Thêm một bước quay trở lui về dĩ vãng của Mỹ

Hôm Thứ Sáu, Tổng Thống Donald Trump loan báo sẽ rút lại nhiều điều khoản trong thỏa hiệp của Tổng Thống Barack Obama với Cuba mà ông gọi là “thỏa hiệp một chiều.”

Luật lệ về du lịch và chuyển tiền đến Cuba sẽ được siết chặt.

Tuy nhiên, nhiều quan hệ ngoại giao và thương mại sẽ được duy trì.

Tòa đại sứ Mỹ ở Cuba vẫn mở cửa, các chuyến bay hàng không thương mại tiếp tục hoạt động và dân Mỹ có thể mua hàng hóa Cuba đem về.

Tổng Thống Trump loan báo những quyết định này tại Little Havana, trung tâm của dân Cuba tị nạn ở Miami, trong rạp Manuel Artime, tên một thủ lãnh đội quân do CIA yểm trợ đổ bộ vào Vịnh Con Heo Tháng Tư, 1961, nhưng không thành công trong mục tiêu lật đổ chế độ Fidel Castro.

Ông nói: “Chúng ta không im lặng trước sự đàn áp của Cộng Sản thêm nữa. Năm ngoái tôi đã hứa sẽ là tiếng nói chống đàn áp, tiếng nói của tự do cho người dân Cuba. Mọi người đều nghe lời ấy và bây giờ tôi đang thực hiện đây.”

Tổng Thống Donald Trump khẳng định: “Với sự trợ lực của Thượng Đế, không bao lâu, sẽ có một nước Cuba tự do.”

Ông không nêu lên những biện pháp nào cụ thể và mới, chỉ là sự bãi bỏ hoặc siết chặt lại các biện pháp đã được Tổng Thống Obama nới lỏng.

Những phát biểu của ông Trump về Cuba khiến người ta phải liên tưởng đến quan hệ hiện nay của Mỹ đối với hai chế độ Cộng Sản khác, Việt Nam và Trung Quốc, mà chủ đề tự do và nhân quyền không được coi là trọng điểm.

Bản tuyên bố chung của Tổng Thống Mỹ Donald Trump và Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đưa ra ở Tòa Bạch Ốc ngày 31 Tháng Năm không đề cập gì đến vấn đề tự do và tình trạng nhân quyền.

Bản tuyên bố chung chỉ chú trọng đến quan hệ thương mại, cổ vũ tiếp cận ở cấp cao giữa hai chính phủ để gia tăng mối hợp tác hữu nghị toàn diện, đồng thời là những nguyên tắc tuân thủ Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và công pháp quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và chế độ chính trị của nhau.

Quan hệ Mỹ-Cuba bắt đầu cải thiện vào Tháng Mười Hai, 2014, khi Mỹ chấp thuận từng bước tái lập quan hệ bình thường sau suốt 54 năm đoạn giao kéo dài từ thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Thương lượng bí mật Mỹ-Cuba được tiến hành trong nhiều tháng trước đó vói sự trợ giúp của Đức Giáo Hoàng Francis và chính phủ Canada qua những cuộc họp ở Vatican và Canada.

Tổng Thống Obama nhìn nhận rằng vẫn còn khác biệt lớn giữa Mỹ và Cuba, nhưng đường lối tốt nhất cho hai nước không phải là cô lập hóa lẫn nhau mà là can dự cùng nhau giải quyết vấn đề. Theo ông, một chính sách mới là cần thiết sau 50 năm Mỹ đã cô lập hóa Cuba và thực tế không có hiệu quả, ngược lại còn tạo điều kiện cho chính quyền Castro không cải tổ thể chế và duy trì sự đàn áp tự do nhân quyền. Tháng Ba, 2016, ông Obama là nhà lãnh đạo Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Cuba kể từ lần Tổng Thống Calvin Coolidge thăm nơi này năm 1928.

Thật ra, Tổng Thống Obama không phải là người đầu tiên muốn thay đổi chính sách ở Cuba. Mỹ bắt đầu cấm vận Cuba năm 1960 sau khi Fidel Castro lật đổ chính quyền cũ và đi vào khối xã hội chủ nghĩa. Năm 1962 Liên Xô đưa hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử đến đặt tại Cuba, Tổng Thống John Kennedy cho Hải Quân Mỹ phong tỏa đảo quốc này và Liên Xô buộc phải rút đi. Nhận thấy Fidel Castro bất mãn với Liên Xô vì đã không tham khảo ý kiến Cuba trong hành động ấy, Tổng Thống Kennedy tìm cách thăm dò Cuba để đưa đề nghị bãi bỏ cấm vận, nhưng ít lâu sau đó ông bị ám sát và sáng kiến ấy bị Tổng Thống Lyndon Johnson bỏ qua trong lúc Mỹ bắt đầu can thiệp đem quân vào Việt Nam.

Dưới thời Tổng Thống Gerald Ford, Ngoại Trưởng Henry Kissinger cũng bí mật thương thuyết với Cuba, nhưng việc đảo quốc này đưa chí nguyện quân đến trợ giúp cuộc nổi dậy của cộng sản ở Angola khiến mưu tính ấy trở thành vô nghĩa. Các tổng thống Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, và George W. Bush duy trì chính sách ngoại giao không nhân nhượng trừ khi chính quyền Havana thay đổi chế độ.

Đến thời Tổng Thống Obama, ông mới chủ trương mạnh mẽ cải đổi chính sách ngoại giao cổ hủ không còn thích hợp với thực trạng toàn cầu.

Tuy vậy, Tổng Thống Obama chưa giải tỏa được lệnh cấm vận Cuba vì luật này phải được Quốc Hội chấp thuận và trong khối lập pháp này, có ý kiến bênh và chống ngang ngửa nhau. Hầu hết những nhà lập pháp Dân Chủ đồng ý thay đổi chính sách với Cuba, trong khi nhiều người Cộng Hòa mạnh mẽ phản đối.

Thượng Nghị Sĩ Marco Rubio (Cộng Hòa-Florida), gốc Cuba, nói rằng chủ trương nới lỏng là sai lầm khi chính quyền cộng sản vẫn còn tồn tại.

Tuy nhiên, Thượng Nghị Sĩ Rand Paul (Cộng Hòa-Kentucky) lại cho là đã đến lúc phải thay đổi đường lối cũ kỹ từ trên nửa thế kỷ.

Trong chiều hướng muốn xóa bỏ hầu như tất cả những công trình của người tiền nhiệm, Tổng Thống Donald Trump rút khỏi thỏa thuận quốc tế về khí hậu ở Paris và bây giờ tới cấm vận Cuba.

Riêng mục tiêu nhắm tới đầu tiên là dự luật cải tổ Obamacare hãy còn gặp nhiều rắc rối nhưng chắc chắn sẽ bị thay thế bằng một dự luật khác đang được Quốc Hội Cộng Hòa thảo luận.

Nên khách quan nhận định, người ta thấy, sau năm tháng đầu tiên nắm giữ Tòa Bạch Ốc, chính quyền Trump chưa chủ động tạo được thành tích độc lập gì đáng kể ngoài việc dọn dẹp xóa bỏ hoàn toàn những chính sách và chương trình hiện hữu, đồng thời là chiều hướng đi ngược với những cải tổ hay sáng kiến mới.

Chủ trương tái khai thác loại năng lượng hóa thạch, than đá và dầu khí, thay vì phát triển năng lượng sạch, là sự trở lại thời kỳ cách mạng kỹ nghệ tiền thông tin ở thế kỷ 18 – 20.

Siết chặt chính sách đối với Cuba không có gì mới, đó là chủ trương đã được Mỹ duy trì trong hơn nửa thế kỷ và chế độ kiểu Marxist của Fidel Castro qua suốt thời gian ấy vẫn nắm vững quyền lực, dân chúng Cuba vẫn chịu đàn áp và mức sống không được cải thiện.

Giải quyết vấn đề bằng lối áp dụng mãi mãi những phương cách không còn thích hợp cũng sai lầm giống như sự cố gắng duy trì vĩnh viễn không cải tổ hiện trạng đã lỗi thời. Tiến hóa là chân lý của nhân loại để phát triển và kinh nghiệm lịch sử chứng minh rằng không một quốc gia, một dân tộc nào có thể hùng mạnh bằng cách quay trở lại chỗ cũ.

Do đó, đồng ý hay không đồng ý, nên quan tâm nhận định về nhiều chủ trương của chính quyền Donald Trump hiện nay đối với tương lai nước Mỹ.

Chưa biết trong nhiệm kỳ này, và có thể thêm một nhiệm kỳ nữa, Tổng Thống Trump sẽ có những biện pháp gì để sớm đem lại một đất nước Cuba tự do như lời ông hứa hẹn, một mục tiêu mà qua 56 năm, chín đời tổng thống Mỹ, chưa người nào đạt tới.

