-Nổ súng gần Washington DC, dân biểu Cộng Hòa Scalise bị thương
-6 người chết, 70 bị thương vì hỏa hoạn tòa cao ốc ở London
-CS Hà Nội lật lọng, khởi tố người dân Ðồng Tâm vụ bắt nhốt công an
-Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mattis: ‘Chúng ta đang không thắng tại Afghanistan’
-Bộ trưởng Tư pháp Sessions chối bỏ có cuộc họp với dại sứ Nga
-11 tiểu bang kiện chính phủ Trump ‘không giới hạn sử dụng năng lượng’
-200 dân biểu và nghị sĩ Dân Chủ kiện TT Trump ‘nhận tiền ngoại quốc’
Ngư dân Kiên Giang điêu đứng vì nạn trộm ngư cụ
KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Tình trạng trộm lưới, ngư cụ diễn ra ngày càng nghiêm trọng ở huyện Kiên Hải, một trong hai huyện đảo của Kiên Giang, khiến ngư dân điêu đứng, bất an.
Theo báo Thanh Niên, tại xã Hòn Tre, huyện Kiên Hải, có gần 300 ghe, tàu chuyên đánh bắt hải sản. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nạn bị trộm ngư lưới, cụ diễn ra ngày càng phức tạp, có những đêm ngư dân trở về chỉ còn con tàu vì bị mất gần hết ngư cụ. Thậm chí, có những ngư dân trong một tháng bị mất đến ba lần, ước tính thiệt hại trên 1 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Trung Thành, ngụ ấp 2, xã Hòn Tre, cho biết: “Từ năm 2016 đến nay, tàu cá của tôi mất gần 600 cái lú, thiệt hại trên 600 triệu đồng. Bây giờ chỉ còn biết trông nhờ công an bắt được bọn trộm để chúng tôi yên tâm làm ăn, thế nhưng đến nay vẫn chưa thấy gì.”
Theo các ngư dân tại Hòn Tre, thủ đoạn của bọn trộm cắp ngày càng tinh vi, phức tạp. Chúng sử dụng máy công suất lớn, đặt ống xả khói dưới nước nên chạy không nghe tiếng máy. Trong lúc trộm cắp, nếu bị phát hiện, bọn chúng nhanh chóng cắt ngang rồi bỏ chạy, có phát hiện thì ngư dân cũng không thể đuổi kịp.
“Dân trên đảo chủ yếu sống bằng nghề biển. Giờ bọn trộm hoành hành nên bất an. Mong rằng chính quyền nhanh chóng ra tay giải quyết để bọn trộm không còn lộng hành,” ông Âu Thanh Tùng, một ngư dân, nói.
Việc mất lưới, ngư cụ khiến nhiều ngư dân tại Hòn Tre buộc phải đi vay tiền sắm lại để có phương tiện đánh bắt mới. Việc này dẫn đến nợ nần chồng chất. Nhiều hộ thậm chí phải chuyển sang ngành nghề khác.
Ông Thành cho biết thêm: “Bọn trộm từ nơi khác đến, cứ sụp tối là ra tay trộm cắp, anh em chúng tôi cũng tổ chức canh giữ nhưng ghe tàu của bọn chúng có máy công suất lớn nên không đuổi kịp. Việc mất lưới, ngư cụ làm chúng tôi phải mang nợ để mua lại. Tuy nhiên, một số gia đình mua về vẫn không dám mang ra đánh bắt vì sợ mất tiếp.”
Nói với báo Thanh Niên ngày 13 Tháng Sáu, ông Nguyễn Thanh Điền, phó chủ tịch xã Hòn Tre, xác nhận hai năm trở lại đây, tình trạng trộm ngư lưới cụ xảy ra thường xuyên và phức tạp. Điều này đã gây cho ngư dân tức giận, trong khi biện pháp ngăn chặn của ngành chức năng vẫn chưa hiệu quả. (Tr.N)
Sài Gòn lan tràn rượu độc nấu bằng men Trung Quốc
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Nhiều cơ sở nấu rượu tại Sài Gòn đã dùng men rượu dạng bột hoặc viên nén nghi của Trung Quốc có giá bán cực rẻ để tạo ra mùi hương khác nhau, bất chấp có thể gây ngộ độc cho người tiêu dùng.
Báo Pháp Luật TP.HCM loan tin, ngày 13 Tháng Sáu, Chi Cục Quản Lý Thị Trường Sài Gòn đã tiêu hủy hơn 39,000 viên men rượu nghi của Trung Quốc, hơn 6,000 chai rượu đủ các loại từ rượu đế, rượu sâm, rượu nếp, rượu thuốc… không rõ nguồn gốc, rượu tự ngâm, tự nấu không bảo đảm an toàn thực phẩm. Tổng giá trị hàng tiêu hủy hơn 550 triệu đồng.
Theo đại diện cơ quan này, qua kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh rượu ở thành phố, phát hiện nhiều nơi đã sử dụng nguồn nguyên liệu không nhãn hiệu, không rõ xuất xứ và không an toàn.
Đáng chú ý, nhiều nơi đã dùng men rượu của Trung Quốc dưới dạng bột hoặc viên nén có giá bán cực rẻ để tạo ra mùi hương khác nhau. Loại men này có ưu điểm có thể ủ cả cơm, cả cháy, ủ hôm trước là hôm sau có thể nấu luôn. Với cách làm này, giúp tăng năng suất cao, tiết kiệm chi phí mà giá thành sản phẩm lại cực rẻ.
Bà Hoàng Kim Thanh, trưởng Phòng Truyền Thông của Viện Dinh Dưỡng Việt Nam, nói: “Uống một chén rượu nấu men Trung Quốc độc hại bằng ăn 10 bát phở có chứa formol. Bởi vì loại rượu nấu men này tồn tại chất furfurol, một chất cực độc, không cho phép có trong rượu ở mức cao hơn 0.65 mg/lít. Ngoài ra, các loại rượu này đều chứa thành phần aldehyde và methanol vượt mức cho phép. Vì vậy, sau khi uống phải loại rượu này, người uống dễ bị ngộ độc.” (Tr.N)
Cộng đồng gốc Châu Á ở Oakland tìm hiểu quyền lợi y tế
OAKLAND, California – Cách đây 10 năm, bà Mary Thạch cần giải phẫu cuống họng để thở dễ hơn, sau đó nằm bệnh viện hai tuần, hóa đơn đòi chi phí $69,000.
Phản ứng đầu tiên của bà là hoảng loạn, bà cho biết, qua lời thông dịch viên. Lúc ấy, bà không có bảo hiểm, và cũng không biết phải làm sao để có tiền trả viện phí. Sau đó, nhân viên bệnh viện cho biết, cư dân hợp pháp với thu nhập thấp được hưởng Medicaid; và Medicaid sẽ trả toàn bộ chi phí này.
Trong một cuộc gặp gỡ cộng đồng gần đây, bà Mary Thạch, 54 tuổi, cư dân thành phố Alameda, đã khóc và bày tỏ nỗi lo sợ có thể bị mất Medicaid (California gọi là Medi-Cal) nếu dự luật American Health Care Act do đảng Cộng Hòa đưa ra được thông qua.
Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (CBO) ước tính, nếu được thông qua, 23 triệu người Mỹ sẽ mất quyền lợi được săn sóc y tế vào năm 2026.
“Tôi sợ ông Trump sẽ cắt Medi-Cal. Làm sao tôi có thể lo cho sức khỏe của mình?,” bà Mary Thạch bày tỏ.
Ðối mặt với lo ngại về chính sách di dân và những nỗ lực của đảng Cộng Hòa nhằm hủy bỏ chương trình bảo hiểm từ thời Obama và Medicaid, các tổ chức cộng đồng tại Oakland, Bakersfield, Fresno, Houston, và các thành phố đông di dân tổ chức họp mặt nhằm trấn an dư luận, giải thích những điều không rõ ràng và cho người dân biết về quyền của họ.
Hơn 400 người tham dự hội thảo do Asian Health Services tổ chức tại Oakland hôm 2 Tháng Sáu.
Có người đến để tìm thông tin, người khác đến để chia sẻ những câu chuyện mà họ tin sẽ thúc đẩy giới dân cử giúp đỡ họ.
Khán phòng chật kín người, một nhóm người gốc Hoa phải quan sát từ một phòng họp bên ngoài phòng họp chính. Hầu hết người tham dự ở độ tuổi trung niên đến cao niên. Nhiều người mang theo giấy và viết để ghi chú.
Với sự hỗ trợ của thiết bị headphone và rất nhiều thông dịch viên, cuộc họp được dịch sang 10 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có Quan Thoại, Quảng Ðông, Mông Cổ, Triều Tiên, và Tagalog. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra cho nhân viên tổ chức Asian Health Services, các chính trị gia địa phương và một luật sư di trú. Luật sư này hướng dẫn cách giao tiếp với cảnh sát di trú (ICE).
Một số người tham dự lo ngại việc sử dụng các chương trình như Medi-Cal và CalFresh (phiếu thực phẩm) có thể khiến ICE điều tra và trục xuất họ.

Cô Nancy Wong, một luật sư di trú của tổ chức Hỗ Trợ Luật Pháp Châu Á Thái Bình Dương (Asian Pacific Islander Legal Outreach) nói cô chưa thấy điều ấy xảy ra bao giờ, và khuyên mọi người nên tiếp tục sử dụng các chương trình ấy.
Giới dân cử Cộng Hòa ở California cho rằng chương trình Obamacare đang thất bại và đẩy chi phí y tế lên quá cao, làm nhiều người Mỹ khốn đốn.
Dân Biểu Devin Nunes (Cộng Hòa-California), người ủng hộ dự luật Cộng Hòa thay thế Obamacare, muốn đưa người thụ hưởng một chương trình Medi-Cal “đang thất bại” “vào một chương trình tư nhân, tốt hơn.”
Dự Luật AHCA của đảng Cộng Hòa giảm $834 tỷ ngân sách liên bang dành cho Medicaid từ 2017 đến 2026, theo ước tính của CBO.
Những người tổ chức hội thảo tại Oakland nói nhiều người Mỹ lo ngại những thay đổi lớn trong chương trình y tế của mình. Trong khi cộng đồng Châu Á tại Oakland bị thêm vấn đề trở ngại ngôn ngữ, văn hóa, luật pháp, và nhiều vấn đề khác khi họ cần các chương trình y tế công.
Một số người tham dự hội thảo e ngại tình trạng đã có bệnh từ trước, hoặc tình trạng di trú là người nhập cư – cho dù là hợp pháp – có thể khiến họ không được hưởng săn sóc sức khỏe trong tương lai cùng các quyền lợi khác. Trong đa số trường hợp, người trưởng thành cư trú bất hợp pháp tại Mỹ không được hưởng toàn bộ quyền lợi Medi-Cal; nhưng thường trú nhân thì vẫn được hưởng. Trẻ em California thuộc các gia đình thu nhập thấp vẫn có thể được Medi-Cal, bất kể tình trạng di trú.
