian ông làm bộ trưởng Ngoại Giao trong Chính Phủ Liên Hiệp là thời gian khổ sở nhất của đời ông. Cần nhắc lại đây một chi tiết: Sau khi từ chức ngoại trưởng năm 1946, ông đã lấy ngân quỹ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam đem vào chiến khu và chỉ để dùng cho Việt Nam Quốc Dân Ðảng, khiến Việt Minh tức tối (chúng đã lên án ông là ‘việt gian thụt két’!). Ðiều này cho thấy ông sẵn sàng hy sinh tiếng tăm cá nhân của mình nếu vì lợi ích chung của đoàn thể.


Năm 1958, Nhất Linh chính thức xin giấy phép cho tờ nguyệt san “Văn Hóa Ngày Nay” nhưng chính quyền chỉ cho phép ra từng số một và phải chịu sự kiểm duyệt. Bộ Thông Tin cố tình cấp giấy phép thật chậm trễ, gây khó khăn cho việc xuất bản tờ báo này. Sau 11 số, tuy bán rất chạy, ông bắt buộc phải cho đình bản.


Cuộc chính biến 1960 thất bại, nhiều đồng chí và nhân sĩ bạn của ông bị giam cầm và tra tấn dã man. Sự việc nầy gây xúc động trong ông.


Sau một thời gian lẩn tránh,ông về nhà, nhưng bị kêu lên hỏi cung nhiều lần ở Tổng Nha Cảnh Sát. Bản cáo trạng đã truy cập tất cả tội trạng lên đầu ông. Cuối thời gian này xảy ra vụ tranh đấu của Phật giáo. Cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Ðức đã làm ông suy ngẫm thêm…


Người ta tự tìm đến cái chết có thể là vì họ sợ sống hơn là chết. Nhưng trong lịch sử gần đây, chúng ta đã chứng kiến nhiều vụ tuẫn tiết oai hùng của các tướng lãnh VNCH sau 1975: Họ đã nói lên lập trường dứt khoát rằng thà chết còn hơn là sống nhục! Chắc chắn các vị này không phải là những người điên loạn hay cuồng trí, mà trái lại họ tìm đến cái chết vì họ đã nhận lấy trách nhiệm của sự thua trận, họ đồng hóa cuộc sống của mình với tập thể mà họ cùng chiến đấu. Ðó là một hành động chết vì lý tưởng.


Cuộc tự vẫn của Nhất Linh là do hai động lực chính: một là vì lý tưởng tự do mà ông hằng theo đuổi, hai là vì trách nhiệm đối với đồng chí của mình. Ông sửa soạn cái chết một cách rất tỉnh táo. Cả tuần lễ trước đó, ông đến thăm cốt để từ giã bạn bè và tham dự buổi họp của tổ chức Văn Bút Việt Nam (do ông sáng lập). Tại đây, ông nói chuyện với các nhà văn trẻ và quan tâm đến sự thiếu lý tưởng trong giới văn nghệ sĩ thời bấy giờ.


Bằng câu sau đây trong bản chúc thư: “Tôi tự hủy mình để cảnh cáo những người trà đạp mọi thứ tự do..,” ông đã can đảm nhận trách nhiệm về việc làm của mình. Cái chết của ông cũng làm rung động chính quyền độc tài; và sau đó Tòa Án đã phải giảm án cho các đồng chí của ông.


Nhất Linh đã biến cái chết của mình thành một vũ khí chống lại độc tài, thể hiện lý tưởng của mình và nói lên sự dấn thân đến tận cùng của một con người. Tất nhiên sự ra đi của ông là một mất mát lớn, không những cho gia đình, đồng chí, bạn hữu mà còn cho cả một thế hệ yêu mến tác phẩm và con người ông. Người nghệ sĩ thường sáng tác ca tụng cái đẹp và đôi khi họ cũng sống như một tác phẩm của họ. Nếu cuộc đời Nhất Linh đã đẹp rồi thì cái chết của ông lại là một tác phẩm tuyệt đẹp cuối cùng của nhà văn.