Dân Chủ là mua bảo hiểm

Một điều học được qua những cuộc bỏ phiếu toàn quốc ở Anh, Mỹ, Pháp trong một năm qua là người ta rất khó đoán trước kết quả. Khó đoán trúng được cử tri sẽ bầu cho đảng nào (Pháp), ứng cử viên nào (Mỹ), hoặc đường lối nào cho quốc gia (Anh). Những chuyên viên nghiên cứu dư luận cũng thất bại. Bởi vì, mặc dầu vẫn nắm vững những phương pháp rất khoa học, nhưng vì thái độ và hành động của các cử tri thay đổi bất ngờ nên các giả thiết họ đặt ra về tâm lý con người có lúc hoàn toàn sai. Có những cử tri luôn trung thành với một đảng bỗng chán không thèm đi bầu cho ai cả. Có những người chẳng thiết tha đến chuyện bầu cử bỗng nổi nóng quyết tâm đi bỏ phiếu cho một người mình thích!

Năm ngoái, bên Anh, vụ “Brexit” làm mọi người choáng váng. Khi Thủ Tướng David Cameron mời dân Anh bỏ phiếu hỏi có muốn tách khỏi Liên Hiệp Châu Âu (EU) hay không, ông tin rằng đa số dân sẽ nói “Không” như chủ trương của cả hai đảng lớn nhất. Không ngờ, sau cùng phe “Tách” chiếm đa số. Năm nay, bà Thủ Tướng Theresa May lại tổ chức bầu nghị viện sớm (đến ba năm nữa mới cần bầu lại). Bà tính thắng lớn để có thế mạnh khi thương thuyết vụ Brexit với chính phủ các nước khác trong EU. Kết quả, đảng Bảo Thủ đang chiếm đa số vững vàng ở nghị viện giờ tụt xuống dưới một nửa, thay vì mạnh hơn thì chính phủ bà sẽ yếu hơn.

Cuối năm, Tổng Thống Donald Trump đắc cử khiến giới chính trị trong cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ kinh ngạc. Trước đó một năm không ai tin ông Trump có chút hy vọng nào. Họ báo động ông ta không thích hợp (fit) với vai trò tổng thống; mà cũng không ai biết chắc đường lối, chính sách của ông sẽ ra sao.

Ở Pháp, Tổng Thống Emmanuel Macron và phong trào En Marche của ông thắng cử cũng là chuyện vô tiền khoáng hậu. Cả hai đảng Cộng Hòa và Xã Hội vẫn thay nhau cầm quyền mấy chục năm, cả hai đều rớt đài thảm hại. Một ứng cử viên chưa đầy 40 tuổi với một tập hợp chính trị mới ra đời mấy tháng trời đã làm đảo lộn trật tự cũ.

Kết quả những cuộc bỏ phiếu trên làm nổi bật một điểm nổi bật của xã hội dân chủ; là tính chất bất định (uncertainty), khó tiên đoán. Các chế độ độc tài khác hẳn. Trước khi dân bỏ phiếu người ta đã biết ai sẽ thắng, biết đến cả tỷ số thắng bao nhiêu!

Tâm lý con người thường không thích sống trong bất định. Đó là lý do các hãng bảo hiểm đã ra đời và sống mạnh! Sau khi mua nhà, mua xe, ta đi mua bảo hiểm ngay, cho đỡ lo lắng. Suốt đời chúng ta lúc nào cũng phải lo chuyện bảo hiểm! Kim Trọng và Thúy Kiều sau khi thề ước đã trao đổi ngay một số vật quý làm tin, cũng là một hình thức bảo hiểm!

Vậy tại sao loài người vẫn muốn xây dựng xã hội có dân chủ tự do, chấp nhận tình trạng đầy bất trắc trong cuộc sống thay đổi thường xuyên như vậy?

Nói cách khác, khi tính thiết lập chế độ dân chủ, giống như khi xây một cái nhà mới, chúng ta mua bảo hiểm ở đâu để tránh những rủi ro mà tính bất định có thể gây ra?

Có một cách giải đáp sẵn sàng, là nêu lên nguyên tắc: “Toàn dân chọn người nắm quyền, ai chiếm đa số phiếu thì thắng, qua những cuộc bỏ phiếu tự do, có định kỳ.” Dùng những quy tắc bảo đảm, khi nào đa số dân chọn lầm người lãnh đạo (lầm lẫn là một quyền hiến định của mọi công dân), hậu quả tai hại sẽ bị giới hạn, vì sau ít năm dân sẽ nghĩ lại khi họ bỏ phiếu. Như Pericles ở Athens nói, vào khoảng năm 430 BC, “tuy chỉ một số người nhỏ nắm quyền đề ra các chính sách, tất cả chúng ta có thể phán đoán các chính sách của họ.”

Nhưng các quy tắc trên có đủ làm “bảo hiểm” cho những rủi ro của chế độ dân chủ hay không? Có hai mối rủi ro cần phải tránh: Thứ nhất, làm cách nào để nếu dân chọn lầm người lãnh đạo, người đó sẽ không làm hại quá đáng trong bốn, năm năm cầm quyền (sáu năm ở Mexico, bảy năm ở Nga)? Thứ hai, làm cách nào ngăn cản không cho họ tự biến thành độc tài chuyên chế như Hitler đã làm ở Đức, Marcos ở Phillipines (cả hai đều không cướp chính quyền, họ được dân bàu trong những cuộc bỏ phiếu đúng hiến pháp).

Theo kinh nghiệm thì những quy tắc như bàu cử tự do, có định kỳ, vẫn chưa bảo đảm đầy đủ cho chế độ dân chủ.

Theo Karl Popper, tác giả The Open Society and its Enemies (Xã hội mở và những kẻ thù, 1945) thể chế dân chủ còn thiếu sót khi không nêu đúng những câu hỏi hệ trọng nhất.

Khi chuẩn bị thiết lập thể chế dân chủ, người ta thường đặt những câu hỏi nào?

Thông thường nhất là những câu hỏi có tính chất định nghĩa, như “Ai làm chủ quyền hành?” Câu trả lời hiển nhiên là: “Tất cả mọi người dân.” Nhưng làm cách nào toàn dân có thể cùng nắm quyền như khi các công dân ở Athens họp nhau? Trả lời: Họ bỏ phiếu chọn những đại biểu, mà triết gia Plato ngây thơ đặt tiêu chuẩn, “phải là những người tốt nhất.” Ai biết người thế nào là “tốt nhất?” Mỗi người mỗi ý, ai cũng có quyền chọn như nhau.

Dân thành phố Athens có lúc muốn những cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do và công bằng, đã chọn người cầm quyền bằng các bốc thăm! Mọi công dân ai cũng có hy vọng đắc cử, công bằng tuyệt đối!

Dù cho dân chúng tự do chọn người nắm quyền, theo tiêu chuẩn mà họ quyết định, chúng ta cũng chưa mua đủ bảo hiểm cho hai loại rủi ro đã nêu trên đây. Một người được đa số dân bầu, có thể làm bậy suốt nhiệm kỳ. Họ vẫn có thể học theo Napoleon, lái cả chế độ gọi là dân chủ thành đế chế mà dân chúng vẫn hoan hỉ, theo ông kéo nhau đi chết vinh quang!

Câu hỏi thích đáng nhất khi thiết lập dân chủ, như Karl Popper đề nghị là: Cơ cấu chế độ làm cách nào ngăn cản các bạo chúa?

Đây là một câu hỏi rất thực tế, không xứng đáng được các triết gia bàn luận, như khi hỏi: Gốc của quyền hành bắt nguồn từ đâu ra? Nói cách khác: Trên lý thuyết, anh nhân danh cái gì mà đòi nắm đầu nắm cổ người khác? Lịch sử đã thử trả lời nhiều cách: Thiên mệnh, Thượng Đế, truyền thống, lịch sử, giới vô sản, hoặc nhân dân,… Những câu trả lời này giờ không còn ai tin nữa. Nhưng câu hỏi “ai nắm quyền?” vẫn được truyền tụng, vì trên lý thuyết đó là vấn đề quan trọng nhất.

Lối đặt câu hỏi thực tế trên, không phải Karl Popper tự nghĩ ra. Vốn người nước Áo, sống ở New Zealand, nhưng ông rút kinh nghiệm lịch sử chính trị nước Anh. Từ khi ký kết bản Đại Hiến Chương giữa nhà vua và giới quý tộc (Magna Carta, 15 Tháng Sáu, 2015), chế độ chính trị ở Anh đã tiến dần dần, mỗi bước tiến lại đặt thêm những giới hạn trên quyền hành của nhà vua. Trải qua nhiều thế kỷ, sau cùng ông hay bà vua chỉ còn là một biểu tượng; đến lượt quyền hành của những vị thủ tướng bị giới hạn. Tất cả chỉ theo tập tục, nước Anh không cần viết hiến pháp.

Cho nên, Karl Popper cho rằng điều quan trọng nhất khi chuẩn bị thiết lập dân chủ là đặt giới hạn trên quyền hành. Bản Hiến Pháp lâu đời nhất thế giới, phát hành ở Mỹ, rất ngắn ngủi. Điều được quan tâm nhất trong đó là đặt những giới hạn quyền hành của vị tổng thống. Họ đặt ra hai viện Quốc Hội và một Tối Cao Pháp Viện độc lập để làm công việc này. Để bảo đảm khi một phe nhóm nắm được cả ba bánh xe của guồng máy chính quyền cũng không có thể độc tài chuyên chế, Hiến Pháp Mỹ đề cao quyền của các tiểu bang, làm giới hạn cho quyền của chính phủ liên bang. Muốn ăn chắc hơn, họ đặt ra những thủ tục rất nhiêu khê, khó khăn, cho việc thay đổi Hiến Pháp. Một ông Napoleon hay ông Hitler khó làm ăn ở nước Mỹ.