“Nhiều người trong số quý vị lo lắng nhiều điều, từ việc lo các cơ quan cung cấp dịch vụ y tế từ chối chăm sóc sức khỏe, đến việc được hưởng toàn bộ quyền lợi,” bà Sherry Hirota, tổng giám đốc tổ chức Asian Health Services, nói với người tham dự. “Chúng ta không thể đi thụt lùi, và chúng ta không thể để di dân trở thành tội phạm chỉ vì sử dụng dịch vụ y tế. Ðó là lý do tại sao chúng tôi có mặt ở đây.”
Bà Hirota nói, Obamacare, bao gồm cả sự mở rộng Medicaid, có thể cho phép hệ thống y tế của bà săn sóc hơn 9,000 bệnh nhân mới. Hơn 90% bệnh nhân của trung tâm này là người đang thụ hưởng Medi-Cal, bà cho biết.
“Ngày càng có nhiều hội thảo như thế này. Hội thảo quan trọng vì có nhiều câu hỏi nhưng lại không có đủ thông tin,” bà Doreena Wong, một giám đốc dự án tại Asian Americans Advancing Justice-Los Angeles, cho biết.
Cơ quan này giúp tổ chức các hội thảo thông tin tương tự, kết hợp y tế và di trú, nói các ngôn ngữ Tây Ban Nha và Á Châu tại khu vực Los Angeles và Orange County.
Bà Cary Sanders, giám đốc phân tích chính sách tại California Pan-Ethnic Health Network, một tổ chức hỗ trợ, nói rằng khó khăn nằm ở chỗ, ngay từ quá khứ, di dân đã bị đặt bên ngoài một số chương trình y tế công.
“California đang đi xa hơn rất nhiều so với các tiểu bang khác trong việc mở rộng săn sóc y tế cho các cộng đồng di dân,” bà Sanders nói. “Ðối với một số nhóm, để được thụ hưởng y tế vẫn còn là điều khó khăn. Họ chỉ có thể được cấp cứu. Vì vậy, người ta thường trù trừ trong việc chữa trị. Họ phải tự chữa trị ở nhà, và do đó, nếu không được chữa trị kịp thời, vấn đề sức khỏe trở thành trầm trọng hơn rất nhiều.” (Ð.D.)
Ngọc Nguyễn, biên tập viên California Ethnic Media Partnerships, đóng góp trong bài viết này.
“Giải cứu”…Việt Nam (2/2)
Từ việc “giải cứu thịt lợn” đến đề xuất “giải cứu giáo viên.”Vào năm 2006, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục- Đào Tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nói bộ sẽ trình Chính phủ đề án cải cách tiền lương nhà giáo để đến năm 2010, nhà giáo có thể sống được bằng đồng lương của mình! Công nhân, viên chức nhà nước, ai đi làm cũng phải có đồng lương đủ sống, nói theo câu nói thời thượng, lương không đủ sống, không lẽ “cạp đất mà ăn!” Đã 11 năm trôi qua, ông Nguyễn thiện Nhân đã vào Saigon, nắm chức Bí thư Thành Uỷ Saigon, nhưng lương giáo viên giờ này cũng chỉ đủ để cầm hơi qua ngày
Bên Tây… lắm chuyện: Bạc giấy, giấy bạc
Nơi đây không nhận tiền mặt. No cash, please! Chỉ nhận credit card, hay từ máy điện thoại cầm tay.
Tại sao làm vậy, bà chủ trả lời rằng mọi người biết mà, vì quá tiện lợi. Xu thế thời đại, máy làm hết, mình khỏi lo. Khỏi cần người đứng thu tiền, không cần hộc để tiền với nhiều ngăn để bạc cắc, tiền giấy. Nơi đây, không có tiền mặt.
Có tiền là phải lo giữ tiền. Giấu tiền. Mỗi lần có kẻ hung hăng bước vào là một lần lo lắng. Bây giờ thì khỏe rồi.
Mời đi nơi khác
Nơi đây không có tiền mặt. Cashless! Mấy chú cần tiền, đem dao, súng tới chỗ khác. Caisse không có tiền. Khách hàng ăn của chúng tôi thuộc thế hệ mới, đeo đồ giả, trang sức cho vui chứ không phải khoe của.
Thế nhưng nhà hàng phải trả hoa hồng cho công ty quản trị cards. Ðồng ý, chúng tôi mặc cả tới mức tối thiểu.
Công ty cung cấp credit card dành cho khách hàng một số bảo đảm khác mà nơi khác không có. Có qua có lại.
Luật cho phép hay không
Không lấy tiền mặt, không sợ mất khách? Khách nào? Thời buổi này, người ta chỉ có tấm thẻ trên người và điện thoại. Nhất là du khách, người trẻ. Luôn luôn trả bằng card, không như khách quen trong khu phố.
Thế không sợ máy móc trục trặc? Mạng lưới bỗng dưng tắt nghẽn hay là điện không chạy. Ôi, ba thì mười họa mới có.
Tất cả những chuyện đó đã được tính trước rồi khách hàng hay bạn đọc khỏi lo. Chỉ lo rằng luật pháp không cho phép nhà hàng này làm như vậy mà thôi.
Nơi nào không có phép thì rồi đây, luật sẽ thay đổi, tập quán mới khó, luật dễ mà.
Malmo tiên phong
Trên đây không phải là chuyện hoang tưởng. Malmo, thành phố phía Nam Thụy Ðiển đã có nhiều hiệu ăn, cửa hàng làm như vậy. Chúng tôi chỉ nhận thẻ tín dụng. Ngay trước cửa đi vào, tấm bảng ghi rõ như vậy không thể lọt qua mắt ai.
Trong phòng, để cho ai đi vào mà không thấy, còn được nhắc thêm: Ðây là tiệm ăn không xài bạc giấy.
Xe buýt ở Malmo cũng vậy. Từ năm 2011, xe buýt không nhận tiền mặt, chỉ nhận card. Nhà thờ Saint Jean ở Malmo khuyến khích con chiên tặng tiền bằng SMS hay qua mạng Swish, một mạng để chuyển tiền tại các ngân hàng lớn.
Thụy Ðiển, nước đầu tiên
Thụy Ðiển là nước đầu tiên trên thế giới dùng bạc giấy, tiền kẽm. Ðó là từ năm 1661. Ngày nay, Thụy Ðiển sẽ là nước đầu tiên từ bỏ bạc giấy, tiền kẽm, chính thức kể từ năm 2021.
Nhà nước ngưng in tiền từ lâu. Năm 2002, Thụy Ðiển nhượng quyền quản trị Sở Ðúc Tiền cho nước láng giềng Phần Lan, nhưng rồi Phần Lan cũng dẹp bỏ chín năm sau.
Trong nước chỉ có 2% giao thương bằng tiền mặt. Nhà nước cho phép thương gia từ chối không nhận tiền mặt, một điều trái ngược với nguyên tắc căn bản chung của thế giới. Ðan Mạch, nước láng giềng, giành quyền quyết định này cho các thương gia.
Dân xứ nào muốn bỏ?
41% người Ý được hỏi, cho biết muốn bỏ tiền giấy. Hoa Kỳ, 38%, Tây Ban Nha 37%, cả Âu Châu 34%.
Pháp có 30% muốn bỏ, cũng như Ðức, 30%. 23% người Hòa Lan, 21% người Anh. Chuyện lạ là nơi nào tiền giấy đang được dùng nhiều, nơi đó có đông người kh ông muốn dùng tới nữa. (Theo ING International Survey)
Nước Pháp, còn lâu!
Ở Pháp, không ai có quyền từ chối người khác trả tiền cho mình bằng tiền giấy, nếu số tiền đó dưới mức luật ấn định.
Mức luật định là 1,000 euro (là 10,000 nếu cư trú ngoài nước Pháp). Nếu khách hàng trả dưới 1,000 euro bằng tiền mặt, người bán phải nhận. Quá số đó, phải trả bằng cách khác (chi phiếu, thẻ tín dụng…) không được trả bằng tiền giấy.
Chưa đổi luật đó, không ai có thể từ chối tiền mặt khi trả vài trăm euro. Chưa làm được như ở Malmo! Một vài cửa hàng phá lệ, tuy nhiên, cho tới nay, chưa bị thưa kiện.
Tài liệu của Liên Hiệp Âu Châu
Ðầu năm nay, một tài liệu nghiên cứu của Liên Hiệp Âu Châu dự phóng không còn xài tiền giấy kể từ năm 2018. Tài liệu này được xếp hồ sơ, đề nghị không được giữ lại, vấn đề không được đem ra thảo luận một cách chính thức.
Thế mà tài liệu đã bị tiết lộ và còn bị xuyên tạc, nói rằng LHAC sẽ quyết định như vậy. Làm nhiều nước hoảng hồn.
Dù sao, ngày đó, không sớm thì muộn, thế nào cũng tới. Ngày mà thế giới không còn dùng bạc giấy, không dùng đồng tiền. Bạc giấy, giấy bạc chỉ còn là những vật kỷ niệm của một thời đã qua! Quanh ta, tất cả, là những con số trên màn kiếng.
Tỏi và công dụng
Tỏi là loài thực vật thuộc họ hành tỏi, tên khoa học là Allium Sativum Liliaceae.
Tỏi được trồng đầu tiên ở Trung Ðông từ khoảng vài ngàn năm trước. Hiện nay tỏi đứng hàng thứ 14 về sản lượng trong các loại rau trồng. Trung Hoa, Nam Hàn, Ấn Ðộ, Hoa Kỳ là các quốc gia sản xuất tỏi nhiều nhất. Ða số tỏi ở Hoa Kỳ được trồng ở tiểu bang California.
Các bà nội trợ dùng tỏi từ nhiều ngàn năm nay để làm gia vị nấu nướng.
Tỏi cũng đã được dùng làm thuốc trị bệnh trong nền y học cổ truyền tại nhiều quốc gia, nhưng chỉ mấy chục năm gần đây, công dụng trị liệu này mới được khoa học nghiên cứu, áp dụng.
Hóa chất trong tỏi
Năm 1951, hai nhà hóa học Thụy Sĩ là Arthur Stoll và Ewald Seebeck đã tìm ra hóa chất chính của tỏi là chất Alliin và men Allinase. Hai chất này được giữ riêng rẽ, không tiếp xúc với nhau trong tế bào tỏi.
Bình thường, tỏi không có mùi, nhưng khi tỏi được cắt nhỏ, thì men Allinase sẽ tác dụng vào Alliin, tạo ra hóa chất Allicin với hương vị đặc biệt hăng cay và làm chảy nước mắt. Khi nấu chín hay chế biến (ngâm giấm chẳng hạn) thì Alliin mất bớt đi.
Vì mùi vị đặc biệt đó mà người Âu Châu âu yếm gọi tỏi là “Nụ Hồng Hôi” và một bác sĩ ở bệnh viện M.D. Anderson, Houston, Texas, cho biết thêm rằng tỏi càng hôi càng tốt.
Allicin là một hóa chất bay hơi, rất mau tan, dễ dàng biến đổi thành các chất thuộc nhóm sulfide (hợp chất có sulfur) trong tinh dầu tỏi. Sự sulfur hóa của Allicin xảy ra nhanh hơn sau khi tỏi được đập nát và nấu chín.
