Tạp Chí Văn Hóa tục bản dưới hình thức điện tử


WESTMINSTER (NV)
– Nhà báo Lý Kiến Trúc, Chủ Nhiệm sáng lập nguyệt san Văn Hóa, thông báo cho biết Văn Hóa nay được tục bản, dưới hình thức “online.”

 
 Trang đầu của tạp chí Văn Hóa Online, bao gồm 27 mục tin tức.
(Hình: VanHoaMagazineOnline.com cung cấp)

Website VanHoaMagazineOnline.com, mà nhà báo Lý Kiến Trúc gọi là “bộ mới,” nhằm tiếp tục cho ấn bản Văn Hóa, từng tồn tại từ năm 1996 đến 2012.
Theo lời nhà báo Lý Kiến Trúc, VanHoaMagazineOnline.com được tăng cường đến 27 mục, hình ảnh phong phú, bài vở chọn lọc, chính thức ra mắt ngày 18 tháng Tư, 2013.
Văn Hóa cũng là một bộ phận trực thuộc Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí – VAAMA, do ông Lý Kiến Trúc chủ trương.
Về ý tưởng ra đời tạp chí Văn Hóa online, ông Lý Kiến Trúc nói rằng “tương lai của xã hội càng ngày càng gần nhau hơn, những khoảng trống của không gian thu nhỏ lại nhờ vào kỹ thuật hiện đại.”
Và Văn Hóa Online là để “đáp ứng nhu cầu nối kết thông tin, phục vụ độc giả và cộng đồng.” (Đ.B.)

Đại học Cal State LA đóng cửa sau khi bị dọa đặt bom


LOS ANGELES – Đại học Cal State Los Angeles được lệnh phải di tản sau khi có lời đe dọa đặt bom vào hôm Thứ Năm, theo tin báo LA Times.









Cal State Los Angeles nhìn từ trên cao.


Mike Uhlenkamp, giám đốc phòng quan hệ báo chí của Cal State LA xác nhận trường sẽ tạm đóng cửa cho đến khi có thông cáo mới.


Không có thêm chi tiết nào khác ngoại trừ nhà trường có gửi đi hai thông điệp trên mạng xã hội lúc 12 giờ 45 trưa, loan báo việc đóng cửa.


Bản văn thứ nhất nói: “Vì lí do thận trọng, CSULA phải tạm đóng cửa lúc trưa ngày 18 Tháng Tư. Những ai đang có mặt xin yêu cầu ra khỏi trường ngay.”


Bản văn thứ hai nói thêm: “Nhà trường buộc phải yêu cầu mọi người di tản vì lý do khẩn cấp. Lúc này chúng tôi chưa có thêm thông tin nào khác.”


AP trích lời của phát ngôn viên cảnh sát LAPD cho biết, CSULA nhận được cú điện thoại nói rằng trong trường đang có một trái bom nhưng không cho biết ở đâu.


CSULA nằm về phía Đông thành phố Los Angeles. Trường có chừng 20,000 sinh viên nhưng hầu hết học bán thời gian. (TP)

Trí thức và độc tài

 

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Ðọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Ðông, Pol Pot, Nicolae Ceaucescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài quân phiệt với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe… chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceaucescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians,” một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Ðông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm phó thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu,” một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học,” kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế.

Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế.” Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema.” Saparmurat Niyazov, tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.

Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:

Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.

Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.

Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?

Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Ðông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Ðạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức, một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trọng nhất” trong cuộc đời của ông.

Trước đó, ở Ý, Gabriele D’Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Mussolini. Ở Ðức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Heidegger; một trong những họa sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali; một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Hitler.

Ðối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm. Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v… cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Ðông.
Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống Cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Xô Viết xâm lăng Hungary vào Tháng Mười Một năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt.

Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Xô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “Mùa Xuân Prague.” Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt. Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?

Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và trí thức ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hóa, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán.

Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Ðó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.

Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số trí thức Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hòa giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)

Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?

Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Ðó là: Thông minh, lương thiện và cộng sản.
Một người thông minh và lương thiện thì không thể cộng sản,
Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện.
Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.

Ðành dùng chúng thay cho lời kết luận của bài viết.

Khu Rừng Lau (Kỳ 135)

Kỳ 135


Kha vẫn giữ khuôn mặt bình tĩnh và giọng nói điềm đạm trả lời cô câu này, bổ khuyết câu khác hoặc thân ái gạt đi khi cô trở lại chuyện quy lỗi về cô vì đã không biết tới đón. Giọng nói của cô không hề làm xao động cái yên tĩnh của xóm quê, trái lại giọng nói sang sảng đó như biến thành một dòng âm thanh đơn độc để trang trí cho cái yên lặng đơn giản thơ ngây của cả vùng.

Ông bà Hạo cũng đã hay tin và hớt hải tự ngoài đồng về, tuy nhiên câu chuyện hàn huyên giữa Kha với chú thím trầm tĩnh hơn nhiều. Cô Hĩm đã nhanh nhảu vào bếp đặt nồi nước sôi, bắt gà, cắt tiết, làm lông…

Kha hỏi thăm chồng con cô Hĩm thì được cô cho hay anh có chân trong ban chấp hành liên đoàn công chức Sở Thủy Lâm, Chủ Nhật này anh phải ra sở từ sớm để họp, chắc rồi vui anh vui em ở lại luôn đến chiều mới về. Lại thêm một dịp cô Hĩm tỏ lời ân hận vì “nếu biết bác giáo về chơi thì chẳng họp dừng hành, nhà em nhất định phải ở nhà chứ!”

Mâm cơm gia đình hôm đó ăn muộn có đúng bốn người: ông bà Hạo, Kha và cô Hĩm. Ăn cơm xong vừa hai giờ chiều. Kha không sang thăm Thi vì bà Hạo cho biết Thi đã ra Hà Nội từ sớm. Ðáng tiếc cho cả hai!

Bốn giờ chiều, nắng hanh vàng mùa Thu phơi phới, Kha không ngớt cảm thấy mình ngợp trong hương quê và tình quê như con cá nhỏ sau một thời gian phiêu lưu bỗng tìm thấy đường trở về vịnh sông quen thuộc. Dẫu sao Kha cũng phải ra Hà Nội sớm, hai xấp bài học trò chưa chấm còn đợi chàng ngoài đó. Tạm biệt chú thím, ra gần tới bến xe điện, Kha còn ngoái lại một lần nữa nhìn cổng làng với cây si, với lũy tre, với cánh đồng xanh lúa bao quanh và Kha chợt cảm thấy cơ thể tràn ứ nhựa sống, tâm hồn sáng lộng một niềm tin. Chàng kiêu hãnh vô cùng về tình quê đó, chàng thấy mình đúng là một thân cây có rễ bắt sâu xuống lòng đất mát rượi và phì nhiêu, mặc sức hút mầu lên nuôi thân vững chắc, nuôi lá xanh rờn, nuôi hoa kết trái.


Chương bốn
Ông chủ báo


I


Thật ra kể từ ngày bỏ “ngoài kia” vào thành một tháng sau, Kha và Hiển đều nhìn thấu thực trạng (cũng như Hãng trước đây). Trong cuộc sống mấy ai chịu dời bỏ hy vọng, nhưng ba chàng đều ngầm cảm thấy hy vọng quả là hết sức mong manh, họ luôn luôn ở thế xoay lưng không dám nhìn vào thực trạng tuyệt vọng của xã hội. Ngày đó – chưa về làng – Kha cứ phải luôn luôn nghĩ đến cảm tình của chàng với Miên, ôn lại tình yêu cũ của chàng với Vân, rồi ao ước muốn được gặp Thi để xem người con gái yếu đuối về thần kinh ấy ngày nay khác xưa thế nào… Tất cả những ý nghĩ đó, Kha cố tình làm cho ra vẻ bận rộn để khỏi nhìn xuống vực thẳm mà chàng cùng một số bạn thân đã bị tình thế xô tới đứng chênh vênh ngay trên bờ.