Những ai đang chuẩn bị tâm tư, trí não bàn chuyện thiết lập tự do dân chủ ở nước Việt Nam nên chú ý đến câu hỏi quan trọng này: Làm cách nào giới hạn quyền hành của người cầm quyền, kể cả những người do dân tự do bầu lên?

Khi chúng ta mua được thứ bảo hiểm đó rồi thì có thể yên tâm hơn. Chính trị một quốc gia có thể đầy những chuyện bất ngờ, như Macron, Trump hoặc Brexit cho thấy, nhưng người dân vẫn yên tâm. Vì chế độ của họ đã mua bảo hiểm rồi!

Nói như Winston Churchill, Chế Độ Dân Chủ là thể chế (chọn người cần quyền) dở nhất. Nó chỉ đỡ tai hại hơn tất cả những thể chế khác đã đem thử trên trái đất này. Churchill không nhận ông nghĩ ra ý kiến đó. Ông nói, trước Viện Dân biểu ngày 11 Tháng Mười Một, 1947, rằng có người đã nói như vậy. Đời sống đầy rủi ro. Chế độ Dân Chủ được coi là “đỡ hại nhất” có lẽ khi mua đủ bảo hiểm, tránh được nhiều rủi ro nhất!

Chiến hạm Hoa Kỳ đụng tàu buôn ngoài khơi Nhật, 7 thủy thủ Mỹ mất tích

TOKYO, Nhật (AP) – Bảy thủy thủ mất tích và hai người bị thương khi một khu trục hạm Mỹ đụng một chiếc tàu buôn ngoài ngơi Nhật lúc sáng sớm Thứ Bảy, lực lượng tuần duyên của Nhật cho biết.

Hình ảnh trên đài truyền hình NHK cho thấy chiến hạm bị hư hại ở giữa mạn tàu bên phải và một người nằm trên băng ca được trực thăng chở đi.

Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ cho biết trên trang Facebook của họ rằng họ đang đếm xem bao nhiêu người bị thương tất cả.

Sau đó, hạm đội cho biết hai người bị thương là Hạm Trưởng Bryce Benson và một thủy thủ.

Hạm Trưởng Bryce Benson được chuyển đến bệnh viện Hải Quân ở Yokosuka và trong tình trạng ổn định. Còn tình trạng của thủy thủ kia chưa được biết.

Lực Lượng Tuần Duyên Nhật nói rằng họ nhận được tín hiệu khẩn cấp từ một tàu mang cờ Philippines, tên là ACX Crystal, vào khoảng 2 giờ 20 phút sáng, rằng có một vụ va chạm với chiến hạm USS Fitzgerald ở vùng biển Tây Nam của Yokosuka, Nhật.

Ông Takeshi Aikawa, một giới chức Tuần Duyên Nhật, nói bảy thủy thủ bị mất tích, và một người bị thương ở đầu, và hiện chưa biết tình trạng của người này ra sao.

Trong khi đó, người nhà của những người mất tích đang chờ đợi tin tức.

“Tất nhiên là chúng tôi vô cùng lo lắng và sợ hãi, và chỉ biết cầu nguyện,” bà Rita Schrimsher, cư ngụ ở Athens, Alabama, nói như vậy qua điện thoại.

Cháu nội của bà, anh Jackson Schrimsher, 23 tuổi, là thủy thủ trên tàu USS Fitzgerald.

Bà nói lần cuối cùng bà liên lạc với cháu của bà là qua tin nhắn trên Facebook hôm Thứ Tư.

Hạm Đội 7 cho biết, chiếc tàu bị ngập nước một số nơi và đang trên đường trở lại Yokosuka.

Mũi chiếc tàu buôn ACX Crystal bị xước sau khi đụng khu trục hạm USS Fitzgerald. (Hình: Iori Sagisawa/Kyodo News via AP)

Hạm đội cũng cho biết, khi va chạm xảy ra, chiến hạm USS Fitzgerald bị chao đảo một chút, và bị hư hại bên hông.

Ông Aikawa nói chiến hạm Mỹ bị ngập vì bị hỏng.

Cho tới nay, chưa thấy có báo cáo thiệt hại hoặc có ai bị thương trên chiếc tàu buôn, theo ông Aikawa.

Đài NHK đưa tin rằng chiếc tàu buôn bị xước bên mạn trái mũi tàu.

Chiếc tàu buôn này có trọng tải 29,060 tấn, dài 222.6 mét, Tuần Duyên Nhật cho biết.

Hải Quân Mỹ nói rằng tai nạn xảy ra cách Yokosuka 56 hải lý về phía Tây Nam. Yokosuka là hải cảng căn cứ của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ.

Một giới chức Bộ Quốc Phòng Mỹ nói rằng nước ngập cả ba phần của tàu USS Fitzgerald.

Hạm đội cho biết, ngay sau khi xảy ra sự việc, khu trục hạm USS Dewey, một tàu y tế, hai tàu kéo, và một số máy bay, được nhanh chóng điều tới hiện trường để tiếp cứu.

Tuần Duyên Nhật cũng điều động năm tàu tuần tra và một máy bay chở theo nhân viên cấp cứu đến hiện trường.

Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ nói rằng mức độ hư hại của USS Fitzgerald đang được đánh giá, và vụ va chạm đang được điều tra. (Đ.D.)

Thêm 16 người bị truy tố trong vụ ẩu đả trước tư dinh đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ ở Mỹ

WASHINGTON, DC (NV) – Các công tố viên liên bang vừa nộp hồ sơ truy tố thêm 16 người về tội tấn công người biểu tình bên ngoài tư dinh đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ ở Mỹ trong chuyến viếng thăm của Tổng Thống Recep Tayyip Erdogan hồi tháng qua.

Vụ này được ghi lại qua video và gây ra một cuộc khủng hoảng ngoại giao với việc Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ triệu đại sứ của nhau đến để bày tỏ sự bất bình, trong khi các giới chức Quốc Hội Mỹ bày tỏ sự giận dữ.

Hai trong số người bị truy tố là công dân Mỹ và vừa bị bắt tuần này.

Ông Sinan Narin, 45 tuổi, ở Virginia, cho hay mình vô tội trước tòa án ở Washington, DC vào trưa ngày Thứ Năm, theo ABC News.

Trong khi đó, ông Eyup Yildirim, 50 tuổi, ở New Jersey, bị bắt giam và đang chờ được giải giao về Washington, DC, cũng theo nguồn tin trên.

Có hai bị cáo khác là công dân Canada, trong khi những người còn lại là công dân Thổ Nhĩ Kỳ – gồm chín nhân viên an ninh và ba cảnh sát viên – tất cả đều ở trong phái đoàn của ông Erdogan.

Bản tin ABC News nói rằng Bộ Ngoại Giao Mỹ đang định có thêm biện pháp với những bị cáo ở ngoại quốc, như cấm không cho nhập cảnh hay hủy chiếu khán.

Bạo động bùng ra hôm 16 Tháng Năm khi nhân viên an ninh Thổ Nhĩ Kỳ và thành phần ủng hộ ông Erdogan đụng độ với người biểu tình gần tư dinh đại sứ Thổ ở Mỹ, nơi ông Erdogan đến ở sau khi gặp Tổng Thống Donald Trump tại Tòa Bạch Ốc. (V.Giang)

Ông Nguyễn Hữu Tài

Bà Quả Phụ Phạm Văn Huynh

Ông Giuse Đăng Văn Chấn

Ông Giuse Đặng Văn Chấn

Bà Ngô Thị Kim Thái

TT Trump tái lập một số biện pháp trừng phạt Cuba

MIAMI, Florida (AP) – Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Sáu tuyên bố tái lập một số giới hạn về du lịch và kinh tế đối với Cuba, vốn được gỡ bỏ dưới thời Tổng Thống Barack Obama.

Ông Trump cũng đòi hỏi chính quyền cộng sản do ông Raul Castro lãnh đạo phải tái thương thảo thỏa thuận bang giao để có lợi hơn cho người dân quốc gia này cũng như người Mỹ gốc Cuba.

Loan báo việc tái lập một số biện pháp mà chính phủ Obama hủy bỏ trước đây, ông Trump cho hay trong bài diễn văn đọc tại Miami rằng phía Havana đạt được quá nhiều nhượng bộ từ Mỹ trong “thỏa thuận sai lầm” thời Tổng Thống Obama, nhưng “nay những ngày đó đã chấm dứt.”

Ông nói rằng các biện pháp trừng phạt Cuba sẽ tiếp tục có hiệu lực cho tới khi chính quyền Havana thả hết tù chính trị, ngưng truy bức người chống đối và tôn trọng tự do ngôn luận.

“Nước Mỹ không chấp nhận những kẻ đàn áp người dân Cuba,” ông Trump nói trong một rạp hát đầy người tham dự. “Những kẻ này chính thức bị bác bỏ ngày hôm nay.”

Tuy lời loan báo của Tổng Thống Trump kkhông hoàn toàn hủy bỏ tiến trình hòa giải với Cuba, chính phủ Trump hiện có nỗ lực nhắm vào sự cởi mở về du lịch cũng như trao đổi thương mại giữa hai nước, nhằm mục đích giảm bớt nguồn lợi tài chánh cho thành phần quân đội và an ninh Cuba, tạo áp lực lên chính quyền.