Các chất Sulfide trong tỏi có dạng giống như dầu và là thành phần công dụng chính của tỏi mà ta có thể mua được dưới dạng viên tỏi con nhộng. Alliin là yếu tố chính làm cho tỏi có công dụng như như một loại thuốc kháng sinh. Vì thế tinh dầu tỏi giảm mạnh khả năng kháng sinh do phần lớn Allicin đã biến đổi thành các chất sulfide.
Nước chiếm tỉ lệ 65% trong tỏi.
Tỏi cũng có nhiều chất đạm amino acids, quan trọng nhất là cystine và methionine. Ngoài ra còn có tinh bột, một ít chất béo, các sinh tố A, B, C và E, các chất khoáng như calci, magane, nhôm, đặc biệt là các chất chống oxy hóa selenium và germanium
Các dạng tỏi
-Tỏi sống: Khi ăn sống, tỏi có mùi vị hôi cay rất mạnh do chất Allicin gây ra. Như đã trình bày, ở trạng thái tự nhiên thì Allicin chưa có mặt. Chỉ khi tỏi được cắt nhỏ, cắn hay đập nát thì nó mới được tạo thành do men Allinase tác dụng với Allinin. Vì thế tỏi tươi bày bán không có mùi.
Ăn tỏi tươi cũng tốt như khi nấu chín, nhưng vị tỏi tươi quá cay có thể gây khó chịu cho cả miệng lẫn dạ dày. Vì thế nên ăn kèm với các loại rau. Hoặc cũng có thể thêm tỏi sống vào trứng, súp, rau xà lách… cho dễ ăn.
Cũng có người cắt tỏi thành từng miếng nhỏ nhét vào quả nho rồi nhai nuốt trôi đi, hoặc pha lẫn tỏi đập nhỏ trong sữa, mật ong rồi uống hoặc uống nước tỏi với nước trái cây.
Kinh nghiệm dân gian thường ăn cháo trắng thật nóng với tỏi tươi để giải cảm.
-Tỏi đặc chế: Ở phương Tây, trong các tiệm thuốc hay quày thực phẩm thường thấy bày bán đủ loại sản phẩm tỏi đặc chế như viên tỏi, nước chắt tỏi, bột tỏi, dầu tỏi, tỏi có mùi, tỏi không mùi… Các sản phẩm tỏi này đặc biệt rất phổ biến ở Ðức, Nhật, Anh…
Giới chức y tế ở Ðức và Nhật chính thức công nhận sản phẩm tỏi trị được bệnh tim mạch. Bên Anh thì có tới 10% dân chúng dùng sản phẩm tỏi. Mức tiêu thụ tỏi ở Hoa Kỳ lên đến $100 triệu mỗi năm.
-Tinh dầu tỏi: Tinh dầu tỏi thường được trình bày dưới dạng viên con nhộng, vỏ bọc là một chất gelatin. Dầu tỏi chứa đủ tất cả các hóa chất sulfides. Một phần củ tỏi nặng 2 g cho khoảng 2 mg tinh dầu.
Dầu tỏi được chế biến ở bên Ðức từ năm 1920 và hiện nay rất thông dụng ở Hoa Kỳ.
Uống viên nhộng chứa tinh dầu tỏi không thấy mùi hôi ở miệng, nhưng hơi thở vẫn nặng mùi khi dầu được tiêu hóa trong bao tử.
Dầu có mọi công hiệu của tỏi ngoại trừ khả năng kháng sinh thì ít hơn.
-Tỏi bột: Tỏi được sấy khô, tán thành bột rồi bán dưới dạng viên, được bọc kín nên không thoát ra mùi hôi.
Cách thức sấy tỏi để làm thức ăn và dược phẩm khác nhau: Khi dùng làm thức ăn, tỏi được sấy lâu hơn, ở nhiệt độ cao hơn khi làm thuốc, do đó còn lại rất ít Allicin và dầu tỏi.
-Tỏi không mùi: Tỏi này được người Nhật chế biến đầu tiên.
Tỏi được thái nhỏ, ngâm trong rượu vài tháng rồi tinh lọc lấy dịch chiết để làm thuốc viên.
Thuốc không mùi vì một số thành phần hóa chất mất đi trong khi chế biến. Tuy nhiên tỏi này vẫn giữ nguyên một số công dụng trị liệu, đặc biệt là ngăn ngừa ung thư.
Những điều cần lưu ý
1-Bình thường, tỏi rất an toàn khi tiêu thụ, ngoại trừ khi có dị ứng với tỏi.
Tỏi chỉ gây ngộ độc khi ăn nhiều, như hai ba trăm nhánh một lúc, đôi khi tỏi có thể gây phản ứng ngứa trên da, khó chịu trong bao tử.
2-Ðiểm đặc biệt là tỏi làm chậm sự đông máu nên khi uống thuốc cầm máu hoặc trước khi giải phẫu, không nên ăn nhiều tỏi quá.
3-Có đến hàng trăm loại tỏi khác nhau nhưng chỉ có 17 loại chính. Tỏi thường được trồng vào mùa Thu, và sẵn sàng gặt hái vào Tháng Năm tới cuối Tháng Sáu năm sau.
4-Tỏi có vị cay khác nhau, từ rất hăng cay tới vừa phải. Khi tỏi mới thu hoạch về thì vị còn nhẹ, vị tăng lần khi được tồn trữ rồi tới khi nẩy mầm thì mùi vị giảm.
5-Khi tỏi được nấu chín thì chỉ có Allicin với đặc tính kháng sinh bị mất đi, nhưng các đặc tính khác được giữ nguyên vì các hợp chất nhóm sulfur không thay đổi. Chính các hợp chất này mang lại các công dụng của tỏi.
6-Tỏi càng có mùi hôi càng có công hiệu mạnh. Thông thường ta ăn được nhiều tỏi nấu chín hơn là ăn tỏi sống.
7-Muốn sấy khô tỏi thì cắt tỏi thành từng miếng mỏng, đặt trên miếng vải thưa rồi phơi nắng hay sấy trong bếp lò ở nhiệt độ thấp.
8-Tỏi có thể để dành được khoảng sáu tháng. Nên cất giữ trong túi giấy để tránh ánh sáng, để nơi nhiệt độ vừa phải và thoáng khí.
Không nên cất giữ tỏi trong tủ lạnh, tránh tỏi hư vì độ ẩm, hoặc để trong túi nylon kín hơi.
9-Bóc tỏi đôi khi rất mất công. Muốn dễ dàng, ngâm tỏi trong nước lạnh hoặc nước sôi ít phút rồi bóc, vì nước sôi làm lỏng vỏ tỏi.
10-Khi mua, nên lựa tỏi cứng chắc, bụ bẫm, vỏ khô, sạch và không rách.
11-Sau đây là vài mẹo vặt để làm hết mùi tỏi trong miệng:
-Súc miệng với nước trái chanh hòa trong nước lạnh.
-Nhai vỏ cam hay vỏ chanh.
-Nhai hạt thì là hay hạt hồi (anise), hoặc vỏ quế, hột cà phê rang.
-Ăn một quả táo tươi.
l2-Khi làm tỏi, rửa tay ngay bằng nước lạnh để làm mất mùi hôi.
Muốn làm hết mùi hôi trong chai lọ đựng tỏi thì rửa sạch rồi nhét một tờ báo vào chai, đậy nút, vài ngày sau mùi tỏi hết.
Sau 42 năm
Gia đình tôi cổ hủ, và tôi là đứa con gái duy nhất nên bị ràng buộc trong tầm suy nghĩ của mẹ. “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.” Cái ông Khổng Tử ở tuốt bên Tàu vậy mà uy lực ổng thật to rộng. Một người phụ nữ ít học, quê mùa như má tôi lại thuộc nằm lòng mấy câu giáo điều đó. Thuộc để ép mình vào khuôn khổ cả một đời và truyền lại cho con gái.
Vợ chồng tôi cùng dạy tư cho một trường trung học Công Giáo do cha đạo mở ra. Khi ấy anh đã là lính mang lon chuẩn úy. Có nghĩa là anh cũng thuộc lính mới tò te. Một sĩ quan mới ra trường còn mang nhiều món nợ áo cơm từ cha mẹ. Nơi anh được bổ nhiệm là một quận lỵ nằm giữa những vùng xôi đậu. Ban ngày là của Quốc Gia, ban đêm Việt Cộng về “thăm” dân. Họ nhận tiếp tế, tuyên truyền và rải truyền đơn. Người dân như mang mặt nạ, không dám biểu lộ tình cảm của mình với lính Quốc Gia. Xung quanh hàng xóm không biết ai là bạn, ai là Việt Cộng nằm vùng. Cuộc sống bấp bênh trong những trận càn của lính và đêm sục sạo, gõ cửa rình mò của phía bên kia. Ấp chiến lược sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị giết đã không còn hiệu lực. Một con đường vô hình đã mở ra cho sự phát triển của phe đối nghịch,đưa đẩy người dân vô tội vào hai gọng kìm Quốc Gia và Việt Cộng…
Khi những người bạn đồng minh lần lượt đổ quân vào thôn xóm thì như giọt nước đã tràn ly. Người dân càng mù mờ không biết đâu là chính nghĩa. Những người Mỹ, Ðại Hàn, Thái Lan súng ống rầm rộ khắp mọi ngõ ngách xóm làng. Người dân quê sợ sệt vì lần đầu tiên thấy người ngoại quốc lùng sục khắp nơi. Ðó là cái mồi lửa thật tốt châm ngòi cho phía bên kia. Họ tuyên truyền trong dân chúng để kéo chính nghĩa về phía họ.
Tôi nói điều này ra có nhiều người sẽ phản đối. Nhưng đó là sự thật khi người dân không có được một sự giáo dục rõ ràng về phía chính phủ. Họ không hiểu thế nào là Thế Giới Tự Do và thế nào là Cộng Sản. Họ không hiểu tại sao người Mỹ có mặt ở nước mình.
Nhan nhản trên đường những người lính Mỹ say sưa. Những cô gái thôn quê bỗng chốc thay da đổi thịt. Từ ăn mặc đơn giản lại lòe loẹt chói mắt. Một số biến thành gái mại dâm mua vui cho những người lính Mỹ đen-trắng. Những người phụ nữ bỏ quên chồng con, diêm dúa trong những bộ quần áo mini ngắn ngủn, son phấn sặc sỡ đi làm sở Mỹ. Những áp phe buôn đồ Mỹ, bán đồ quân tiếp vụ Mỹ, quán rượu mọc ra như nấm. Những đứa bé con lai ra đời, những bào thai bị vất bên đường và thỉnh thoảng phát hiện xác con gái nằm chết trong bãi rác. Những tin xấu tràn về thôn xóm, những hình ảnh sa đọa lung lay xã hội.