Ít ai có được một cái chết đang ghi nhớ như vậy.


 


* Bức họa Cảnh Phố Chợ Ðông Dương (Scène de Marché de rue Indochinois), thực hiện trong khoảng năm 1926 1929, do một tư nhân bên Pháp đặt bán với giá khởi đầu 25,000-32,200 Mỹ kim, vừa được Sotheby’s bán với giá 75 ngàn Mỹ kim. (Xin xem chi tiết này trong bài “Hai Vẻ Ðẹp của Nhất Linh” của Nguyễn Tường Thiết, Google)

Những thằng bù nhìn

 


* Khuất Ðẩu


 


Lúc nhỏ tôi rất thích những thằng bù nhìn. Nó chỉ có một cái đầu cắm trên một nhánh tre cao hơn mặt ruộng. Khuôn mặt nó dù cố tình làm ra vẻ hung dữ vẫn chẳng làm cho ai sợ ngoài lũ chim. Phải nói đó là một khuôn mặt rất buồn, rất cô độc, giống như mặt người trên các bức tượng nhà mồ. Áo của nó có lẽ là cái áo tã nhất trên đời này, vừa bạc màu vì mưa nắng vừa rách te tua như áo của những người ăn xin.



Khi lúa bắt đầu chín, bắp đã héo râu, người nông dân quen cầm cày hơn cầm cọ, một hôm bỗng lấy hai thanh tre một dài một ngắn cột thành hình chữ thập như thánh giá. Rồi ông ta lấy rơm cuộn tròn như trái bưởi, bọc lại bằng những mảnh vải cũ, và với đôi tay không một chút tài hoa, ông vẽ hai con mắt giống như hai con cá ươn, thêm một cái miệng khá to như đang hả họng ra gào. Ông mặc cho nó cái áo cũ của chính mình, đội cho nó một chiếc nón cời, rồi đem cái hình nhân ngộ nghĩnh đó ra vườn hay ra ruộng. Nếu lúc ấy trời có gió, thằng bù nhìn múa may trông như thật với hai cánh tay dang ra, cái nón lắc lư và cái áo đôi lúc phồng lên như đang ưỡn ngực ra một cách oai vệ. Lũ chim trông thấy nó khác gì như ta trông thấy cọp. Ðể xua đuổi lũ két lì lợm, ông đeo thêm một cái mõ tre hay một chùm lục lạc. Thằng bù nhìn không mặc quần nhưng nó không hề biết mắc cỡ và cũng chẳng ai thấy vậy là tục tĩu, vì bên dưới là lúa đang chín vàng rực và bắp đang phơi những trái no tròn.


Dưới nắng gió và trăng sao, những thằng bù nhìn kiên nhẫn đứng canh những giọt mồ hôi và nước mắt của người nông dân để không bị ai cướp cho dù kẻ cướp ấy là lũ chim đáng yêu. Nhưng đó là những ngày xa xưa khi chim mía, chim sẻ, chim cúc cu, chim két bay đầy trời. Cả ngàn con chỉ trong chớp mắt đã có thể cướp đi bao nhiêu hạt gạo hạt bắp. Còn bây giờ đào đâu ra những thằng bù nhìn khi trên các bàn nhậu vàng tươm những đĩa chim rô ti, chim nướng thơm phức!