Tòa đại sứ ở Havana và Washington sẽ tiếp tục mở cửa. Các phi cơ hàng không Mỹ và tàu du lịch sẽ tiếp tục được tới Cuba.

Chính sách “chân ướt, chân ráo” (wet foot, dry foot policy), từng cho phần lớn người Cuba ở lại Mỹ nếu họ đặt chân được lên đất Mỹ, vốn được chấm dứt dưới thời Obama, sẽ tiếp tục không thi hành. Người dân Cuba gốc Mỹ sẽ tiếp tục được gửi tiền về nước.

Ông Trump nói các biện pháp của ông nhằm thúc đẩy sớm có một quốc gia Cuba tự do và điều này sẽ “sớm xảy ra.” (V.Giang)

Chính phủ Trump thôi ngăn cản luật hạn chế khí thải của California

WASHINGTON, DC (NV) – Chính phủ Tổng Thống Donald Trump rút lại đe dọa bác bỏ tiêu chuẩn khắt khe của California đối với xe cộ lưu thông trong tiểu bang, vốn cũng được các tiểu bang khác áp dụng trong việc chống lại sự thay đổi khí hậu mà không cần đến sự giúp đỡ của chính quyền liên bang.

Nhật báo The Los Angeles Times trích dẫn lời ông Scott Pruitt, trưởng Cơ Quan Bảo Vệ Môi Sinh (EPA), hôm Thứ Năm cam kết với các dân cử Quốc Hội rằng cơ quan ông hiện không còn ý định tước đi quyền hạn của California, từng được áp dụng trong nhiều thập niên nhằm giảm bớt khí thải gây nên hiện tượng khói mù và hâm nóng Trái Đất.

Vào đầu năm nay, ông Pruitt từng đưa ra đề nghị rằng chính phủ liên bang có thể sẽ tìm cách bác bỏ quyền của California vốn đặt Washington vào thế đối đầu với tiểu bang về vấn đề môi trường.

Tuy nhiên, khi được hỏi về chủ đề này tại một buổi điều trần ở Hạ Viện về ngân sách của EPA hôm Thứ Năm, ông Pruitt lại dịu giọng khi ca ngợi California là tiểu bang “dẫn đầu” trong việc giữ bầu không khí trong sạch.

Tiêu chuẩn của California được khoảng một chục tiểu bang khác đem ra áp dụng, giúp hình thành nền tảng cho nỗ lực của các tiểu bang và thành phố do phe Dân Chủ kiểm soát, nhằm tiếp tục đáp ứng cam kết của Hoa Kỳ đối với thỏa ước Paris về biến đổi khí hậu mà chính phủ Trump mới rút lui hồi gần đây.

Dù Tổng Thống Trump nới lỏng bớt quy định của chính phủ liên bang, các nhà sản xuất xe hơi, vì muốn tránh tình trạng phải chế tạo xe với các phiên bản khác nhau cho những tiểu bang khác nhau, thường chọn sản xuất xe theo tiêu chuẩn của tiểu bang California.

Theo quy định có từ thời chính phủ Obama, tính đến năm 2025, xe du lịch phải có mức tiêu thụ xăng trung bình khoảng 54 dặm/gallon, tăng từ 36 dặm/gallon như hiện nay. (TP)

Văn chương di dân Á Rập: Giữa hai thế giới

So với các sắc dân thiểu số khác, cộng đồng người Mỹ gốc Á Rập là một cộng đồng tương đối nhỏ ở Hoa Kỳ, khoảng chừng một triệu hai trăm ngàn, theo thống kê dân số mới nhất vào năm 2000.

Nhưng theo nhận định của một số người thì con số đó phải lên đến hai triệu vì có rất nhiều người Á Rập thuộc các thế hệ di dân thứ hai không nhận mình có gốc Á Rập. Ðợt di dân đầu tiên diễn ra khoảng đầu thế kỷ 20, hầu hết là những người Li Băng (Lebanon) chạy trốn cơn hỗn loạn chính trị vì tranh chấp phe phái. Sau đó là đợt di dân vì nghèo đói và tan nát sau Thế Chiến I. Phần đông dân Á Rập định cư ở Boston và New York. Về sau, họ di chuyển ra khắp nơi và hiện nay có những cộng đồng Á Rập ở Detroit, Los Angeles và Chicago.

Một trong những tác phẩm đầu tiên của kinh nghiệm di dân Á Rập là một truyện dài có tựa đề “The Book of Khalid” (1911) của Ameen Rihani. Tuy thế, trong lịch sử gần cả thế kỷ di dân, tác phẩm văn xuôi không nhiều. Ða phần là thơ. Vì theo truyền thống, thơ ca là hình thức văn chương chính của Á Rập.

Các nhà thơ có xu hướng trở về loại thơ truyền khẩu trước thời kỳ Hồi Giáo gọi là “quasida” hay “tụng thi” (ode), mỗi giòng chấm dứt cùng một âm. Trong các bộ tộc du mục, người ta thường học thuộc lòng các bài thơ và diễn đọc trong những buổi sinh hoạt tập thể. Ðề tài chính thường là than khóc cho những vùng đất sa mạc mà họ bỏ lại đàng sau, sau một thời gian dài canh tác.

Các đề tài đó hồi sinh khi những nhà thơ nhớ lại quê hương mà họ bị buộc phải bỏ đi. Gregory Orfalea cho biết, “Ðối với những người Á Rập, thơ là sức mạnh của cảm hứng và nghi lễ, không phải là một cái gì cần phải giấu giếm như trong thế giới hàn lâm. Trong gia đình, một nhà thơ là dấu hiệu của thành tích.”

Cây bút Mỹ gốc Á Rập nổi tiếng nhất là Kahlil Gibran. Ông tài hoa, vừa là nhà thơ vừa là triết gia vừa là họa sĩ. Năm 1895, ông theo gia đình sang định cư ở Boston. Năm 1923, tập thơ “The Prophet” gồm 28 bài thơ có tính cách huyền bí ra đời, đánh dấu đỉnh cao của tài năng Gibran. Ðó một trong những tác phẩm văn chương bán chạy mọi thời của nhà xuất bản Alfred A. Knopf, Hoa Kỳ.

Tổ chức RAWI (The Radius of Arab – American Writers) gồm 150 nhà văn, nhà thơ từ 22 quốc gia Á Rập đến định cư. Về tôn giáo, hầu hết trong số họ đều là người theo Thiên Chúa Giáo, nhưng hiện nay số người Hồi Giáo đang càng ngày càng gia tăng. Ðề tài chính trong các tác phẩm thường là xung đột văn hóa và gia đình. Người ta tìm thấy nỗi cô đơn xuyên suốt qua các bài thơ:

“Leaving a world too old to name
and too undying to forsake,
I flew the cold, expensive sea
toward Columbus’ mistake
where life could never be the same” 

(Tạm dịch:

Từ giã một thế giới không gọi được tên vì quá già nua
và một thế giới không dễ gì từ bỏ vì quá vững chắc
Tôi bay qua vùng biển lạnh, đắc giá
đến vùng đất mà Columbus đã [do] lầm lẫn [mà khám phá ra]
nơi đời sống chẳng còn như xưa)
(Samuel Hazo/ thi sĩ lai Syria và Lebanon)

Ký ức về cái đói và cảm giác thiếu ăn, thèm ăn là nỗi ám ảnh không rời từ những ngày tháng cũ:

“Not one word
of Arabic.
Only my spoon
tapping my plate.
And the hot food poured into me
a bonfire of recollections” 

(Tạm dịch:

Không một
tiếng Á Rập.
Chỉ có cái muỗng
đập vào dĩa.
Và đồ ăn nóng đổ vào tôi
hồi tưởng lại biết bao nhiêu điều)
(D. H. Melhem thi sĩ lai Syria-Lebanon và Hy Lạp)

Giống như những cộng đồng dân thiểu số khác, những người Mỹ gốc Á Rập cảm thấy họ như bị chia đôi, bị xé lẻ giữa truyền thống của cha mẹ là Á Rập (Arabness) và nền văn hóa mới là Mỹ (Americanness). Trong xã hội Hoa Kỳ phân chia trắng-đen, những người Á Rập thường thấy mình thuộc về phía da đen hay ít ra cũng là thuộc về loại hỗn chủng. Tuy thế, một số cây bút Á Rập tránh đề cập thẳng đến chủ đề Á Rập.

Trong số những người viết mới, nữ chiếm đa số. Họ táo bạo hơn và cởi mở hơn khi thách đố với nguyên trạng vì trong truyền thống gia đình Á Rập, họ là giai cấp hạng hai. Hầu hết những cây bút nam giới, như Edward Said, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng thế giới, chỉ ưa nói về chính trị.

Một trong những cây viết nổi tiếng của cộng đồng di dân Á Rập là nhà thơ Suheir Hammad. Cô sinh ra trong một trại tị nạn Palestine ở Amman, Jordan năm 1974. Cô lớn lên giữa những người láng giềng nói tiếng Tây Ban Nha trong giai đoạn đăng quang của nhạc “rap.”

Cha mẹ cô là những tín đồ Hồi Giáo thuần thành. Một người anh gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ, một người em là sinh viên đại học. Cô đứng về phía người Mỹ da đen. Hai tác phẩm đầu “Born Palestine, Born Black” và “Drops of this Story” do một nhà xuất bản đầu tiên của người da đen “Harlem River Press” xuất bản.