Ðau đớn là ở chỗ chính nghĩa bị hiểu lầm và kẻ gian ngoa đã giành cảm tình. Những người học sinh trong bộ đồng phục tới lớp buổi sáng, mà chúng sẽ là một liên lạc viên báo cáo tin tức vào buổi tối cho phía bên kia. Những em học sinh mặt thì già nhưng giấy tờ nhỏ tuổi. Có em đã có vợ, có con nhưng vẫn mang giấy tờ giả đến trường để trốn lính. Những chị ngồi trên xe lam đi chợ nói nói cười cười. Những cô gái đẹp làm người tình hờ của lính. Họ là những người nằm vùng của phía bên kia. Nhiệm vụ hoạt động mật, báo tin tức, tiếp tế lương thực, thuốc men và tiếp nhận chỉ thị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Trong bộ ngực căng tròn của cô gái đẹp chứa đầy thuốc trụ sinh. Dưới lằn vải quần Mỹ A đen mượt mà kia là những lớp nylon bó thật chặt vào đùi để tiếp tế. Trong gà mên cơm đem đi ăn một ngày, họ ém thật chặt cho 2, 3 người ăn. Sau giờ làm, họ để lại bên rừng cho người của mặt trận về lấy đem đi. Trong làng, đa số là phụ nữ. Những đứa bé không cha tiếp tục ra đời mà không ai đặt vấn đề.
Chiến tranh đã đẩy những người dân chơn chất thành những kẻ phản bội “Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản.” Ðừng trách họ, mà phải biết là nhà cầm quyền không bảo vệ được họ. Những người có nhiệm vụ tuyên truyền không dẫn giải cho dân hiểu được sự thật, đâu là bạn, đâu là thù. Những người làm công tác chiến tranh chính trị chỉ trên giấy tờ mà không đáp ứng đúng vào cái gốc chính là người dân – những người dân quê an phận, hiền lành. Trong khi đó kẻ gian rình mò trong bóng đêm. Những bộ mặt giả nhân nghĩa vừa tỉ tê dụ dỗ, vừa hù dọa khủng bố đã len lỏi vào từng gia đình Những tổ chức bí mật được thành hình, biến người dân thiệt thà thành tai mắt của họ, những người đàn bà quê mùa thành những “bà mẹ anh hùng.”
Thành phố rộn rã tiếng cười, những bar rượu, những đêm vui thâu đêm suốt sáng. Thành phố không có chiến tranh cho nên thành phố đẹp, thành phố sang. Ðất nước Việt Nam không phải chỉ là thành phố mà có cả thôn làng, núi, đồi, sông, biển. Thôn làng càng xa xôi nghèo nàn thì Việt Cộng trà trộn càng nhiều, càng khó được bảo vệ. Người dân không thương yêu gì CS nhưng sợ bị trả thù, sợ bị theo dõi, sợ bị nghi ngờ và bị giết oan. Tội nghiệp người dân, một cổ hai tròng. Dù đang sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng vẫn bị Mặt Trận khống chế hàng ngày, hàng đêm.
Gần gũi dân nhất là những người lính Ðịa Phương Quân. Họ đóng quân ngay trong làng, sống với dân và người họ sợ nhất lại chính là những người dân. Ai đã từng đi lính thì khắc biết điều tôi nói là sự thật. Chỉ một câu nói lỡ lời về tin tức hành quân thì được bên kia nắm bắt. Và những chuyến phục kích kể như thất bại, hay bị đảo ngược thế cờ. Người lính sống trong đường tơ kẽ tóc và người con gái chấp nhận lấy lính là chấp nhận mọi sự rủi may trong đời. Ðám cưới đôi khi không dám tổ chức tại địa phương vì gia đình sợ bị theo dõi và trả thù. Thôn làng do chính phủ VNCH làm chủ mà người dân lại sợ Việt Cộng hơn Quốc Gia.
Ðã trễ quá rồi khi nói đến điều này, nhưng tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc lừa đảo. Bao nhiêu nhân mạng oan khiên đã chết một cách thảm thương cho cuộc chiến tương tàn. Bao nhiêu thanh niên của nước Mỹ giàu đẹp đã bỏ thây một cách oan uổng trên chiến trường Việt Nam. Vì sự sai lầm của cả hai phía. Tất cả tang thương đó đã đổ lên vai, lên đầu của thế hệ chúng tôi. Những người lính, những người vợ lính và những trẻ thơ vô tội.
42 năm qua rồi, nhưng mỗi khi Tháng Tư Ðen lại về là tôi lại xoay cuồng trong suy nghĩ. Tôi khâm phục cái nhìn thật rõ ràng cốt lõi cuộc chiến Việt Nam của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm: Ngài biết thật rõ ràng về CS kể cả sách lược bảo vệ quốc gia. Ngài không muốn người Mỹ hay đồng minh đổ bộ vào Việt Nam. Ngài chỉ muốn được tiếp tế vũ khí và ngân sách để bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngài lập ra ấp chiến lược là để cắt đứt nguồn tiếp tế lương thực và thuốc men cho phía bên kia. Ðồng thời xây dựng một lực lượng bảo vệ xóm làng từ người dân. Nhưng tiếc thay ngài đã bị giết chết. Chế độ Ðệ Nhị Cộng Hòa chua đủ thờ gian để xoay nổi thế cờ chính trị: Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Và sự thất trận đau thương xóa sổ Việt Nam Cộng Hòa trong ngày 30 Tháng Tư 1975 lịch sử. Vận mạng đất nước nhược tiểu nằm trong tay của những đại cường. Một cuộc mua bán, sang nhượng. Ðất nước ta, dân tộc ta là món hàng được đưa lên bàn cân ngã giá. Thế là thực chất thì kẻ thắng chẳng oai hùng mà người thua đầy uất ức.
Bốn mươi hai năm qua rồi, nhắc lại thêm ngậm ngùi, đau đớn. Bao nhiêu mạng người đã bỏ thây trong cuộc chiến, trên con đường chạy loạn 30 Tháng Tư 1975. Bao nhiêu thây tù CS bị bỏ trên rừng thiêng nước độc. Bao nhiêu xác người bị chết trên Biển Ðông và trong bàn tay hải tặc. Bao nhiêu? Bao nhiêu? Một câu hỏi làm nghẹn lòng người Việt trên khắp năm châu.
Thoắt một cái đã 42 năm. những người có mặt và tham dự trong cuộc chiến ngày đó nay đều đã già. Những mái tóc bạc trắng hay hoa râm, những tâm hồn đầy những vết thẹo quá khứ của chiến tranh và bất công. Mà họ vẫn phải cố gắng xây dựng một thế hệ tiếp nối. Cố gắng sống tốt và làm sống lại một thuở hào hùng trong bi thảm. Ðôi chân đã yếu, cơ thể hao mòn. Những người cha, người ông đã tận lực mình vì hai chữ tự do. Họ thật đáng kính trọng và tự hào. Nhưng trong họ vẫn còn biết bao nhiêu trăn trở, dằn vặt vì sức tàn, lực kiệt.
Sau 30 Tháng Tư, người sĩ quan VNCH bị tù đày nơi rừng thiêng nước độc. Không một bản án, không biết ngày về. Họ được thả ra với một thân thể suy nhược, một tâm hồn loang lổ những thương đau. Trong họ mọi thứ đều đỗ vỡ, bi thương. Ðược thả từ nhà tù hẹp ra nhà tù lớn với vài chục đồng lộ phí và một túi hành trang nhẹ tênh. Nhưng họ lại mang quá nặng cái lý lịch đen “Ngụy Quân” đè bẹp cuộc đời và cả gia đình. Có người tìm lại được mái ấm gia đình. Có vợ, có con để dựa nương, bám víu. Có người không còn nhà cửa, vợ con thân thích. Nếu không có chương trình HO thì không biết bây giờ cuộc sống của những người tù CS sẽ ra sao? Không có chương trình HO. Không có những người liều chết vượt biển tìm tự do… 42 năm cho những người di tản. Mấy chục năm cho những người HO đang sống ở một nước khác quê hương mình. Chúng ta sẽ không có một thế hệ thứ hai thứ ba thành công trên đất nước Hoa Kỳ hay trên thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ có được một Little Saigon trên đất Mỹ. Chúng ta sẽ không thể hãnh diện giơ cao lá cờ vàng và hát Quốc ca. Chúng ta không có xe hoa diễn hành ngày tết Nguyên Ðán. Chúng ta cũng không thể có những bảo tàng lịch sử “Quân Lực VNCH.” Không có tượng đài Ðức Trần Hưng Ðạo và cũng không thể có những nghị quyết “Vinh Danh Cờ Vàng” tại nhiều thành phố trên nước Mỹ, Úc, Canada. Cám ơn bà Hạnh Nhơn. Cám ơn những ân nhân đã cứu vớt, đã mở con đường sống cho những người liều chết tìm tự do như chúng tôi.
42 năm, một thời gian quá nửa đời người. Rất nhiều những chứng nhân lịch sử đã nằm xuống vì tuổi già, vì bệnh tật. Những văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ nổi danh cũng quá nửa đã ra đi. Một thế hệ VNCH lần lần đi vào quá khứ. Thế hệ tiếp nối sinh ra tại Mỹ, lớn lên tại Mỹ, chúng gia nhập vào giòng chính để làm một người Mỹ thực thụ.
Hôm tuần trước tôi đi dự một đám ma. Người chết là một bà bác 90 tuổi. Con cái, người thân quen đến viếng tang đa phần là người Việt, nói tiếng Việt. Nhưng quỳ dưới kia các cháu dâu rể đa phần là người Mỹ. Bầy cháu cố cũng là những đứa bé Mỹ lai nói toàn tiếng Mỹ. Cả một đại gia đình nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Người chết chắc hẳn sẽ buồn và không hiểu chúng đang nói chuyện gì. Người tham dự như tôi cũng xót xa cho ngay bản thân mình. Rồi thì cũng thế mà thôi hay sao?
Không? Chúng ta đã có những lớp dạy tiếng Việt.”Tiếng Việt còn, nước ta còn.” Chúng ta không thể không hòa nhập nhưng không thể để mất nguồn cội. Những thế hệ VNCH thứ hai thứ ba đang học hỏi để hiểu lý do tại sao chúng có mặt nơi này. Các cháu đang làm sống lại dòng sử Việt. Các cháu giương cao lá cờ vàng và các cháu tự hào về nó.
Nhưng chúng ta phải công nhận một thực tế: Dù muốn dù không chúng ta cũng đã rời khỏi Việt Nam. Mọi việc của quê hương đất nước phải do người trong nước trực tiếp quyết định: Có thay đổi được vận mệnh, có bảo vệ Việt Nam khỏi bàn tay xâm lược của Tàu Cộng hay không là do người trong nước thực hiện. Chúng ta chỉ có thể ủng hộ, tiếp tay đưa mọi việc ra dư luận quốc tế để làm áp lực.
Các bạn ơi! 42 năm rồi cho một cuộc chiến, cho một đời người. Con gái tôi sinh ra 3 tháng sau ngày mất nước. Bây giờ cháu đã 42 tuổi, là một phụ nữ trung niên, con cái nó đã vào trung học. Người lính VNCH trẻ nhất nay cũng đã ngoài 60. Những người lính già bây giờ đều đã gần cuối cuộc đời. Sống nơi xứ người tuy đầy đủ vật chất nhưng vẫn là nỗi khắc khoải khôn nguôi cho những giấc mơ về một Việt Nam tự do dân chủ.