Không còn chim, biết bao loài sâu yêu ma quỷ quái cắn phá đồng ruộng từ khi mạ mới gieo, bắp mới đâm chồi. Xuất hiện trên cánh đồng không phải là những thằng bù nhìn mà chính là những người nông dân, cũng với chiếc áo rách, cái nón cời nhưng có thêm một bình đựng đầy thuốc trừ sâu mang trên lưng. Anh ta kiên nhẫn lắc cái cần bơm rải chất độc trên lúa non và bắp đỗ. Anh lầm lũi đi trong nắng, khuôn mặt anh cũng buồn như mặt thằng bù nhìn do ông cha anh ta vẽ. Anh đi từ năm này qua tháng nọ, hít lấy cái mùi hóa chất giết người nồng nặc mà không biết hay có biết cũng không thể làm gì hơn rằng chính anh đang đi trên bờ huyệt của đời mình. Bây giờ, anh ao ước còn có lũ chim, thà rằng chia cho chúng một ít thóc, một ít bắp vẫn hơn là chia bớt buồng tim lá phổi cho những tập đoàn hóa chất.


Có một nghịch cảnh lạ lùng trong thời đại chúng ta. Ấy là khi không còn những thằng bù nhìn đáng yêu trên đồng ruộng thì lại xuất hiện nhan nhản những thằng bù nhìn mặt bóng lưỡng bụng đầy bia óc ách trong đời sống xã hội. Chúng nó mặc áo quần bảnh chọe đi giày da bóng lộn ngồi trong xe đời mới. Không cần gió chúng vẫn múa may, gào thét. Chúng nhởn nhơ trên đường phố, trong nhà hàng, rạp hát, trên sân khấu, trong trường học nhà thương… Chúng như nhặng như ruồi trên những bãi rác khổng lồ. Chúng xuất hiện ở đâu là ở đó những sân gôn xanh mướt mọc lên, là xóm làng vắng bóng trai cày, là trẻ con thiếu ăn ốm đói, là điện cúp, nước máy không chảy, là phao ném tới tấp vào phòng thi, là những người già không con cháu nằm lê lết trên các hành lang bệnh viện với khuôn mặt còn buồn hơn mặt thằng bù nhìn ngày xưa, là cảnh mua quan bán chức náo nhiệt như phiên chợ tết, là điện thoại di động réo liên tục như cơm sôi…


Vậy đó, phải chi có một buổi sớm mai thức dậy được nghe tiếng chim hót trên đầu hiên nhà, sẽ lại thấy những thằng bù nhìn đáng yêu và biến mất những thằng bù nhìn đáng ghét.


Có vô vọng chăng?


(Nguồn: Tác giả gửi qua Thư viện Sáng tạo)

Bài viết về 30 Tháng Tư tại Sài Gòn

 


* Huỳnh Thục Vy


 


LTS: Chúng tôi nhận được bài này khá lâu nhưng chưa thể kiểm chứng được 100% . Tuy nhiên vì không muốn mất thời gian tính nữa, chúng tôi cho đăng kỳ này. Có gì sơ sót, xin được góp ý. Trân trọng. QV.


 


Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có.



Huỳnh Thục Vy (Nguồn: Google)


Những gì ít ỏi mà tôi được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Ðứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những ngụy biện không có lợi cho sự tiến bộ.


Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland – tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam – về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: “Of course, he was a formidable adversary… By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius…” Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm… Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự…”


Dù chúng ta là ai, đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự “nguy hiểm” của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm”mục đích biện minh cho phương tiện,” nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Ðối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả.


Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan… Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ “formidable” mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa “arousing fear” (gợi nên sự sợ hãi) . Với nghĩa này, nó gần giống với “terrorise” (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là “khủng bố.” Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một “đối thủ ghê gớm” như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị.


Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử- những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy – chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng “làm cho sợ hãi” của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân, và các “trận đánh” của đội Biệt động Sài Gòn như: “trận đánh” tàu nhà hàng Mỹ Cảnh,” trận đánh “cư xá Brinks…” và chưa kể đến những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những “trận đánh” như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống… Ðến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Ðà Nẵng, những người dân sống ở Ðà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Ðó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là “quân giải phóng.”


Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người “nằm vùng” gọi là “trận đánh” gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ…. Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy “Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks.” Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Ðộng Sài Gòn thực hiện. Ðiều mà họ gọi là “trận đánh” sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Ðối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những kẻ “nguy hiểm,” “ghê gớm.”