Từ sau ngày về làng, chứng kiến sự tàn phá của chiến tranh trên cảnh vật và nhất là trên những tâm hồn thuần phác của quê hương, tình cảm Kha bỗng chồm lên như con thú dữ bị thương. Với sự lồng lộn đó, Kha vừa chống đối với hoàn cảnh, vừa chống đối với chính mình (chống đối vì cái gì, chính chàng cũng chẳng cần soi mói cho rõ) những mong tìm được một lối thoát. Nhưng rồi sinh lực và niềm tin thâu nhận được tự quê nhà sớm tản mát mất hút sau máy ngày trở lại Hà Nội, chẳng khác một cụm bọt xà phòng lớn thoạt rơi trên mặt nước rồi lăn tăn… lăn tăn… tụt dần xuống, thu nhỏ lại cho đến khi tan biến hẳn vào khối nước lạnh lùng, lạnh lùng như định mệnh. Ôi cuộc đời phơi mặt nơi đây có biết bao điều ghê tởm: những bộ mặt chính khách được treo đèn kết hoa đón rước, nhưng lũ hình nộm được thực dân bôi mặt vẽ hề đó, chúng có xương đâu mà đứng vững, có hồn đâu mà thương dân; những khuôn mặt lọc lừa của lũ con buôn đô thành, lũ gà què ăn lần cối xay, bốn bề là khói lửa; những hình ảnh lam lũ của lũ người dời bỏ miền quê xa xôi, tìm tới ánh sáng kinh thành, bám lấy cuộc sống chênh vênh, những khuôn mặt gái quê rũ vẻ chân phương sớm thành bệ rạc vì cam chọn đường bán trôn nuôi miệng.

Không còn dối mình được nữa, nhìn vào đâu Kha cũng chỉ thấy những đổ vỡ, cái gì còn tạm đứng được đều là đứng một cách lủng liểng, cô độc, mỏng manh tạm bợ, giá trị không bằng con chó rơm. Cả guồng máy chính quyền bù nhìn tại thủ đô là hình ảnh một người khuôn mặt thì hủi, tai điếc, mắt thông manh, chân tay hậu đậu, phổi ruỗng nát, tim sưng, mạch máu hết co giãn, ruột ung thư… Ban ngày đi vào sự ồn ào của thành phố mà là đi vào sa mạc của tâm hồn. Ðêm đến nghe tiếng súng ầm ì vọng lại tự các miền ngoại ô hay tự bên kia bờ sông, mỗi tiếng súng bùng lên như một cái gì rứt đi tự trái tim để rồi rồi mạnh trở lại tàn phá chính xuất phát điểm đó.

Dân Á Châu đổ xô đi mua vàng do giá xuống thấp kỷ lục

 


NEW YORK (Reuters)Giá vàng trên thị trường thế giới $1,388 một troy ounce hôm Thứ Năm đang là giá thấp nhất kể từ tháng 7 năm 2011.










Khách mua hàng đông đảo đứng chờ tại cửa hàng Hua Seng Heng Gold Shop tại khu Phố Tầu thành phố Bangkok, Thái Lan, hôm Thứ Năm. (Hình: Dario Pignatelli/Bloomberg via Getty Images)


Hiện tượng vàng rớt giá được coi là do ảnh hưởng từ kế hoạch bán vàng dự trữ của Cyprus để trả nợ ngân khoản cứu nguy mà Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu đã trợ giúp cho đảo quốc này.

Vàng lên giá cao nhất vào tháng 11 năm 2011, $1920.30 một troy ounce. Theo dự đoán, cơn biến động giá vàng sẽ còn tiếp tục ít nhất là trong một thời gian nữa.