Tôi yêu quê hương Việt Nam tôi lắm. Tôi nhớ gia đình, họ hàng anh em và bạn bè tôi. Tôi nhớ từng con đường, từng góc vườn kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi trẻ. Thú thật tôi sợ một ngày nào đó tôi trở về mà không nhận ra đất nước của mình. Tôi sợ Trung Cộng sẽ chiếm trọn Việt Nam. Người Việt mình sẽ bị làn sóng người Tàu tràn xuống tịch thu nhà cửa, chiếm cứ ruộng vườn. Họ sẽ đày người Việt mình đi vào những nơi rừng núi hay đồng khô cỏ cháy. Họ sẽ xóa một nước Việt Nam như chính quyền hiện nay xóa sổ Việt Nam Cộng Hòa. Họ sẽ tàn bạo hơn, quyết liệt hơn, dã man hơn để đồng hóa chúng ta, vì mộng chiếm Việt Nam ấp ủ mấy ngàn năm nay đã toại nguyện.
Một Sài Gòn xưa đã mất. Một nền văn hóa nhân bản đã mất. Có thể rồi đây nước Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới. Chẳng ai còn nhớ đến bà Trưng, bà Triệu, Hưng Ðạo Vương, vua Quang Trung…
Tôi có bi quan quá hay không? Xin nhường câu trả lời cho tất cả mọi người. Chỉ mong những điều ấy sẽ không bao giờ là sự thật. Chỉ mong được như vậy.
Xin các đấng tiền nhân, hương linh những anh hùng tử sĩ phò hộ cho nước Việt mình vượt qua cơn bão giông này.
42 năm đã quá đủ cho những thương đau.
Tháng Tư 2017
(Nguồn: Titan Tran [email protected])
Sách mới: Triệu Minh. Tìm thiên thu trong khoảnh khắc
Lòng Này Gửi Mây Bay. Ðúng như tên mà nhà thơ Triệu Minh chọn làm tựa đề cho tập thơ của mình. Bởi đọc qua một loạt các bài thơ, tôi đã có cảm giác giác, cô nhà thơ mơ mộng này, một mặt trân quý, khao khát cái tình yêu mà cô xem là mặt trời, đại dương, rừng già, núi cao, mặt khác cô lại thảng thốt nhận ra tất cả lóng lánh ấy chỉ là ảo ảnh trước bức tường hiện thực sừng sững của cô đơn, và trong cuộc chiến đấu ấy cô đã tìm ra được một phương cách để giữ gìn cảm xúc mình không bị những vết cứa của ảo ảnh: Lòng Này Gửi Mây Bay. Mây kia tan rồi tụ, chả phải là cô gái đã rất khôn ngoan một cách thơ mộng, gửi những đổi thay của kiếp phù sinh vào kho biến hóa vô thường ấy?
*Hãy yêu em. Của tình yêu sông ngàn đời về biển
Nghe những lời này thì ta cũng biết được cái yểu điệu thục nữ của Triệu Minh, làm sao mà không có quân tử hảo cầu cho được?
Yêu em như mặt trời…
…Yêu em như núi cao…
…Yêu em như đại dương…
…Yêu em như rừng già
(Yêu Em, tr. 8, 9)
Có gì so sánh được với thiên nhiên? Họa chăng có người xem tình yêu là bảo trân. Chỉ tình yêu mới có thể kiêu hãnh thách với bao la ấy, và cũng chỉ tình yêu mới đủ dịu dàng để sánh với nụ cười khi cất tiếng gọi người yêu.
Hãy yêu em lòng trinh nguyên thật thà
Của tình yêu sông ngàn đời về biển
Của mùa xuân hoa thơm én liệng
Và của môi cười khi anh gọi tên em
(Viết Cho Anh. Người Ðàn Ông Giấu Mặt, tr.29)
Nỗi đam mê sao mà dịu dàng tha thiết. Giờ thì tôi biết tại sao người thơ nhìn tình yêu rộn ràng đến thế.
Vạn trùng khơi ngàn con sóng vội
Em chỉ thấy mắt anh cười nơi đáy tim em.
(Mùa Thu Ðã Lỡ, tr.23)
Tiếng khúc khích ấy là bàn tay vẫy gọi nàng đi:
Cứ yêu đi những tình nhân phiền muộn
Hỡi thế gian sao say đắm nhân tình
(Môi Nào Phai Dấu, tr.12)
*Tôi bắt gặp cô đơn trên con đường chạy trốn
Tại sao chạy trốn? Vì trao hết những điều đẹp đẽ nhất của tình cảm mình cho tình yêu, mà cô đã sống tận cảm xúc của tâm hồn lẫn giác quan khi cắn vào trái hoan lạc tròn đầy của hạnh phúc, đồng thời là con thú bị thương dưới mũi tên của đớn đau. Chạy trốn đau thương để rồi chạm trán cô đơn. Hai đầu đều là cái chẳng ai muốn chọn lựa, ở Triệu Minh, chạy trốn chỉ là một cách nói khác của đương đầu:
Ta như con thú bị thương
Tìm cách nhanh nhứt trốn khỏi khu rừng… (tr.21)
Nàng đã tìm cách nào khả dĩ? Thử tham dự vào cuộc chiến của người thơ đam mê, bướng bỉnh và đầy tinh nghịch này để xem người đã quy hàng hay khuất phục cái thú đau thương của tình yêu? Và với nội dung như thế thì Lòng Này Gửi Mây Bay được xem là một tập thơ tình.
Em không dám nhìn thẳng mình trong gương
Sợ ánh mắt tố cáo là em nhớ anh lắm…
(Buổi Chiều Mưa Lạnh Nhớ Người Yêu, tr.6)
Và như tự nghìn xưa, nỗi chờ hóa đá, nỗi đau kết ngọc chờ tan ra dưới hạt lệ tình nhân, nàng xin một dấu môi dẫu mơ hồ một kiếp sau. Cái chung tình và đa tình từ xưa đến nay gặp nhau ở một điểm diễm lệ ấy.
Giọt nước mắt hóa thạch trong tiềm thức
Kiếp sau đành xin tìm một dấu môi.
(Môi Nào Phai Dấu, tr.12, 13) […]
Chỉ có hai nhân vật: Tôi và Tình Yêu, cả hai thay nhau làm chủ cái chiến trường đa tình mộng mị: trái tim. Nên nó là cõi cô đơn. Tôi tự hỏi sao những tình nhân trên thế gian lại chính là những người hơn ai hết, cảm nhận rõ từng chân tơ kẽ tóc của cõi gọi là cô đơn…
Có những ngày buồn lắm
Một cái chớp mắt cũng nặng hơn bình thường
Một cái nhếch môi dài như thế kỷ
Cô đơn ký sinh lòng ta bền bỉ.
(Tôi Với Tôi, tr.88) […]
Và em chẳng chọn ai trong đời này (Bình Yên Một Cõi Riêng Mình, tr.32)
Tôi đi vào đám đông
Tìm manh mối để đặt tên cho nỗi cô đơn của mình
Nó khởi sinh và nên vóc tượng hình
Theo năm tháng tôi dò dẫm trong cuộc đời với đôi mắt bão…
… Một cách thực thà, cho tôi được làm lại những gì đã qua
Nhìn thấu mình qua lăng kính hội tụ xót xa và những điều giấu kín…
… Tôi thiệt biết trêu đùa số phận […]
Như mình đã từng mặc kệ những yêu thương đến và đi
(Cô Ðơn, tr.50, 51)
Ðể cười vào cô đơn, người thơ bèn trêu đùa mình, bằng một giọng mõ làng, bằng hồn nhiên đứa trẻ hát đồng dao. Ngoài thể thơ Tự Do, Triệu Minh ở đây cũng cho người đọc thấy được cái chất lục bát chân quê hồn hậu, cô dùng nó ở đây rất hiệu quả để hóa giải nhẹ nhàng cái thân phận cô đơn, đây là nét tinh nghịch hồn nhiên của cô gái thơ này:
Chợ đời đông cô đơn em bán
Phố lao xao quạnh quẽ em chào
Ai thương mua giúp không nào?
Kẻo em đổi ý cất vào trong tim
Mua cô đơn em tặng cuộc tình
Anh mang về để làm tin trong nhà
Cuối năm thưa với mẹ cha
Sang xuân con hứa nhà ta thêm người
Ai mua quạnh quẽ món hời
Em xin tặng cả cuộc đời của em
Không tin chàng cứ thử xem
Bỏ vốn một cắc bốn đồng lời to
Lời rao tỏ ý hết rồi
Thì xin quân tử chớ bồi hồi nghi
Thương em hãy cất bước đi
Ðưa em về dưới uy nghi của chàng
(Rao Cái Cuộc Ðời, tr.100,101)
*Em nuôi mộng thiên thu trong khoảnh khắc…
Cõi bình yên của nàng để chấp với quán trọ kia, hơi thở ấy chỉ là phí qua đêm nơi cõi tạm, một quan niệm vừa buông vừa vướng, cho dù đã tự an ủi mình, tất cả chỉ là giấc mộng,
Ðời chỉ là quán trọ
Trả phí bằng tháng năm
Ta lỡ đường ở tạm
Vướng bận chi nhọc nhằn
(Tiếng Ðàn Ðêm, tr.36) […]
Tin một cách hồn nhiên. Chính cái thật thà hồn nhiên này là tiếng chuông mở cho tôi cánh cửa để bước vào thơ Triệu Minh. Có vẻ như cô đã sống đã viết vô cùng hạnh phúc bên cạnh những trắc trở của số phận, và cô đã kiêu hãnh: Chẳng thể nói gì về ngày mai. Nhưng đừng phải hối tiếc ngày hôm qua (Ðêm San Diego, tr.39)
Nơi ấy, là thiên thu mộng, nơi ấy lấp lánh ánh mắt em chỉ thấy mắt anh cười nơi đáy tim em… (tr.23). Thế thì sao còn băn khoăn: Về thôi Vô Kỵ đi rồi? (tr.82)
Trái tim ấy. Nơi nàng ra đi và cũng là trở về. Còn gì hơn. Ơi Triệu Minh đang ngồi trong bình minh mà mơ mộng một người kẻ cho mình đôi lông mày tình yêu. Tôi tin đó là ban mai có thật, một ngày được sống trọn vẹn niềm vui. Là trăm năm. Như trái tim trẻ trung của cô mách bảo.
Santa Ana, Apr 15, 2017
———–
Chú thích:
[…] Dấu hiệu của những đoạn trích ra trong nguyên văn của tác giả bài này. Trân trọng. (QV)
Thơ Chánh Thành
Trăng của tôi
Xin chào những giấc mơ của tôi
rạn vỡ theo dấu xe lăn
mỗi sáng trăng còn tỏ, đường không người
ngùn ngụt qua hàng thông tỉnh mặc
ngày ngày lập lại,
sáng muốn chóng qua, chiều thôi muốn qua.
Những giấc mơ của tôi
theo trăng có những vầng mây ôm
khuất tỏ đẹp lạ kỳ, như em
như em khuất tỏ, như tôi bất tường.
Tôi vẫn ôm giấc mơ của tôi
tròn khuyết theo một vầng trăng
đẹp sáng lẻ loi giữa mầu quái dị
vờn bay theo tôi, những cơn say…
ôi trăng đẹp quá, tôi đâu hỡi mình.
Tôi cúi chào giấc mơ của tôi
qua từng ngọn đèn đường,
thoáng hiện từng đoạn đời nhấp nháy
tôi lại thấy xưa yêu trăng ấu thì.