Ngoài cái cách thể hiện “formidable” như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Ðối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại!


Ðể rồi sau cái ngày “thống nhất” ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi; là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về “công lao chống Mỹ cứu nước của Ðảng” vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người “có học” ở Việt Nam.


Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù… phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị… chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào “mục đích biện minh cho phương tiện.” Chúng ta biết rằng, việc đánh giá tính chính đáng của phương tiện tùy thuộc vào mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản.


Kết quả là, “sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước” đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước “giải phóng” hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?


Ðó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng.” Hay như Lê Duẩn từng nói: XHC “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước, cho cả nhân loại.” Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Ðông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hóa một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt.


Ðã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày”giải phóng,” giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hòa hợp trong tình tự dân tộc. Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới : chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hóa người dân, với một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự hòa hợp dân tộc có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc.


Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt trí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự hòa hợp có khả năng xóa bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần hòa giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thỏa hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình hòa hợp, hòa giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Ðiện đã làm. Chỉ e… Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là “chủ trương nhất quán,” là “ưu tiên hàng đầu” như lời tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh.


Mỗi năm Tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạt, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hóa, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao? Ba mươi Tháng Tư – xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự hòa hợp dân tộc và nền công lý.


Sài Gòn, ngày 20 tháng 4 năm 2012


(Nguồn: [email protected])

Tin Ngan

 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


 



  • Quận Cam cắt $50 ngàn trong ngân sách của Ủy Ban Giao Tế Nhân Sự, cơ quan chuyên hòa giải xung đột giữa cảnh sát/cư dân/nhóm sắc tộc.

 



  • OCTA đề nghị làm đường xe điện đi từ sân vận động Angel, dọc Katella, đến Disneyland, quẹo trái tại Harbor, và chạy xuống tới Westminster.

 



  • 54 ngàn người tham gia đấu giá bộ sưu tập xe cổ của nhà Barrett-Jackson, giá $14 triệu, tại Orange County Fairgrounds.

 


Việt Nam


 



  • Áp thấp nhiệt đới cách đảo Luzon, Philippines, 700 km phía Ðông Nam và tiến lên thành bão, vào Biển Ðông trong một, hai ngày tới.

 



  • Hai khách người Tây Ban Nha đến du lịch tại Sài Gòn đã phải trả 400,000 đồng (gần $20) cho 1 km taxi “dù.”

 



  • Một phụ nữ Ðồng Tháp sanh 4 nhờ phương pháp “mổ bắt con” của bệnh viện Từ Dũ (Sài Gòn).

 



  • Người cắm cờ lên Dinh Ðộc Lập ngày 30 tháng 4, 1975, đột tử tại nhà riêng ở Thái Bình, thọ 64 tuổi.

 


Hoa Kỳ


 



  • Giá xăng trung bình tại Mỹ hiện là $3.40/gallon, thấp nhất trong năm tháng – tin vui cho người sắp lái xe đi chơi lễ Quốc Khánh.

 



  • Tai nạn xe tại Antelope Valley Freeway, gần Los Angeles: 19 xe đụng nhau, 15 người đi bệnh viện.

 



  • Palo Alto: Một phụ nữ ném xách tay vào chiếc xe có nhiều thanh niên mà bà nghi là đã ném sữa chua vào mặt mình. Chiếc ví, có $2,000, rớt vào xe. Cảnh sát truy tìm chiếc xe.

 



  • Sẽ có đa số người Mỹ hài lòng nếu sắp tới đây Tối Cao Pháp Viện phán “Obamacare” vi hiến. Thăm dò của NBC/WSJ.

 



  • Một số cư dân vùng vịnh San Francisco muốn nhìn thấy nước và cầu Golden Gate từ nhà mình, nhưng kẹt một cái nhà khác. Giải pháp: Trả $4.2 triệu, mua đứt căn nhà, phá đi!