Cô cho biết cảm hứng thơ của cô xuất phát từ kinh Coran. Cô trở thành nhà thơ là vì “Có cha mẹ nói về cách sống ở đời bằng âm nhạc của ngôn ngữ. Làm thơ là một cách diễn đạt chính mình sao cho cùng gần gũi với sự sáng tạo nguyên thủy. Với tôi, tính sáng tạo là phản ảnh của một quyền lực cao hơn.”

Hammad được giới văn nghệ New York biết đến nhờ một bài thơ mà cô chuyền đọc sau ngày 11 Tháng Chín:

“Please god, let it be a nightmare, wake me now
please god, after the second plane, please, don’t let it be
anyone who looks like my brothers” 

(Tạm dịch:

Thượng Ðế, xin ngài hãy làm cho nó chỉ là cơn ác mộng, thức con dậy đi
xin ngài, sau chiếc máy bay thứ hai, đừng để
một ai giống như anh em con làm việc đó)

Những dòng thơ đó nói lên tâm trạng cực kỳ hoang mang mà chỉ những người gốc Á Rập mới kinh qua sau biến cố 11 Tháng Chín: cảm giác tội lỗi đi đôi với sợ hãi.

Một nhà văn nữ khác cũng nổi tiếng không kém của cộng đồng di dân Á Rập là Diana Abu-Jaber. Ðề tài chủ yếu của bà trong các sáng tác là sự xung đột về căn cước văn hóa của những đứa con của các gia đình di dân. Một đề tài khác là thực phẩm, theo đó, thực phẩm đóng vai trò như là một phương cách duy trì văn hóa. Bà muốn dùng các món ăn đa dạng Á Rập để kể về câu chuyện gia đình bà qua một hồi ký. Ðiều này rất phù hợp với một phụ nữ lớn lên trong một gia đình bị ám ảnh bởi chuyện ăn uống và thỉnh thoảng làm việc như một chuyên viên về thực phẩm.

Bà đã xuất bản ba tác phẩm. Tác phẩm đầu tiên có tựa đề “Arabian Jazz,” xuất bản vào năm 1993, nhận được sự khen ngợi từ giới phê bình của giòng truyền thông chính ở Hoa Kỳ. Ðây là tiểu thuyết đầu tiên của một người Mỹ gốc Á Rập được phổ biến rộng rãi trong công chúng thưởng ngoạn Hoa Kỳ. Tác phẩm nhận được giải “Oregon Book Award” và sau đó được lọt vào vòng chung kết giải văn bút quốc gia PEN/Hemingway.

Tác phẩm thứ hai, “Memories of Birth,” không có được thuận lợi như tác phẩm đầu. Tác phẩm mới nhất, “Crescent” (có nghĩa là Hồi Giáo), kể lại chuyện tình giữa Sirine, một phụ nữ Mỹ gốc Iraq 38 tuổi cư ngụ ở Los Angeles và Hanif Al Eyad, giáo sư văn chương Á Rập.

Ðiều mỉa mai là các tác phẩm của bà không được đón tiếp nồng nhiệt trong cộng đồng người Mỹ gốc Á Rập. Không những thế, chúng còn gây ra phản ứng giận dữ vì họ cảm thấy bị xúc phạm, nhất là đối với tác phẩm “Crescent,” vì tính cách chế giễu và phê phán của nó đối với người di dân.

Ngược lại, Elie Chalala, chủ bút tạp chí Al Jadid – một tập san chuyên nghiên cứu nghệ thuật và văn hóa Á Rập – cho rằng: “Bà đại diện cho một thế hệ mới của những cây bút Mỹ gốc Á Rập thành công trong khi chuyển đề tài vượt qua loại tác phẩm đầy thiên kiến chính trị của những nhà văn lớp trước&để đối diện với những vấn đề xã hội trong cộng đồng người Mỹ gốc Á Rập.”

———————
Tài liệu tham khảo:
-Andrea Shalal-Esa, Arab-American Writer Weaves Lyrical Tale of Exile, Daily Mirror 31 Tháng Ba, 2003.

-Suheil Bushrui, Kahlil Gibran of America, The Arab American Dialogue, Tháng Giêng – Tháng Hai, 1996.
-Dinitia Smith, Arab-American Writers, Uneasy in Two Worlds, New York Times 19 Tháng Hai, 2003.

Nga có thể đã hạ sát lãnh tụ ISIS trong cuộc không tập

BEIRUT, Lebanon (AP) – Chính phủ Nga hôm Thứ Sáu cho hay đang tìm cách xác định việc có thể họ đã hạ sát được lãnh tụ ISIS trong một cuộc oanh tạc nhắm vào cuộc họp của thành phần lãnh đạo ISIS ở bên ngoài nơi được coi là thủ đô của nhóm này ở Syria.

Bộ Quốc Phòng Nga cho hay ông Abu Bakr al-Baghdadi bị giết trong một cuộc oanh tạc của không quân Nga hồi cuối Tháng Năm, cùng với các giới chức chỉ huy cao cấp khác, và nói thêm rằng tin tức về việc hạ sát ông này đang được kiểm chứng từ một số nguồn khác nhau.

Khi được hỏi về việc này trong một cuộc họp báo ở Moscow sau đó, Ngoại Trưởng Nga Sergey Lavrov nói rằng “tôi không có sự xác định rõ ràng về nguồn tin giết được ông al-Baghdadi.”

Tin tức về cái chết của ông al-Baghdadi được đưa ra trong khi ISIS đang gặp nhiều thất bại quan trọng và các tổn thất lớn lao, qua các cuộc tấn công của nhiều nhóm dân quân được Mỹ và đồng minh hỗ trợ võ khí cũng như không yểm. (V.Giang)

Chính phủ Trump hủy chương trình DAPA áp dụng từ thời Obama

WASHINGTON, DC (NV) – Chương trình di dân có từ thời cựu Tổng Thống Barack Obama nhằm bảo vệ cha mẹ của các công dân và thường trú nhân Hoa Kỳ khỏi bị trục xuất vì họ là di dân lậu, vừa chính thức bị hủy bỏ, đúng như lời hứa của Tổng Thống Donald Trump đưa ra lúc tranh cử.

Theo Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), Bộ Trưởng Nội An John Kelly hôm Thứ Năm chính thức loan báo quyết định hủy bỏ chương trình “Deferred Action for Parents of Americans” (DAPA), đúng kỷ niệm năm thứ năm, ngày áp dụng một chương trình khác, Deferred Action for Childhood Arrivals (DACA), nhằm bảo vệ hàng trăm ngàn di dân lậu vào Mỹ từ lúc còn nhỏ.

DAPA được cựu Tổng Thống Barack Obama loan báo hồi Tháng Mười Một 2014, với ý định che chở cho người có con cái ở Mỹ hợp lệ khỏi bị trục xuất và được cấp giấy phép làm việc có hiệu lực trong vòng hai năm và có thể xin gia hạn sau đó.

Tuy nhiên, chương trình này bị một chánh án liên bang ở Texas chặn lại, sau khi có 26 tiểu bang đệ đơn kiện. Phe Cộng Hòa tố cáo ông Obama vượt quá quyền hạn.

Cả hai chương trình DAPA và DACA đòi hỏi ứng viên phải hội đủ một số điều kiện, gồm việc chưa từng có tiền án hình sự.

Tổng Thống Trump không có kế hoạch nào đối với chương trình DACA, nhưng tính đến nay, hầu hết di dân nằm trong diện DACA chưa nằm trong tầm nhắm của những cuộc bố ráp lùng bắt và trục xuất những di dân sống ở Mỹ bất hợp pháp.

Theo dữ kiện của chính phủ, tính đến ngày 31 Tháng Ba, có khoảng 787,000 di dân trẻ tuổi được chấp thuận cho vào chương trình DACA.

Ông Trump từng đặt việc cưỡng bách thi hành chính sách di dân lên ưu tiên hàng đầu và từng hứa tiếp tục bố ráp những người sống ở Mỹ bất hợp pháp, kể cả lùng bắt những ai tìm cách trốn vào Hoa Kỳ. (TP)

Đu đủ miền Tây bán rẻ như cho vẫn không ai mua

ĐỒNG THÁP, Việt Nam (NV) – Người trồng đu đủ ở huyện Hồng Ngự, đang đứng ngồi không yên vì không có người mua, dù giá bán rẻ như cho.

Theo báo điện tử VNExpress, làng trồng đu đủ ở xã Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang vào mùa thu hoạch nhưng vắng tanh, khác hẳn không khí tấp nập những năm trước.

Tính riêng ấp Thượng, xã Thường Thới Tiền có khoảng 70 gia đình trồng, người ít thì vài công đất còn những người trồng nhiều lên đến vài hécta. Tại các xã Long Khánh A, Long Khánh B… nhiều hộ cũng trồng đu đủ và gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ dù giá giảm nhiều lần.

Với 200 gốc trong vườn nhà, lão nông Trần Văn Xuyến (75 tuổi) buồn bã cho biết, dù đã hạ giá còn 500 đồng/kg, nhưng vẫn không bán được hàng. “Mọi năm, thương lái đến vườn cân giá 5,000 đến 6,000 đồng/kg,” ông so sánh.