Những giấc mơ của tôi,
nhẹ ngã cõi hoang sơ
và cơn say của tôi, đâu thấm
để ôm trăng đùa với hư vô.
Tôi ngắm vầng trăng lẻ loi
một trời mây đen vũ khúc nghê thường
biết làm sao, thôi đành thôi
đừng hẹn xa lâu
lần sau trăng tỏ, biết còn thấy nhau.
Tổng Thống George Washington, một tấm gương sáng
Qua ba tháng cầm quyền, TT Donald Trump đang bước vào giai đoạn khó khăn, uy tín của tổng thống thứ 45 thấp nhất so với các tổng thống tiền nhiệm George W Bush và Barack Obama trong cùng giai đoạn. Cá tính và cách thức cầm quyền khác thường của ông Trump đã gây ra rắc rối. Không nghe lời cố vấn và quyết định vội vàng, thiếu suy nghĩ, ông đã gây nhiều hoang mang cho dân và các cộng sự viên. Buổi sáng Qatar là đồng minh, buổi chiều là kẻ thù nuôi khủng bố ISIS, hôm trước Trung Quốc là kẻ thù hôm sau Tập Cận Bình là bạn. Quyết định bằng tweet của một người thiếu ngủ là những quyết định không sáng suốt, mắt nhắm mắt mở chỉ trích thị trưởng Luân Ðôn, cắt đầu cắt đuôi các lời phát biểu của những người ông không thích đã khiến giới chính trị có cảm tưởng ông không xứng đáng giữ vai trò tổng thống của một siêu cường quốc. Tổng thống thứ 45 đã đến lúc phải bớt ngạo mạn để học bài học lịch sử từ vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên.
Cuộc đời Tổng Thống George Washington đã được viết và dạy lại trong trường học cho các thế hệ trẻ Hoa Kỳ nhưng cuốn “Hành Trình của Washington” (George Washington’s Journey) năm 2016 do GS T.H.Breen sử gia Ðại Học Vermont viết, đã vẽ lại chân dung chính trị của George Washington ít người biết nói lên lòng yêu nước yêu dân của ông. Trong lịch sử Hoa Kỳ, TT Washington là người đầu tiên phải đối diện trước những thách đố và khó khăn nhất mà chưa tổng thống nào kể cả TT Abraham Lincohn người đã cứu Hoa Kỳ khỏi tình trạng chia đôi Nam-Bắc trong cuộc nội chiến phải đối phó với những vấn đề như ông. Tổng Thống Washington đã tạo ra quốc gia Hoa Kỳ, một hợp chủng quốc, một liên bang. Sử gia Breen nhìn thấy rõ nếu TT Washington không thành lập liên bang thì TT Lincohn đã không có một quốc gia để duy trì và cứu vãn.
Nhận thấy vai trò tổng thống là một vai trò khó khăn phải vượt lên trên tất cả quan điểm quần chúng, người lãnh đạo phải đi đến từng người dân, lắng nghe tiếng nói để tạo ra một gạch nối đoàn kết cho chính quyền liên bang. Người lãnh đạo không ngồi trong dinh hay sống trong tháp ngà mà phải liên hệ trực tiếp với dân không qua báo chí, không qua tiếng nói đảng phái và tiếng nói của các chính trị gia từng miền. Cách hay nhất là đi thăm dân cho biết sự tình như thời miền Nam VNCH, TT Ngô Ðình Diệm đi kinh lý các tỉnh hay như đời nhà Thanh, Vua Càn Long Trung Hoa, cũng cùng thời với George Washington thế kỷ thứ 18, đi thăm các tỉnh vùng Giang Nam.
Tổng Thống Washington đã đi thăm tất cả 13 tiểu bang, đàm luận với thường dân để đưa đến một ý tưởng nòng cốt: “Hoa Kỳ giờ đây là một quốc gia chứ không phải là một tập hợp các tiểu bang.” Cuộc hành trình dài đến 2,400 dặm. Ông đã đáp lời mời của dân, đến nhà họ đàm luận chứ không phải như các nhà lãnh đạo bây giờ tiếp kiến dân ở tư dinh là cho đó là một danh dự cho người dân.
Tinh thần dân Mỹ năm 1789 vẫn là tinh thần địa phương, họ vẫn còn bám chặt với tiểu bang của họ. Khi dân Mỹ nói về quốc gia là họ nghĩ đến tiểu bang của họ đang sống, tiểu bang đó là quê cha đất tổ nơi cha ông họ đã sống hằng thế kỷ trong thời thuộc địa Anh. Nói chuyện với dân Mỹ về một chính quyền liên bang không dễ. Báo chí trong thời này cũng hẹp hòi, đầu độc dân bằng ý kiến chia rẽ cố tình không muốn Hiến Pháp mới thành công để tạo ra chính quyền liên bang (hơn 200 năm sau không khí chính trị có vẻ phảng phất thời Washington.)
TT Washington đã làm nhiều cuộc hành trình. Lần đầu vào mùa Xuân năm 1789 từ quê nhà MT Vernon đi New York để nhậm chức tổng thống. Ông là tổng thống duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ bị kéo vào chính trường, được dân yêu cầu làm tổng thống chứ không tranh chức. Ông là tổng tư lệnh quân đội Continental đã đánh bại quân Anh trong cuộc cách mạng giành độc lập cho Hoa Kỳ từ Tháng Tư năm 1775 đến Tháng Chín năm 1783, về sống ẩn dật an nhàn, đời sống của một ông tướng về hưu. Người anh hùng được dân Hoa Kỳ yêu cầu nay “vì dân vì nước” ra lãnh trách nhiệm lãnh đạo.
Giữa thập niên 1780, George Washington là nhân vật nổi tiếng của Hoa Kỳ và thế giới. Vì đã được nổi tiếng nên ông không muốn làm mất tiếng khi nhận lãnh chức vụ tổng thống một chức dễ bị chỉ trích từ báo chí đến đảng phái với nhiều trách nhiệm khác với chức vụ tổng tư lệnh quân đội. Sau 8 năm đánh giặc, ông muốn sống một cuộc đời thường dân, sống hạnh phúc với gia đình nhưng cuối cùng ông biết ông phải nhận trách nhiệm tổng thống, đối với ông tổng thống là trách nhiệm hơn là quyền lợi.
Chuyến đi thứ hai vào mùa Thu năm 1789, đi New England qua Rhode Island tiểu bang chưa chấp nhận Hiến Pháp mới. Chuyến đi thứ ba vào Tháng Tám năm 1790, ông đi thăm lại Rhode Island khi tiểu bang này sáp nhập vào liên bang. Chuyến đi thứ tư là chuyến đi chót giữa Tháng Ba và Tháng Bảy năm 1791, chuyến đi dài 1800 dặm qua các tiểu bang miền Nam. Trong các chuyến đi này, TT Washington đã hoàn thành được sứ mạng của các đại biểu Quốc Hội giao phó. Hiến Pháp năm 1787 đã đặt chức vụ Hành Pháp độc lập với Tư Pháp và Lập Pháp, tổng thống là người có uy quyền vì các đại biểu Quốc Hội Lập Hiến đã tin rằng Tổng Thống Washington sẽ giữ được trách nhiệm tối cao, yêu cầu ông ra làm tổng thống vì họ chỉ tin tưởng duy nhất vào ông tổng tư lệnh đã đánh bại quân Anh
Tháng Tư năm 1789, từ MT Vermon đi New York thủ đô tạm thời của liên bang lúc ấy, Tổng Thống Washington cảm thấy bị bắt buộc phải làm tổng thống, ông nói với ông bạn thân Henry Knox là ông có cảm tưởng “đang trên đường đi ra pháp trường.”
Với trách nhiệm tổng thống, khổ sở như người bị đày khổ sai, TT Washington nảy ý đi “thăm dân cho biết sự tình” sau ngày đi New York nhậm chức. Ði đến đâu, TT Washington cũng được dân chúng đón chào nồng nhiệt, súng đại bác nổ đón chào, Khải Hoàn Môn được dựng lên, đèn thắp sáng từ ngoài đường cho đến từng khu xóm, đám đông hát mừng tung hô “vạn tuế George Washington!” Tân tổng thống đã được rước đón kiểu vua chúa hoàng tộc, trong buổi giao thời từ quân chủ qua dân chủ, dân Mỹ với văn hóa mới thời lập quốc vẫn còn giữ văn hóa phong tục thời phong kiến.
TT Washington thật sự cảm thấy xấu hổ về những nghi thức đón tiếp dân đã dành cho ông. Bạn của ông đã nói với ông: “Bây giờ ông là vua chỉ dưới hình thức khác,” không “áo mũ cân đai” và họ vẫn chúc ông như chúc Vua George III “chúc ngài thượng thọ, thánh thượng vạn vạn tuế!” Ông phải nhắc bạn bè và các cộng sự viên là nước Mỹ đang ở vào thời buổi Cộng Hòa dân chủ tự do với chính quyền liên bang không còn dưới chế độ quân chủ, ông chỉ là đại diện dân không phải là vua, ông không có “con cái nối dõi tông đường,” gia đình ông không phải là hoàng tộc, quyền lợi gia đình của ông không nằm trên quyền lợi quốc gia. Ông James Madison, cha đẻ của Hiến Pháp Hoa Kỳ, thuyết phục tổng thống quên đi đừng nhắc nhở và so sánh nội các dân chủ với Hoàng triều nhưng có cơ hội là ông nhấn mạnh nội các của ông không giống như triều đình. Nền dân chủ còn non nớt nên TT Washington lúc nào cũng cảm thấy phải nhắc nhở chính mình và các người thân tín. Ông đã thở phào nhẹ nhõm khi Phó Tổng Thống John Adams, chủ tịch Thượng Viện, đề nghị gọi chức vụ của ông là “Ngài tổng thống tối cao Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, người bảo vệ tự do” đã bị Hạ Viện của Chủ Tịch James Madison bác bỏ và chỉ gọi ông giản dị là “ông tổng thống” (Mr President thay vì His Highness).
TT Washington trong suốt những năm cầm quyền đã được dân yêu mến và kính trọng, ông lúc nào cũng giữ được quyền hành nhờ lúc nào cũng giữ tinh thần khiêm tốn sẵn sàng từ bỏ không bám víu vào quyền lực. Với tinh thần dân chủ, ông lúc nào cũng sẵn sàng về sống đời dân dã trong căn nhà cũ ở MT Vernon như các vua hiền trong lịch sử thế giới.
Khi làm tổng thống, Washington không bao giờ quên vai trò quần chúng, đại diện dân ông không bao giờ quên giữ nguyên tắc căn bản làm chính trị chính đạo: “Không được giả dối với chính mình.” Làm tổng thống đầu tiên của nền Cộng Hòa nên ông cảm thấy phải tự làm gương cho các tổng thống kế nhiệm nhất là vai trò đại diện trên chính trường thế giới. Ông cẩn thận từ y phục cử chỉ đến lời nói, chọn loại xe ngựa khi di chuyển, và phong cách gặp gỡ quần chúng. Từ tổng thống đến nhân viên trong chính quyền phải hiểu là “cặp mắt dân Hoa Kỳ và có lẽ tất cả cặp mắt của cả thế giới đều nhìn vào chính quyền mới này.” Nên từ tổng thống trở xuống phải tự làm gương.