Một cửa hàng vàng ở Hà Nội hôm Thứ Tư. (Hình:HoangDinhNam/AFP/GettyImages)


Tại Việt Nam, mặc dầu giá vàng không luôn luôn lên xuống cùng chiều với thế giới nhưng một lượng vàng cũng đã xuống tới giá gần 40 triệu. Hôm Thứ Năm một lượng vàng SJC giá mua vào tại Sài Gòn 40.950 triệu đồng, bán ra 41.380 triệu đồng. Tình trạng tương tự tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, và đã tăng lên chút ít so với hôm Thứ Tư.

Tại các nước trong vùng Á Châu –  Thái Bình Dương, từ Mumbai-Ấn Độ, Bangkok-Thái Lan đến Pert-Australia, giá vàng xuống thấp kỷ lục đã thu hút đông đảo khách mua đến các tiệm vàng và nữ trang. (HC)

Công ty Nga khai thác dầu khí Nam Côn Sơn


MOSCOW 18-4 (NV) –
Đại công ty năng lượng Gazprom của Nga dự tính bắt đầu sản xuất khí đốt từ ngòai khơi biển Việt Nam từ Tháng Sáu tới đây, theo hãng tin Ria Novosti hôm Thứ Năm.


Bản đồ các lô dầu khí Việt Nam trên Biển Đông tại các khu vực Nam Côn Sơn và Tư Chính Vũng Mây. Đường vạch đứt đoạn bắc nam trên bản đồ là “Lưỡi Bò” ngang ngược tuyên bố chủ quyền của Trung quốc. (Hình: tài liệu của các ông Lê Minh Phiếu và Dương Danh Hy)


Nguồn tin thuật lời loan báo của ông Vitaly Markelov, phó tổng giám đốc điều hành công ty Gazprom như vậy và cho biết trong năm 2012, công ty này đã mua lại quyền dò tìm và khai thác tại hai lô 05-2 và 05-3 thuộc khu vực bồn trũng Nam Côn Sơn của Việt Nam.

Tại khu vực này, Việt Nam đã có nhiều mỏ dầu và khí đốt khai thác từ nhiều năm qua.

Hai mỏ khí đốt hóa lỏng đã mở tại hai lô vừa nói có tên là Mộc Tinh và Hải Thạch với trữ lượng ước tính khoảng 55.6 tỉ mét khối khí đốt và 25 triệu mét khối khí hóa lỏng.

Hai lô 05-2 và 05-3 cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 320 km.

Công ty Nga dự trù khoan 16 giếng ở độ sâu từ 2,000 mét đến 4,600 mét để khai thác. Các lô này nằm trên đường “Lưỡi Bò” mà Trung quốc ngang ngược vẽ vạch để đòi chủ quyền gần hết Biển Đông, lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế của các nước trong khu vực.

Tháng Tư năm ngoái, Gazprom mua lại các cổ phần mà công ty Anh quốc BP (British Petroleum) đã phải hủy bỏ vì áp lực từ Trung Quốc.

Năm 2007, BP bị áp lực của Bắc Kinh ngưng họat động tại các mỏ Hải Thạch và Mộc Tinh với số vốn đầu tư 2 tỉ USD nhưng đến năm 2009 mới chính thức rút lui. BP từng có hợp đồng giữ 75.9% cổ phần tại mỏ Hải Thạch.

Việt Nam nhiều lần tuyên bố các vùng biển phân lô dầu khí để dò tìm và khai thác trên thềm lục địa là hoàn toàn thuộc chủ quyền chính đáng của nước mình, theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS).

Khi công ty Nga Gazprom ký hợp đồng với tập đoàn dầu khí quốc doanh Petro Việt Nam, Bắc Kinh cũng đã lên tiếng phản đối, đồng thời nói “đã có biện pháp ngăn chặn.”

Ngày 11 tháng Tư, 2012, báo đảng Cộng sản Trung quốc dẫn lời Đặng Trọng Hoa, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Biên Giới và Hải Dương Trung Quốc, nói: “Chúng tôi đã chính thức phản đối và có biện pháp ngăn chặn các hành động bất hợp pháp này.”