 



  • PTT Biden chì chiết ƯCV Romney về tài sản của ông này và quan điểm của Romney trong việc “outsource” công ăn việc làm ra nước ngoài.

 


Thế Giới


 



  • Hai giáo sư đại học Nga lãnh án 12 năm tù, tội chuyển cho Trung Quốc thông tin kỹ thuật về loại hỏa tiễn đạn đạo chiến lược Bulava phóng đi từ tàu ngầm.

 



  • Các ngoại trưởng Liên Âu đồng ý gia tăng cấm vận Iran, và từ 1 tháng 7 sẽ ngưng nhập cảng dầu thô của nước này.

 



  • Saudi Arabia sẽ tài trợ cho phe nổi dậy ở Syria bằng cách trả lương cho các chiến binh thuộc lực lượng “Free Syria Army.”

 



  • Một đường phố ở thánh địa Bethlehem thuộc lãnh thổ Palestine sẽ được đặt tên Tổng thống Nga, Vladimir Putin.

Gặp cựu huấn luyện viên Arigo Sacchi

 


Nguyễn Văn Khanh


 


Bốn mươi tám giờ đồng hồ trước khi hai đội tuyển Ðức và Ý gặp nhau trên sân Warsaw, Ba Lanh, để tranh chỗ vào chung kết, cựu huấn luyện viên Arigo Sacchi của Ý đã dành cho đặc phái viên Nguyễn Văn Khanh cuộc phỏng vấn ngắn nói về triển vọng của đội tuyển Ý ở Euro 2012.









Nhà báo Nguyễn Văn Khanh (trái) và cựu huấn luyện viên đội tuyển Ý, ông Arigo Sacchi. (Hình: Nguyễn Văn Khanh cung cấp)


Ðược ca tụng là một trong những huấn luyện viên tài ba nhất thế giới, ông Sacchi khởi đầu sự nghiệp khi nhận lời dẫn dắt hội banh cấp quận Baracca Lugo “vì tôi là một anh chuyên bán giầy dép, không có đủ khả năng để làm cầu thủ.” Từ cấp quận ông tiến dần lên cấp thành phố, và được mời làm huấn luyện viên cho AC Milan, giúp hội banh nổi tiếng này 2 lần liên tiếp đoạt Cúp Vô Ðịch Các Hội Tuyển Nhà Nghề Châu Âu (tức cúp C1) hồi 1989 và 1990. Ông cũng là người hướng dẫn đội tuyển Ý vào đến chung kết World Cup 1994, thua Brazil ở vòng đá phạt đền.


Thế giới bóng đá còn biết đến ông vì khi nhận lời điều khiển AC Milan, báo chí Ý thắc mắc không biết một người chưa từng là cầu thủ có thể đảm trách vai trò huấn luyện viên cho một hội banh hay không. Câu trả lời bất hủ của ông là “không thể bắt phải là con ngựa rồi mới được làm nài ngựa.”


Sau đây là cuộc phỏng vấn.


 


-Nguyễn Văn Khanh: Ðội tuyển Ý bất ngờ vào đến bán kết EURO 2012. Ông có ngạc nhiên không?


-HLV Sacchi: Tôi không ngạc nhiên một chút nào cả, nhưng tôi cũng không đồng ý với chữ bất ngờ ông mới dùng.


Quả thật đội tuyển không đá xuất sắc ở những trận đầu, nhưng sau đó là những đường banh tuyệt vời và cả thế giới đều biết đó là chuyện rất thường xảy ra với đội tuyển Ý. Ðá một vài trận không xuất sắc không có nghĩa là đội tuyển của chúng tôi kém. Ông phải hiểu tranh giải là một tiến trình rất dài, qua nhiều trận banh, và mục tiêu quan trọng nhất là phải đi tới đích. Không thể vì một trận không làm khán giả hài lòng mà bảo rằng đội tuyển Ý không có khả năng hay không đủ sức đi tới đích.