Hội nghị lập hiến Philadelphia đã mở cánh cửa thay đổi khung cảnh và sân khấu chính trị nước Mỹ. Ðại biểu các bang thuộc địa Anh đổ về dự hội nghị đã cảm thấy một sinh hoạt chính trị mới mẻ chưa từng có. Phê chuẩn Hiến Pháp mới cho một quốc gia mới được thành lập đã mở cửa chính trị cho mọi người. Hội nghị đón nhận tất cả quan niệm chính trị xây dựng, là một cơ hội cho những người dân Mỹ bình thường được dịp bàn luận chính trị và xây dựng chính quyền tương lai theo ý dân.
TT George Washington đã có cái nhìn xa hơn Phó Tổng Thống Adams, ông phó tổng thống này đã không đi thăm dân cùng với tổng thống ở New England vì ông cho rằng có nhiều điều cần thiết phải làm ở thủ đô, đi thăm dân không cần thiết. TT Washington thấy chuyện tiếp xúc với dân, nhận ý kiến dân là cần nhưng không nên phiền nhiễu dân, ông yêu cầu chính quyền địa phương không nên tổ chức diễn hành hay lễ lạt trịnh trọng, ông chỉ muốn đến với dân trong một tư thế một nhà lãnh đạo dân chủ, một phong cách cộng hòa bình đẳng, đến thị trấn ông bỏ cỗ xe, đi ngựa vào phố, không thích lễ lạt xa xỉ phí phạm tốn tiền thuế của dân, ông chỉ muốn hòa đồng vào ngồi ăn trong quán chung với dân.
TT Washington hòa dịu với mọi người kể cả đối thủ chính trị nhờ vậy Thống Ðốc John Hancock tiểu bang Massachussettes đã không thách đố quyền liên bang khi muốn Massachussettes đứng trên liên bang mặc dù chịu đứng trong Cộng Hòa và Rhodes Island cuối cùng cũng chịu gia nhập liên bang. Thực hiện hòa đồng tôn giáo, TT George Washington đến viếng đền thờ Do Thái Giáo Touro Synalogue ở New Port. Vào thế kỷ thứ 18, dân Mỹ trắng kỳ thị người Do Thái, cặp mắt của họ nhìn người Do Thái cũng không khác gì đối với dân Hồi Giáo thế kỷ thứ 21. Dân Do Thái chào đón tổng thống da trắng cởi mở và công nhận ông không có một thành kiến và kỳ thị sắc tộc. Ông mang thông điệp xuống đến người dân chứ không ban thông điệp từ trên sân thượng dinh tổng thống. Thông điệp ông mang đến dân Do Thái Giáo là tinh thần dân chủ cấp tiến, tự do từ lương tâm con người, hy vọng cho tương lai. Người Do Thái Giáo cũng như những người dân Hoa Kỳ khác: “Ðược ngồi dưới bóng mát, dưới giàn nho và không phải sợ hãi bất cứ điều gì nếu không làm gì trái.” Ông nhắc những người Mỹ trắng lý do tại sao Hoa Kỳ đã phải trải qua một cuộc chiến tranh cách mạng chống quân Anh giành độc lập. Nhờ tinh thần đoàn kết của ông cộng đồng dân Mỹ khắp nước đã đón tổng thống đến thăm những nơi người Mỹ đã đổ máu cho lý tưởng liên bang. Các chiến binh đến đón chào cựu tư lệnh khắp nơi, đến Lexington năm 1789, ông viết trong hồi ký. “Ðây là nơi người Mỹ đã đổ máu chứ không phải chỉ máu dân Massachussetts.” Quân đội của George Washington làm tư lệnh là “quân đội của chúng ta” (our army, American blood) chứ không giống như TT Donald Trump đã làm phật lòng tướng tá khi gọi quân đội Hoa Kỳ là “quân đội của tôi” (my army).
Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ là một trong những cách mạng thật sự đem lại lợi ích cho dân. Cuộc cách mạng này đã thay đổi hẳn truyền thống Hoa Kỳ, loại bỏ chính quyền quân chủ, Hoa Kỳ độc lập với Anh và TT Washington đã xây dựng nền tảng Cộng Hòa bình đẳng cho mọi người, dân không còn quỳ lạy dưới vua Anh, dân Hoa Kỳ cảm thấy được bình đẳng trên phương diện xã hội. Tổng Thống George Washington đi vào lòng dân và dân Mỹ cảm thấy Tổng Thống Washington trong cuộc đời của họ. Phụ nữ cũng cảm thấy được tôn trọng, được đón chào trong các buổi diễn hành và tiệc tùng đánh dấu nền văn minh mới.
Bên cạnh những thành công lớn, Tổng Thống Washington vẫn còn những thất bại. Hình và tượng khổng lồ của Washington được dựng lên, trưng bày khắp nơi trái ý muốn của ông. Ðèn được đốt sáng, pháo bông, súng đại bác bắn chào, cờ treo khắp phố. Tục lệ nâng cao ly rượu mừng trở thành tục lệ người Mỹ đón thượng khách. Dân Mỹ giữ tục lệ từ thời Anh xem tổng thống như vua mới của Hoa Kỷ với bài hát đón chào Vua George III 60 năm trước: “Ngài đã đến, ngài đến! Anh hùng đến! Hãy thổi kèn lên. Ðánh trống lớn lên!” Có nơi dân Mỹ đón ông như đón “Thượng Ðế,” “cha già dân tộc,” “đứa con của Columbia.” Chuyến đi xuống miền Nam mùa Xuân năm 1791 đã gặp nhiều chống đối, dân miền Nam chống miền Bắc và chống chính sách kinh tế. Lỗi lầm lớn nhất của TT Washington là biết nô lệ sai lầm nhưng ông vẫn dùng nô lệ như các đại điền chủ khác cùng thời, và ông chỉ mong một ngày chế độ nô lệ tự biến mất.
TT George Washington đã đoàn kết Hoa Kỳ trong vai trò tổng thống đầu tiên, dù “vạn sự khởi đầu nan” ông đã tạo được một quốc gia dân chủ với những bước đầu vững mạnh. Hơn hai trăm năm sau, TT Donald Trump đi ngược đường, từ một tổng thống Cộng Hòa ông có vẻ muốn trở lại chính quyền quân chủ với hoàng tộc Trump.
Thơ Lan Thảo
‘Bốn Mùa’
1
Thiên thần vo nhỏ
Từng cụm mây hồng
Bông tuyết bềnh bồng
A, mùa Đông đến
2
Nước lười ngủ mãi
Trên đỉnh non vàng
Thái Dương nhẹ nhàng
Xoa đầu đánh thức
3
Mở bừng mắt dậy
Chim hót vang lừng
Hoa nở bừng bừng
A, Nàng Xuân đến
4
Anh Gió thổi mãi
Cho Nước theo cùng
Bay cao, cao mãi
Qua đỉnh non hùng
5
Mặt Trời ngóng mãi
Mây Trắng trải dài
Ai nhẹ bước hài
Ô kìa, Thần Hạ
6
Thần nhanh bước quá
Nước đi chưa về
Nắng chiếu não nề
Ủ ê cây cỏ
7
Gió thầm bảo nhỏ
Với cánh rừng hoang:
“Thay áo cho nàng,
Lá vàng cõi mộng”
8
Thiên thần ngơ ngác
Trái Đất xoay tròn
Một khắc nhẹ nhàng
Bốn mùa khoe sắc
9
Nghiêng mình xoay bước:
“Thế gian vô thường
Mong ai thức tỉnh,
Đừng đi sai đường”
Trung Thu, ngôi trường đặc biệt của con em cảnh sát quốc gia VNCH
ANAHEIM, California (NV) – Tối Thứ Bảy, 10 Tháng Sáu, nhà hàng Golden Sea ở thành phố Anaheim, miền Nam California, trở thành nơi chứng kiến cuộc hội ngộ ấm cúng của thầy trò trường trung tiểu học Trung Thu, một ngôi trường đặc biệt dành cho con em Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, mà nay đã không còn hiện hữu.
Được thành lập cách đây 60 năm, Trung Thu không phải là ngôi trường mà ai ai cũng biết đến, vì những lý do rất riêng của nó.
Thế nên, sau khoảnh khắc tay bắt mặt mừng, sau những bài hát “làm nóng lên” bầu không khí hội ngộ, thầy Lê Trần Đức, cựu giáo viên lý hóa, giúp mọi người ôn lại lịch sử của ngôi trường được xem là “đứa con độc nhất của Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia VNCH.”
“Tôi nhớ vào Tháng Tám, 1957, trường tiểu học Trung Thu ra đời trong khuôn viên Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, chỉ gồm có các lớp tiểu học mà thôi. Nhưng với sự tiến triển không ngừng theo nhu cầu, số các lớp học tăng dần, và có đà tiến lên những lớp bậc cao hơn. Vì thế trường Trung Thu được chuyển về khu đất rộng lớn hơn trên đại lộ Thành Thái ở quận 5, Sài Gòn, và cũng từ đó tên trường được gọi là trường trung tiểu học Trung Thu,” thầy Đức nhắc lại.
Cũng theo ông, “trường Trung Thu trưởng thành từng bước rất lạ lùng. Nào là hình thức tự túc, nào là qui chế tư thục và bán công, rồi chuyển dần sang qui chế công lập, với thành phần giáo chức ban đầu toàn là nhân viên biệt phái từ Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, rồi tiếp sau đó là đội ngũ giáo viên được bổ nhiệm từ Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Trường dần dần lớn mạnh và đem lại nhiều thành quả đáng kể.”
Thầy Đức từ trường trung học Kiến Hòa, được chuyển về dạy ở trường Trung Thu từ năm 1971 cho đến ngày trường bị “xóa sổ” năm 1975.
“Điều tôi nhớ về trường nhất về ngôi trường này là khi tôi vượt biên năm 1980, được một tàu chở dầu của Nhật vớt và họ cho tôi định cư ở Nhật. Nhưng vì nhu cầu gia đình, còn phải nghĩ đến việc bảo lãnh vợ con ở Việt Nam qua, mà ở Nhật thì không có chương trình đoàn tụ, chỉ Mỹ mới có. Thành ra tôi chỉ muốn qua Mỹ. Khi đó tôi mới khai tôi là cựu nhân viên Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, vì vậy họ đưa tôi qua Mỹ, có vậy tôi mới có thể thực hiện ước mơ của mình,” thầy Đức kể.
Tham dự buổi hội ngộ cùng thầy xưa bạn cũ, chị Trần Xuân Phương, hiện sống ở Garden Grove, nhớ “thời học ở trường Trung Thu rất vui.”
“Nhớ nhất về trường là phải nhớ bà nhớ cô hiệu trưởng Lý Thị Minh Nguyệt rất là kỷ luật, nhớ chuyện học thêu thùa, học Hán văn,” chị Xuân Phương nhớ chuyện ngày xưa.
Chị kể bằng giọng sôi nổi, “Thời đi học tụi mình cũng ‘quậy’ quá trời luôn. Con gái mà cũng chơi u, mặc áo dài trắng mà cột lại nhảy lên bàn chơi u chứ không phải chơi dưới đất đâu. Rồi cũng có khi bị té rách áo, trong trường không bị la nhưng về nhà thì bị đòn.”