Tại Hà Nội, phát ngôn viên Bộ Ngọai Giao CSVN nói với báo chí ngày: “Các dự án hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí hiện nay, bao gồm cả các dự án hợp tác với Gazprom, đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.”

Ông Nghị nói thêm rằng “Việt Nam hoan nghênh đối tác nước ngoài hợp tác với các đối tác Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, trên cơ sở luật pháp Việt Nam. Việt Nam cam kết và có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của các đối tác nước ngoài làm ăn với Việt Nam.”

Gazprom cũng là tập đoàn quốc doanh lớn của nước Nga. Liệu áp lực của Bắc Kinh ép được Gazprom hay không nếu đụng phải những thành phần không dễ ép.(TN)

Bà Quả Phụ Vũ Văn Ũớc

Bà Quả Phụ Nguyễn Bá Trấn

Ông Hoàng Hữu Hương

Ông Phêrô Đỗ Khắc Đằng

Bà Nguyễn Ngọc Đại

Bà Nguyễn Ngọc Đại

Mưa lớn gây ngập lụt khắp Chicago

 


CHICAGO (AP)Những trận mưa lớn trút xuống một lương nước 5 inches  hay 125 mm trong hai ngày vừa qua đã gây lụt  lội nặng trên khắp các khu vực  của thành phố Chicago.









Các xe chạy qua đoạn ngập nước khi từ xa lộ Kennedy Expressway xuống đường phố Chicago. (Hình: Scott Olson/Getty Images)
Ít nhất 3 xa lộ bị đóng, ở hai phi cảng chính trên 300 chuyến bay phải hủy bỏ và nhiều trường cho nghỉ học . Sáng Thứ Năm, một số xa lộ đã được phép lưu thông trở lại nhưng lại có những đường khác bị đóng. Những người đi làm buổi sáng có thể mất tới hai tiếng đồng hồ mới đến địa điểm.

Nước lụt dọc hai bên bờ sông Chicago River và khu vực thấp đã làm gián đoạn giao thông ở xa lộ phía bắc thành phố. Trên một số đường phố nước ngập cao ngang mui xe,

Cơ quan vận tải công cộng phải cho chuyển đổi nhiều tuyến đường xe bus và yêu cầu hành khách tìm xem lộ trình trên các mạng xã hội.

Mặc dầu có tin tức về một vài tai nạn giao thông nhưng tất cả đều nhẹ và cho đến nay chưa thấy có báo cáo thương vong. 


Dự báo khí tượng cho biết với thời tiết ấm áp hơn bình thường vào lúc này, dự đoán mưa sẽ còn kéo dài ít nhất tới đêm Thứ Năm và như vậy tình trạng ngập lụt có thể nặng nề thêm. (HC)

Chiến hạm Mỹ thường trực ở Đông Nam Á đến Singapore

 


SINGAPORE (Reuters)Chiến hạm hải quân Mỹ USS Freedom vào bến  quân cảng Changi của Singapore sáng Thứ Năm 18 tháng 4, khởi đầu nhiệm kỳ đồn trú thường trực ở Đông Nam Á từ 8 đến 10 tháng.









Chiến hạm USS Freedom (LCS-1) đến cảng Singapore. (Hình: US Navy)



Đây là một dấu mốc cụ thể trong chiến lược chuyển hướng quân sự về châu Á của chính quyền Obama. Đại sứ Hoa Kỳ David Adelman và đại tá Timothy Lo tư lệnh hải quân Singapore ra đón chiến hạm với thủy thủ đoàn 91 người tại  bến cảng. Singapore đã đồng ý để cho hạm đội 7 Hoa Kỳ luân phiên. đồn trú 4 chiến hạm, góp phần cho việc duy trì an ninh và tự do hàng hải trong vùng Biển Đông và Đông Ấn Độ Dương.