Là loại cây dễ trồng, nhẹ công chăm sóc, thường sau bốn tháng, đu đủ sẽ cho thu hoạch với năng suất mỗi cây 30 kg đến 50 kg, bình quân mỗi công khoảng năm tấn trái. Do dễ tiêu thụ, loại cây màu này được nhiều người dân Hồng Ngự chọn trồng.

“Nhưng giờ đầu ra rất bí. Vườn nhà tôi có hơn chục tấn, đang rơi rụng mỗi ngày vì quá lứa thu hoạch. Mấy năm trước, với sản lượng này, nhà tôi bán được 50 đến 60 triệu đồng, trừ chi phí còn lời phân nửa,” ông Trần Văn Trà (51 tuổi) than.

Để vớt vát phần nào vốn đầu tư, một số chủ vườn tìm được thương lái nhưng cũng chỉ bán với giá rẻ như cho. Giá mỗi ký chỉ còn 500 đồng, trong khi đó thuê người thu hoạch đã 200 đồng/kg.

Không thể tiêu thụ, nhà nông đã mang sản phẩm cho bớt các cơ sở từ thiện nhưng các nơi này cũng dư thừa.

“Toàn huyện có khoảng 600 hécta rẫy đu đủ tự chuyển đổi, trồng nhiều quá dẫn đến dư thừa, không có đầu ra,” ông Trần Thành Nhi, trưởng Phòng Nông Nghiệp huyện Hồng Ngự, nói với báo điện tử VNExpress. (Tr.N)

Cờ sắc cầu vồng LGBT được thêm hai sọc đen và nâu

PHILADELPHIA, Pennsylvania (NV) – Thành phố Philadelphia vừa cho treo một lá cờ sắc cầu vồng mới có thêm hai sọc đen và nâu, để bày tỏ sự ủng hộ đối với cộng đồng thiểu số của những người đồng tính, lưỡng tính, và chuyển giới, gọi tắt là LGBT.

Theo hãng thông tấn UPI, thành phố Philadelphia tiết lộ lá cờ hôm Thứ Tư tại tòa thị chính, nơi họ sẽ cho treo đến hết Tháng Sáu, tháng mệnh danh “Pride Month,” được cộng đồng LGBT tổ chức hàng năm trên khắp nước Mỹ.

Qua trang mạng của họ, những người tổ chức viết: “Họa sĩ Gilbert Baker vẽ lá cờ cầu vồng nguyên thủy vào năm 1978. Đó là một biểu tượng riêng biệt. Kể từ đó, nhiều điều đã xảy ra. Nhiều điều tốt đẹp nhưng chúng ta vẫn có thể làm hơn nữa. Để tăng thêm phần quan trọng, chúng ta thêm màu sắc cho lá cờ, gồm màu đen và màu nâu,” nhắm đến người da màu.

Ông Jim Kenney, thị trưởng thành phố Philadelphia, nói: “Tôi lấy làm vinh hạnh được gia nhập cộng đồng LGBTQ để tranh đấu cho sự công chính, bình đẳng và tỏ tình đoàn kết với tất cả thành viên của cộng đồng LGBTQ. Cùng nhau, chúng ta ăn mừng tính cách lịch sử, sự cống hiến và ảnh hưởng mà cộng đồng LGBTQ đóng góp cho Philadelphia nói riêng, và cả quốc gia này nói chung.”

Trang mạng Advocate trích lời bà Amber Hikes, người đứng đầu văn phòng LGBT ở Philadelphia, nói rằng, chấp thuận quyết định thêm hai sọc vào lá cờ là một cách để hiểu rõ hơn giới LGBT và người da màu.

Điều này hợp lý vì Philadelphia từng có một số vấn đề về phân biệt chủng tộc trong năm vừa qua. Việc thêm hai sọc đó là một cử chỉ đẹp. (TP)

Tháp ‘babel’ trong Kinh Thánh và thơ Như Quỳnh de Prelle

Phần thứ ba của thơ Như Quỳnh de Prelle, tác giả chọn “Babel” làm tựa đề chung cho phần này, 37 bài.

Chỉ có một bài, tôi nghĩ có thể liên quan gần xa tới chủ đề “Babel.” Ðó là bài “Babel.” Nội dung đó nguyên văn như sau:

“Thủ tướng Anh Quốc rời chính trường sau sự kiện Brexit trong lịch sử nước Anh và liên hiệp của EU, nước Anh sẽ lùi hay tiến trong tương lai, EU cùng nhau đứng lên mạnh mẽ cải tổ và thống nhất.”

“Trong một diễn biến khác, đội tuyển bóng đá Bồ Ðào Nha vô địch bóng đá Châu Âu 2016.”

“Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama buồn bã với những cái chết của cảnh sát bị tấn công bởi những tay súng.”

“Tổng thống Ðại Pháp mỗi tháng chi trả gần 10 nghìn euro cho việc cắt mái tóc hói của ông làm giới truyền thông tốn giấy mực.”

“Khủng bố vào đêm Quốc Khánh Pháp tại Nice, gần 80 người chết và nhiều người bị thương, nỗi buồn của mùa Hè.”

“Cuộc chạy đua của người đàn bà trong tương lai lần đầu tiên là tổng thống nước Mỹ và Trump không ngừng hào hứng và sinh động.”

“Philippines thắng Trung Hoa lục địa đường biên giới trên biển, lưỡi bò thật khó gặm, Việt Nam có muốn giành Hoàng Sa Trường Sa thật sự không, chỉ có giới chính quyền rõ nhất, nhân dân cứ gào thét dân chủ và đấu tranh cô độc, nhà tù và nhà tù/cá chết từ Vũng Áng và môi trường biển miền Trung trong cơn phẫn nộ của dân chúng, 500 triệu đô la đền bù là thực hay hư ảo để xoa dịu lòng người đã bị đánh mất niềm tin vào chính quyền nhà nước đang thực thi cai trị.”

“Thổ Nhĩ Kỳ dùng quân đội đảo chính chính phủ, hàng nghìn người bị bắt…”

Rồi tác giả đột ngột chuyển qua lãnh vực tình yêu cá nhân:

“Anh không thích thi ca
Anh không thích sinh nhật
Viết lách chả ăn thua gì
Anh chỉ muốn trái tim thuộc về…
Em… đừng đi”
“Anh phán xét em với hệ quy chiếu đạo đức và đạo hạnh của người đàn bà toàn thế giới đóng cửa trước mọi con đường sống còn của em mịt mùng và tăm tối.”
“Sự vô nghĩa khi đánh mất tình yêu và niềm tin, thế giới đổ vỡ như thành Babylon.”

“Các cuộc thảm sát, khủng bố, chính trường bất ổn… thế kỷ 21 như đang thách thức loài người trên những hệ giá trị và sự bảo tồn sự sống, hệ thống quyền lực.”
Như thế, “Babel” của Như Quỳnh de Prelle không một chút liên hệ gần, xa tới Tháp Babel theo Kinh Thánh, mà Wikipedia-Mở đã ghi nhận, vắn tắt như sau:

“Tháp Babe trong sách Sáng Thế Ký, là một ngọn tháp to lớn được xây dựng ở thành phố Babylon, một thành phố quốc tế điển hình bởi sự hỗn tạp giữa các ngôn ngữ, cũng được gọi là ‘sự bắt đầu’ của vương quốc Nimrod. Theo kinh thánh, một nhóm người là các thế hệ tiếp theo sau đại hồng thủy, nói cùng một thứ ngôn ngữ và di trú từ phía Ðông, đã tham gia vào việc xây dựng. Những con người đó quyết định rằng thành phố của họ nên có một cái tháp thật to lớn đến mức đỉnh của nó chạm đến thiên đường.”

“Tuy nhiên, Tháp Babel không được xây dựng để thờ phượng Ðức Chúa Trời, nhưng là để thể hiện sự huy hoàng của con người, để ‘đặt tên’ cho người xây tháp. ‘Sau đó họ nói, ‘Ðến đây, chúng ta xây dựng một thành phố của riêng chúng ta (…)” (Genesis 11:4). Vì thế, khi “Ðức Giê-hô-va ngự xuống, đã phán rằng: ‘…Thôi! chúng ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.’ Rồi, từ đó Ðức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành (…) (Kinh Thánh, Sáng Thế Ký 11:9).”

***

Trong khi đó, “Babel” của Như Quỳnh lại là bản liệt kê những biến động lớn, bé, ý nghĩa và vô nghĩa của thế giới đa cực hôm nay. Những chuyện lặt vặt hằng ngày của các chính khách…

Tôi thực sự không hiểu dụng ý của Như Quỳnh, khi viết “Babel!”

Như khá nhiều những người viết trẻ sau này, xu hướng của họ, dường không hề quan tâm tới lãnh vực tu từ học/rhetoric. Họ cũng không quan tâm tới lãnh vực mỹ học/phonics mà, chỉ chăm chú vào nỗ lực chuyển tải những “thông điệp” của họ, cho thế hệ của họ (?). (*)

Họ cho người đọc cảm tưởng, có những lúc họ “nhập đồng,” mê sảng với những điều mà họ cho đó là “thông điệp?” Hay tiếng nói, phản ảnh những ưu tư, dằn vặt của thế hệ họ (?).