Chị cho biết, “Qua Mỹ, mình cũng có ý định tìm lại bạn cũ nhưng tìm không ra, cho đến khi thấy có bài báo viết về buổi hội ngộ của trường Trung Thu cách đây vài năm. Mình vào trang web trường, nhìn thấy hình ảnh một số bạn bè cũ, mừng quá.”
“Mình có người bạn thân là Minh Nga. Năm 1975, khi cô còn đang học luật thì mình đã theo chồng ‘bỏ cuộc vui.’ Đến thời điểm Tháng Tư, 1975, theo lời chồng, mình ẵm con từ tỉnh về Sài Gòn trước. Khi đó có đến thăm Nga. Rồi bặt tin nhau. Cho đến khoảng năm 2000, lần đầu tiên gặp lại ở Mỹ, cô mới nói hình ảnh mình ẵm đứa con, mặt buồn thiệt là buồn ở lần gặp gỡ sau cùng đó cứ ám ảnh, day dứt cô mãi, không biết là mình giờ ra sao. Thành ra, sau 25 năm gặp lại, qua lần Hội Ngộ Trung Thu, mừng không thể tả, mà bạn bè nào có ở đâu xa, cũng chỉ lòng vòng ngay Bolsa, người ở thành phố Westminster, người ở Garden Grove, vẫn cứ nghĩ về nhau, mà lại chẳng nhận được tin nhau,” chị Xuân Phương bồi hồi nhớ.
Anh Huỳnh Quốc Việt, học ở trường Trung Thu từ năm 1967, ra trường năm 1974, chính là một trong những người đầu tiên “gom góp” thầy cô, bạn cũ về để tổ chức họp mặt từ lần đầu tiên vào năm 2000, cũng như lập trang web trungthu.com vào năm 2003.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất của anh Việt về ngôi trường Trung Thu cũng là kỷ niệm về “bà hiệu trưởng rất là khó khăn với học trò.”
“Thời học trò, đứa nào mà không phá. Tôi nhớ có đứa bạn ngồi gác chân lên ghế, đôi dép kê bên dưới. Một đứa khác đá đôi dép văng xuống lầu. Ngay lúc cô hiệu trưởng đi đến, đôi dép rớt ngay trước mặt cô. Cô nói thầy giám thị tìm đứa học trò nào thiếu chiếc dép, kêu lên gặp cô. Kết quả là thằng bạn đó bị đuổi học ba ngày, đứa đẩy chiếc dép bị đuổi học bảy ngày. Nhớ lại còn quá sợ kỷ luật của cô luôn,” anh Việt kể.
Anh tiếp, “Bản thân tôi cũng từng bị cô hiệu trường ‘sởn’ tóc vì tội để tóc dài nè. Lúc đó thật lòng mà nói là ghét cô lắm. Nhưng sau này lớn lên ngẫm nghĩ lại mới thấy thương cô, nhờ cô khó khăn vậy mà đám học sinh quậy phá tụi này mới thi đậu tú tài đầu tiên của hệ thống IBM, tức năm đầu tiên thi tú tài bằng máy điện toán, mà lúc đó thi rất là khó.”
Từ Paris, anh Dương Ngọc Hạnh cũng về tham dự Trung Thu Hội Ngộ 2017 lần đầu tiên cùng bạn bè sau 43 năm rời trường, từ năm 1974.
Anh Hạnh cho biết, “Tôi học ở trường Trung Thu từ mẫu giáo đến lớp 12, tất cả là 13 năm, người ta học 12 năm, tôi học 13 năm vì ở lại năm mẫu giáo, học từ khi trường còn lụp xụp cho đến khi trường xây lên tươm tất đàng hoàng khang trang.”
“Tôi thì hiền, chỉ lo học mà không dám nghĩ gì khác hết. Nhưng đã là thanh niên thì ai mà không để ý đến chuyện ‘cua gái.’ Nhưng chỉ là những mối tình học trò cùng trường thôi,” người học trò “hiền” năm nào kể lại một cách vui vẻ.
Tuy nhiên, khi hỏi anh Hạnh, người sang Pháp định cư từ năm 1983, rằng, có gặp lại “cố nhân” nào trong lần hội ngộ này không, anh khẳng định là “không” dù cũng có để mắt tìm.
Từ miền Bắc California, chị Phạm Thị Như Mai cũng mang theo nỗi nhớ bạn cũ trường xưa để về dự hội ngộ.
“Tôi học ở trường Trung Thu từ lớp 6 đến lớp 12, nên cũng rất nhiều điều để nhớ, mà nhớ nhất là bà hiệu trưởng rất là khó, nhớ con gái đi học mặc áo dài bắt buộc phải mặc áo lá ở trong, và không được để móng tay dài. Nhớ cô hiệu trưởng bắt để bàn tay lên bàn để bà đi đến xét, nếu thấy dài là gõ tay, bắt cắt, lúc đó ghét bà lắm, nhưng giờ thì nhớ thương cô,” chị Như Mai tâm sự
Cũng theo chị Mai, “Mỗi lần gặp lại bạn cũ vui lắm, mấy chục năm rồi, có bạn thì nhìn ra ngay với những nét ngày xưa, có bạn thay đổi chút chút nhưng rồi cũng nhận ra. Mỗi lần hội ngộ là nhắc lại kỷ niệm, bạn bè nhắc nhau điều này điều kia.”
Dĩ nhiên, trong ngày hội ngộ mà học trò cũ nào cũng nhắc tới kỷ niệm với “bà hiệu trưởng khó khăn” thì bà hiệu trưởng Lý Thị Minh Nguyệt không thể không có mặt để nghe học trò cũ “kể xấu mình.”
Từ Paris, cô hiệu trưởng trường Trung Thu, giờ đã ngoài 80 tuổi, bay qua Orange County để gặp lại những học trò nhỏ ngày nào.
Cứ nhìn hình ảnh “bà giáo già” có gương mặt thanh tú, sang cả, ánh mắt, nụ cười tỏa sáng ngồi đó, rồi hết “đứa” học trò này đến “đứa” học trò khác chạy đến vòng tay chào cô, nắm tay cô hỏi chuyện, mới thấy hết nghĩa tình thầy trò qua mấy mươi năm dâu bể vẫn không hề suy chuyển.
Sau những lời cám ơn ban tổ chức và những người tham dự, cô hiệu trưởng như tâm sự cùng học trò, “Sống đến từng tuổi này, tôi mới thấm thía và thấu hiểu hai chữ còn và mất. Tôi muốn kể câu chuyện còn và mất của trường trung học Trung Thu.”
Bà kể chuyện mỗi lần về Việt Nam, từ trên lầu của một ngôi nhà trên đường Trần Bình Trọng, bà nhìn sang đường Thành Thái, nơi có ngôi trường từng mang tên Trung Thu.
“Tôi biết là trường mình đã không còn, họ đã đập ngôi trường đi để xây dựng những thứ khác. Tôi biết ngôi trường của mình vĩnh viễn đã mất rồi, không còn gì nữa. Ngay lúc đó, tôi nghe trong bụng mình quặn đau,” bà hiệu trưởng bồi hồi.
Nhưng, như bà nói, “Đồng thời lúc đó bao nhiêu kỷ niệm lại ùa về trong tôi. Nhớ lại lúc mới về trường thấy các em nhỏ chạy ngoài sân chơi, rồi thấy gà vịt, thấy đám nhỏ thấy thương. Nhớ lần đầu tiên về dạy, vô lớp điểm danh xong, vừa quay lên bảng viết, lúc ngó xuống tụi nó chui đi chơi hết nửa lớp rồi. Nhưng tụi này tui hỏng dám rầy vì tui nó là con em cảnh sát, ba nó có súng đó, nên không dám rầy. Rồi tôi thấy nhiều kỷ niệm mà không sao quên được, có em tưởng bị cha mẹ bỏ quên trong trường không đón, nhưng sau mới biết vì ba nó phải ở nhà để lo tang cho mẹ nó. Bao nhiêu là kỷ niệm dồn dập…”
“Những kỷ niệm đó không khi nào quên được. Trường mất nhưng kỷ niệm còn. Nhìn học trò mình nay nên người, thành công nơi xứ người, mình không có cảm thấy hổ thẹn. Ý nghĩa mất và còn là như thế,” bà hiệu trưởng kết luận.
Điều bà hiệu trưởng Lý Thị Minh Nguyện nói, cũng là tâm tình của thầy Lê Trần Đức, “Sau 1975, trường giải tán, thầy trò phân tán khắp bốn phương trời. Nhưng trường trung tiểu học Trung Thu vẫn nối kết được với nhau qua những buổi họp mặt hằng năm. Dù bị giải tán nhưng trường vẫn còn lại mãi mãi trong tâm tưởng chúng ta.”
Buổi hội ngộ hai năm một lần của cựu học sinh trường Trung Thu, ngôi trường không còn hiện diện trên mặt đất, tưởng chừng như cứ kéo dài mãi không dứt với những bài hát, bài múa của thầy cô lẫn học trò, dù mái đầu nào cũng đã điểm sương.
—
Liên lạc tác giả: [email protected]
Thơ Ngọc Hoài Phương
Bằng hữu
Con phố nhỏ chìm yên trong giá lạnh
Ðêm gần tàn,
ta thức để nhớ chi?
Ðời vẫn thế,
vẫn đời chia trăm nhánh
Cội mai gầy e ấp đợi xuân về.
Này bằng hữu,
đã qua thời trai trẻ
Buổi tàn đông còn sót chút tình thân
Mấy mươi năm vẫn cuộc đời dâu bể
Người dẫu xa, nhưng tình mãi còn gần.
Thơ Như Nhiên
Bên Đời Mưa Nắng
Thương thì rác bỗng thành hoa
Ghét dù hoa đẹp… chỉ là rác thôi!
Thương thì vật hóa ra người
Ghét, người xem chẳng khác loài vật kia
Thương, xa cách mấy cũng kề
Ghét, bên cạnh vẫn sơn khê ngàn trùng
– Bởi thương, bởi ghét vô cùng
Nên nghìn duyên nghiệp mịt mùng nối nhau…
Vui thì hoa héo tươi màu
Buồn, dù rộn tiếng cười… sau vẫn buồn
Vui, đời bỗng đẹp lạ thường!
Buồn, ngồi trên đỉnh đế vương lạnh lùng!
Vui ngồi hát giữa vô thường
Buồn nhìn quanh những tấn tuồng…, thở ra!
Vui nghe chửi giống bài ca
Buồn bao tán thán xuýt xoa… vẫn buồn
Nắng, mưa còn có ngọn nguồn
Buồn vui nhân thế tâm hồn biết đâu?
Vạn duyên theo nước qua cầu
Vui buồn, thương ghét, khổ đau tại mình.
Ai không lục dục, thất tình?
Đời yên vui bởi cái nhìn trạm nhiên..
Vẫn là sống giữa trần duyên
Vẫn lòng sen ngát giữa miền trược ô…
Vui, buồn… muôn kiếp sóng xô
Đưa vào hết cõi hư vô. Mỉm cười…
(Nguồn: [email protected])