-Nguyễn Văn Khanh: Phải chăng ông muốn nói là Ý sẽ đoạt vô địch Euro 2012?


-HLV Sacchi: Tôi hy vọng như vậy. Tôi không thấy bất cứ lý do nào cản trở hy vọng của đội tuyển, của khán giả ủng hộ cũng như của cá nhân tôi. Tôi hy vọng đội Ý sẽ đoạt giải.


-Nguyễn Văn Khanh: Ông cũng biết Ðức có nhiều cầu thủ giỏi, họ thành công rất lớn ở 3 trận vòng bảng và trận tứ kết cách đây vài ngày. Trong khi đó đội tuyển Ý mất đi một vài cầu thủ nòng cốt, buộc De Rossi phải đóng cả vai trò trung vệ lẫn hậu vệ. Ðiều đó có khiến ông lo âu cho đội tuyển ông từng dẫn dắt không?


-HLV Sacchi: Chẳng có gì khiến tôi lo âu cả, và tôi đã nhiều lần nói với những ai ủng hộ đội tuyển Ý rằng đừng lo âu thái quá. Trong trận gặp Anh, Chiellini không thể ra sân thì có Bonnuci thay thế và làm tròn vai trò được giao phó. Tôi được nghe nói là sức khỏe của Thiago Motta ngày một tốt hơn, có khả năng trở lại với đội tuyển trong trận kế tiếp.


-Nguyễn Văn Khanh: Nhưng trong trận gặp Ðức sắp đến thì sao? Các nhà bình luận thể thao đang có mặt tại Euro 2012 đều nói đội tuyển Ý phải có một dàn hậu vệ thật cứng để truy cản sức tấn công của Ðức. Như vậy liệu Ý có phải thay đổi đấu pháp không?


-HLV Sacchi: Ai cũng chú trọng đến đấu pháp mà quên đi một chuyện rất quan trọng, đó là các cầu thủ phải ăn khớp, phải nhịp nhàng với nhau, nếu muốn thành công thì phải là một. Ðấu pháp cũng không quan trọng cho bằng chuyện 11 cầu thủ phải hòa mình với nhau để trở thành một. Ðó là yếu tố dẫn đến thành công.


-Nguyễn Văn Khanh: Ông đã nhìn thấy điều đó ở đội tuyển Ý tại Euro chưa?


-HLV Sacchi: Ở trận đầu vòng bảng các cầu thủ của đội tuyển không được nhịp nhàng, không ăn khớp như mọi người mong muốn. Nhưng dần dần họ kết hợp với nhau hay hơn. Khi kết hợp được rồi thì họ làm chủ trái banh và làm chủ sân cỏ.


-Nguyễn Văn Khanh: Dự đoán của ông về các trận bán kết như thế nào? Ai thắng? Ai thua?


-HLV Sacchi: Khán giả là tập thể thắng lớn nhất, vì mọi người sẽ được xem những trận banh đầy sôi nổi, hào hứng.


-Nguyễn Văn Khanh: Và ông vẫn tin đội tuyển Ý sẽ đoạt vô địch Euro 2012?


-HLV Sacchi: Tôi hy vọng như vậy.


-Nguyễn Văn Khanh: Xin cám ơn ông.

Tìm Nguyễn Thị Hồng Châu

 


Ở Culver city năm 1995… trước 1975 nhà ở 52 Nguyễn Huy Tự, Ðakao.


 Xin vui lòng liên lạc Châu 408-460-7457, 714-591-5167. Rất mong tin.

Tìm ân nhân Vũ Mạnh Cường

 


Có anh trai tên Vũ Mạnh Hùng là giáo sư trường Thánh Thomas, nhà ở 33 Nguyễn Văn Thành, Gia Ðịnh trước 1975.


Xin gọi cho Quỳnh 714-591-5167, 408-460-7457.

Tin mới cập nhật