Cũng thế, Như Quỳnh, trong bài thơ “Thư Gửi Jesu,” đã “thân mật hóa” khi gọi Chúa Ngôi Hai, bằng nhân xưng đại danh tự “chàng”:

“Cơ thể của chàng treo trên cây thập giá
rồi tháo xuống
nước mắt và máu tràn ngập cùng mồ hôi
người và người cùng khóc
Jesu chàng đã không chết và không bao giờ chết“

(…)

“Thế kỷ này, Jesu không được nhìn thấy những bất hạnh khác
nhưng chàng đã nhìn ra những đắng cay ấy, những tội đồ ấy
và những kẻ trao cho chàng cái chết
chúng vẫn muốn đóng đinh loài người vào những bức tường trên những định kiến mù lòa và những dùi cui song sắt”
“Jesu ơi, Jesu, chàng có nghe thấu chăng”

Tôi không nói tới sự khó chịu, hay bất mãn của những Ky Tô Hữu (vì thi sĩ khác người thường ở chỗ họ có thể nhân cách hóa, phàm tục hóa bất cứ một nhân vật tôn giáo linh thiêng nào)… Nhưng sự thân mật hóa Chúa Ki Tô, về phương diện tu từ học của Như Quỳnh, tôi cho là không thích hợp. Cũng không nhờ thế mà bài thơ hay tác giả được nâng cấp, lên một trình độ cao hơn!

Tuy nhiên, bên cạnh đó, Như Quỳnh de Prelle cũng có những bài thơ nhẹ nhàng, đằm thắm chia sẻ, mang nhiều tính nhân bản, như bài “Tháng 11 Năm 16”:

“Nỗi buồn tháng 11 u ám
đàn chim ngưng trên mái nhà đầy khói
lò sưởi có đủ ấm cho mùa giá lạnh năm nay
loài người sẽ đi về đâu sau tháng 11 trôi qua
chào một năm khác
một năm khác”

“thở dài trong hy vọng và cần hy vọng
cầu nguyện cho thế giới hòa bình
cho những giá trị không thể vỡ trong một đêm ngắn dài
cầu nguyện tháng 11
cầu nguyện
niệm sinh
mùa tạ ơn đang đến
cầu nguyện cầu nguyện
tháng 11 trôi”

Hoặc bài “Nhớ Metro Số 1”:

“Sân ga Alma mỗi ngày dịch chuyển những chuyến tàu vào trung tâm
những gương mặt buổi sáng vội vàng
những người đàn bà da đen cùng bọn trẻ đến trường
những thiếu nữ quấn khăn trên đầu với những trang phục áo dài sang trọng che hết đôi giày xinh xắn
những điệu nhạc của ngày thường
một vài gương mặt thân quen của những người đàn ông không gia đình”

“Mỗi mùa trôi qua, metro số 1 chở bao nhiêu nhân gian, bao nhiêu số phận…”
(Trích “Nhớ Metro Số 1”)

Hoặc:

“đường vào Châu Âu
qua các biên giới
sự mừng vui
nước mắt
mặc cảm tự ti
cho tờ giấy thông hành
để được tiếp tục sống”

“Châu Âu mùa Hè 15 như một cuộc khủng hoảng
nhiều sắc màu
nhân văn
những gièm pha tị hiềm từ nơi khác
những ẩn ức nhập cư”

“những người đàn ông thất thơ tìm việc
những người đàn bà làm bếp trong lều
những đứa trẻ được hoài thai từ đây trên những con đường
những góc phố
bên cạnh những thùng rác”
(Trích “Bài Ca Vượt Biển 1”)

***

Tôi trộm nghĩ, khép lại thi phẩm thơ Quỳnh là những bài thơ có nội dung nhân bản như vừa trích dẫn ở trên, thì đó cũng là một trong những điểm son của người làm thơ trẻ tuổi này vậy.

(Calif., Tháng Sáu 2017)

———–
Chú thích: (*) Mỹ học (phonics) là bộ môn khoa học, có tính lý thuyết về sự nhận thức và thưởng thức cái đẹp trong thiên nhiên, trong nghệ thuật và trong xã hội. Thuật ngữ này là một phát kiến của triết gia người Ðức, Alexander Baumgarten, để đặt tên cho tác phẩm Aestheticä (Mỹ học) của ông (1750-1757). Ông dùng từ “mỹ học” cho lý thuyết về nghệ thuật tự do hay khoa học về cái đẹp nhận thức được. (Nđd)

Thượng Viện California vinh danh cựu quân nhân VNCH

GARDEN GROVE, California (NV) – Thượng Viện California vừa thông qua Nghị Quyết SCR 61, do Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn làm tác giả, vinh danh cựu quân nhân VNCH và kỷ niệm ngày 19 Tháng Sáu, Ngày Quân Lực VNCH, khắp tiểu bang, thông cáo báo chí của văn phòng vị nữ dân cử này cho biết.

“Sự chọn lựa đặc biệt này là để tỏ lòng kính trọng và ghi ơn các cựu quân nhân VNCH đã chiến đấu can đảm cùng với các chiến sĩ Hoa Kỳ để bảo vệ tự do và dân chủ cho người dân trong cuộc chiến Việt Nam,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn được trích lời phát biểu. “Tôi rất hân hạnh có được sự ủng hộ của các đồng viện tại Thượng Viện trong việc thông qua nghị luật này để vinh danh ngày 19, Tháng Sáu là  ngày mà toàn thể cư dân California tưởng nhớ đến những đóng góp và hy sinh của các quân nhân rất đáng được vinh danh này.”

Trong cuộc chiến Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ và VNCH đã cùng chiến đấu bên nhau để đánh bại các lực lượng Cộng Sản. Trong trận chiến này, khoảng 58,000 chiến sĩ Hoa Kỳ và 250,000 chiến sĩ VNCH đã hy sinh. Hơn 300,000 quân nhân Hoa Kỳ và hơn 1 triệu quân nhân VNCH cũng bị thương trong lúc chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho miền Nam Việt Nam.

Sau khi Sài Gòn bị rơi vào tay Cộng Sản, hàng ngàn cựu chiến sĩ VNCH đuợc định cư trên đất nước Hoa Kỳ tự do này. Riêng tại California, có khoảng 100,000 cựu chiến sĩ VNCH. Ngày nay, những cựu quân nhân này là thành viên hoạt động tích cực của các tổ chức cựu chiến sĩ khắp tiểu bang.

“Ngoài những cống hiến trên chiến trường, cựu quân nhân VNCH đã sát cánh cùng với các cựu chiến sĩ đồng minh Hoa Kỳ để bảo vệ và ủng hộ các mục đích của cựu chiến binh ở California,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn cho biết. “Với nghị quyết này, chúng ta không chỉ vinh danh sự hy sinh và dấn thân của những quân nhân dũng cảm, mà đây còn là một cơ hội để thế hệ mai sau hiểu được ảnh hưởng tốt đẹp của việc phục vụ trong quân đội và cuộc chiến Việt Nam.”

Qua nghị quyết này, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn cũng muốn bày tỏ sự kính trọng và tri ân đối với các chiến sĩ đã hy sinh, cũng như các nạn nhân trong cuộc chiến Việt Nam, theo thông cáo.

Sau khi được Thượng Viện thông qua, SCR 61 sẽ được chuyển sang Hạ Viện để biểu quyết. (Đ.D.)

Tiền Giang: Không còn đất, xây mộ mẹ ngay trong nhà

TIỀN GIANG, Việt Nam (NV) – Khi còn sống, người mẹ lấy đất đem chia cho các con trai, đến khi chết không còn đất, người con gái út phải chôn mẹ ngay trong căn nhà vách lá nhỏ bé, nơi ăn ở, sinh hoạt hằng ngày của mình.

Người mẹ mất đã được khoảng 100 ngày, nhưng khi trò chuyện với phóng viên báo Thanh Niên, bà Trần Thị Phượng (ngụ xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) không cầm được nước mắt.

Theo bà Phượng, gia đình bà có năm anh chị em (ba gái hai trai), bà là con út. Trước đây, khi hai người anh lập gia đình, bà Đào Thị Kế (80 tuổi), mẹ bà Phượng cho mỗi người 2,000 mét vuông đất vườn. Phần còn lại hơn 400 mét vuông, có căn nhà tình thương do chính quyền cấp, bà Kế để lại nhằm sau này khi già yếu bà Phượng ở chung để phụng dưỡng.

“Khi má tôi lâm bệnh, hai bà chị gái bàn với tôi bán miếng đất nói trên để lấy tiền lo thuốc cho má. Lúc đó, do không có tiền lo thuốc thang cho má, tôi đồng ý bán miếng đất cùng với căn nhà tình thương cho người chị gái với giá 50 triệu đồng,” bà Phượng nói.

Bà Trần Thị Hà, con gái lớn của bà Kế, kể thêm: “Sau khi bán đất, nhà cho người chị gái, Phượng xin cái nền 4×4 mét và cất cái nhà để ở. Cất xong, má tôi đòi ở chung với Phượng trong căn nhà 16 mét vuông đó.”

Một thời gian sau, bà Kế mất. “Khi má tôi mất, suy tính mãi, tôi không biết tìm đất nơi đâu để chôn cất, trong khi các anh chị đều im lặng, né tránh. Không còn cách nào khác, tôi quyết định để má tôi nằm luôn trong nhà của mình,” bà Phượng nghẹn ngào kể.

Căn nhà nhỏ có bốn cột bằng xi măng, mái lá, vách được che tạm bợ bằng tấm bạt nhựa. Bên trong nhà, ngôi mộ lát gạch cùng với nơi thờ cúng chiếm hơn phân nửa diện tích. Phần còn lại được kê một cái giường gỗ cũ kỹ, song song với ngôi mộ. Đó là nơi yên nghỉ, thờ cúng người mẹ, cũng là nơi ăn, ở, sinh hoạt của bà Phượng, người đang mang hai chứng bệnh lãng tai và bướu cổ.

Nói với báo Thanh Niên ngày 15 Tháng Sáu, ông Nguyễn Văn Vạn, công an ấp Tân Đông, cho rằng việc bà Kế khi mất được chôn trong nhà của bà Phượng, là “do chuyện nội bộ gia đình.”

Ông Đỗ Quốc Khánh, chủ tịch xã Ngũ Hiệp, cho biết: “Theo tôi nắm sơ bộ thì con, dâu của bà Kế vẫn còn đất ở gần đó. Ở nông thôn, các trường hợp chôn cất trong đất vườn, đất nhà là bình thường. Nhưng chôn trong nhà như trường hợp này thì đây là điều đáng tiếc, ngoài ý muốn.”

“Hướng sắp tới, chúng tôi sẽ vận động bà Phượng tìm nơi khác để cất lại căn nhà. Trong điều kiện, khả năng của địa phương có thể được, chúng tôi sẽ cố gắng tạo điều kiện, hỗ trợ, đồng thời kêu gọi sự giúp đỡ,” ông nói thêm. (Tr.N)

Kháng cáo hồ sơ bảo lãnh bị tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ từ chối (phần 3)

Luật Di Trú Hoa Kỳ là loại luật rất phức tạp, do đó, theo yêu cầu của đa số bạn đọc cần am tường và thấu hiểu về luật này, tòa soạn nhật báo Người Việt mời Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong của Tổ Hợp Luật Sư Nguyễn & Lưu, www.NguyenLuu.com, phụ trách mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú,” đăng hằng tuần trên Người Việt. Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tại Orange County, California, được Luật Sư Đoàn Tiểu Bang California công nhận chuyên môn về ngành Luật Di Trú Hoa Kỳ. Hiện nay California có trên 259,000 luật sư nhưng chỉ có 216 luật sư có bằng chuyên môn về Luật Di Trú, trong số đó có Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong. Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong từng làm việc cho Sở Di Trú Hoa Kỳ (INS). Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong có nhiều kinh nghiệm trong việc thiết lập hồ sơ và bổ túc các tài liệu cần thiết để được Sở Di Trú chấp thuận.

Như đã trình bày vào kỳ trước, rất nhiều đương sự không lưu lại những dữ kiện chứng từ đã nộp cho tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ lúc phỏng vấn và tôi có nêu ra hai lý do quan trọng tại sao đương sự phải giữ lại những bản sao. Sau đây tôi sẽ đưa ra vài điển hình để quý bạn đọc có thể thấu hiểu những lý do tôi đã trình bày vào kỳ trước.

Điển hình là tòa lãnh sự trả hồ sơ về cho Sở Di Trú Hoa Kỳ để từ chối và lý do tòa lãnh sự nêu ra là trong hồ sơ nộp vào cho tòa lãnh sự có một tờ giấy do người em viết để hướng dẫn cho người chị nộp những chứng từ thí dụ như hình ảnh, thư từ… cho tòa lãnh sự để chứng minh sự liên hệ vợ chồng.

Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ cho rằng tờ giấy đó chứng tỏ rằng người em hướng dẫn người chị để qua mặt tòa lãnh sự và những chứng từ đó là cố ý tạo ra để chứng minh sự liên hệ của đương sự. Khi nhận được thơ từ chối của tòa lãnh sự, người bảo lãnh đã liên lạc với tổ hợp luật sư của chúng tôi để đại diện cho họ.

Khi chúng tôi nhận được Notice of Intent to Revoke (tạm dịch là Thông Báo Ý Định Thu Hồi Sự Chấp Thuận) của Sở Di Trú, văn phòng chúng tôi trả lời thông báo của sở di trú và yêu cầu sở di trú đưa chứng minh của tờ giấy đó ra.

Thêm vào đó, chúng tôi kèm theo những chứng từ chứng minh sự liên hệ vợ chồng của người bảo lãnh và người thừa hưởng. Sở Di Trú không những không đưa chứng minh đó ra được mà còn không nghe sự giải thích của chúng tôi rồi lại thu hồi sự chấp thuận của đơn bảo lãnh đó lại.

Chúng tôi kháng cáo hồ sơ lên Tòa Kháng Cáo Di Trú và tòa đã phán rằng hồ sơ sẽ được trả về cho sở di trú và sở này phải tái chấp thuận vì sở di trú không đưa ra chứng minh của tờ giấy đó và những chứng từ chúng tôi nộp vào để trả lời thông báo của sở di trú có đầy đủ chứng minh sự liên hệ vợ chồng của đương sự.

Một điển hình khác là tòa lãnh sự trả hồ sơ về cho sở di trú để từ chối và lý do là người thừa hưởng làm ly dị giả. Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ vẫn quyết định trả hồ sơ về cho Sở Di Trú dù rằng là người chồng cũ của người thừa hưởng đã có vợ khác và đã có con với người vợ đó và người thừa hưởng đã cung cấp những chứng từ đó cho tòa lãnh sự.

Khi hồ sơ được trả về cho Sở Di Trú, trên thông báo của sở cho rằng người thừa hưởng đã ly dị giả vì lý do đó hồ sơ bảo lãnh diện vợ chồng không hợp pháp. Nhưng tôi chưa nêu một chi tiết quan trọng, người bảo lãnh trong hồ sơ đó là người cha có quốc tịch Hoa Kỳ bảo lãnh cho người con độc thân chứ không phải hồ sơ bảo lãnh theo diện vợ chồng.

Tuy rằng chúng tôi nêu sự sai lầm đó cho Sở Di Trú nhưng họ không chú tâm vào sự sai lầm đó và vẫn thu hồi sự chấp thuận. Chúng tôi kháng cáo lên Tòa Kháng Cáo Di Trú và tòa đã phán rằng hồ sơ được trả về cho Sở Di Trú và yêu cầu sở tái xét hồ sơ vì hồ sơ là hồ sơ bảo lãnh diện con độc thân của công dân Hoa Kỳ chứ không phải là hồ sơ bảo lãnh theo diện vợ chồng.

Lần này Sở Di Trú lại nêu một lý do khác không dính líu gì đến hồ sơ. Và một lần nữa chúng tôi lại phải trả lời và nêu ra những sai lầm của sở di trú với những lý do hoàn toàn khác biệt với lần đầu và kèm theo tất cả chứng từ chứng minh rằng người chồng cũ đã có vợ khác và đã có con với người vợ đó.

Lần này thì Sở Di Trú chịu thua và tái chấp thuận hồ sơ và gửi lại cho tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ để cấp chiếu khán.

Trong hai điển hình trên, chúng tôi đều phải nộp những chứng từ mà đương sự đã có những bản sao sau khi đã nộp vào cho tòa lãnh sự. Nhưng vì sở không có những chứng từ đó và chúng tôi muốn Sở Di Trú có đầy đủ những chứng từ đó trước khi họ quyết định từ chối hay tái chấp thuận hồ sơ bảo lãnh.

Dù Sở Di Trú có từ chối hồ sơ bảo lãnh, chúng tôi cũng đã nộp những chứng từ đó vào và những chứng từ đó sẽ được chuyển qua cho Tòa Kháng Cáo Di Trú khi chúng tôi kháng cáo. 

Bản tin chiếu khán

Theo yêu cầu của quý bạn đọc, sau đây là bản thông tin chiếu khán cho Tháng Bảy, 2017.

Ưu tiên 1 – priority date là ngày 22 Tháng Mười Hai, 2010, tức là ưu tiên được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ.

Ưu tiên 2A – priority date là ngày 8 Tháng Chín, 2015, tức là ưu tiên được dành cho vợ, chồng, hoặc con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân.

Ưu tiên 2B – priority date là ngày 1 Tháng Mười Một, 2010, tức là ưu tiên được dành cho con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân.

Ưu tiên 3 – priority date là ngày 8 Tháng Bảy, 2005, tức là ưu tiên được dành cho con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ.

Ưu tiên 4 – priority date là ngày 8 Tháng Năm, 2004, tức là ưu tiên được dành cho anh, chị hoặc em của công dân Hoa Kỳ.

Quý vị có thể tự theo dõi bản thông tin chiếu khán cho hằng tháng tại website của Tổ Hợp Luật Sư Nguyen & Luu, LLP tại: http://www.nguyenluu.com/vn/vnbulletin/2017-07%20luatditru_banchieukhan_dienthannhan.html

Mọi thắc mắc xin liên lạc: Luật Sư Darren Nguyễn Ngọc Chương hoặc Luật Sư Lưu Trọng Cẩm Thương của Tổ Hợp Luật Sư Nguyễn & Lưu, LLP địa chỉ số 1120 Roosevelt, Irvine, CA 92620. Website www.NguyenLuu.com. Điện thoại (949) 878-9888.

Tin mới cập nhật