Trong thời gian phục vụ ở Singapore, chiến hạm USS Freedom sẽ có nhiều chuyến thăm viếng đến các quốc gia ASEAN và như vậy có nghĩa là sẽ thường xuyên hoạt động ở vùng Biên Đông.

Chiến hạm USS Freedom rời căn cứ hải quân San Diego ngày 1 tháng 3, và đã thực hiện nhiều  cuộc huấn luyện và thực tập trên đường đi dài 8,300 hải lý,  ghé qua Hawaii, Guam, Manila.

Thuộc thế hệ chiến hạm mới của Hải Quân Hoa Kỳ, USS Freedom (LCS-1) do hãng Lockheed Martin Corp. chế tạo, là chiếc đầu tiên trong loại Littoral Combat Ship nghĩa là tàu tác chiến duyên hải, với  sứ mạng linh hoạt bao gồm hải chiến gần bờ, chống tàu ngầm và săn diệt mìn cũng như công tác cứu trợ nhân đạo.

Chiến hạm USS Freedom chiều dài 115 mét,  lượng rẽ nước 3,000 tấn, vận tốc trên 40 hải lý/giờ và mang theo một trực thăng Sikorsky MH-60 ‘Romeo’ trên sàn phía đuôi tàu 

Hải Quân Hoa Kỳ có kế hoạch đặt mua tới 52 chiếc LCS trị giá $30 tỷ trong những năm tới, nhưng sẽ còn phải tùy thuộc vào vấn đề ngân sách. Trong tài khóa 2014, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ dự trù $2.4 tỷ để mua thêm 4 chiếc LCS mới. (HC).

Nổ lớn tại nhà máy phân bón ở Texas, hàng chục người chết

WACO, Texas (KWTX) – Một vụ nổ lớn ở một nhà máy phân bón tại Waco, Texas, tối Thứ Tư làm thiệt mạng hàng chục người và làm bị thương nhiều người khác, theo đài truyền hình KWTX dẫn lời giới chức y tế địa phương.









Các nạn nhân đang được chuyển ra khỏi hiện trường. (Hình: AP Photo / Waco Tribune Herald, Rod Aydelotte)


Theo KWTX, tính đến 8 giờ 30 phút tối, giờ California, Bác Sĩ George Smith, giám đốc Trung tâm cấp cứu West EMS. cho biết “có 60-70 người chết và hàng trăm người bị thương” sau tiếng nổ lớn xảy ra tại một nhà máy phân bón bốc cháy ở phía Tây Bắc của Waco vào đêm Thứ Tư.


Các toán cấp cứu từ khắp miền Trung Texas được phái đến tiếp cứu.


Trước đó, nhân viên cứu hỏa khu phía Tây được phái đến nhà máy này vào buổi tối sau khi ngọn lửa bắt đầu nhen nhúm.


Theo báo cáo, vụ nổ xảy ra vào khoảng 7 giờ 50 phút, tại nhà máy phân bón phía Tây Waco, gần xa lộ Interstate 35.


Báo cáo cho biết nhiều người bị thương và nhiều xe cứu thương được phái đến.


Một số tòa nhà bị phá hủy và một nhà dưỡng lão gần đó bị hư hại.


Có báo cáo nói rằng nhiều người bị mắc kẹt trong nhà dưỡng lão và trong một khu apartment.


Thông tin cho biết một số cư dân ở nhà dưỡng lão và khu apartment bị thương nặng.


Theo báo cáo từ hiện trường, trong số những nạn nhân có cả trẻ em.


Hai trẻ em được báo cáo là bị mắc kẹt trên tầng hai của khu chung cư bị hư hại.


Sở cảnh sátchuyên chở một số nạn nhân đến bệnh viện bằng xe tuần tra, theo bà Gayle Scarbrough, tại Trung tâm Truyền thông DPS ở Waco, cho biết.


Một khu vực tiếp nhận được thành lập tại giao lộ của đường Haven và N. Reagan, nhưng sau đó được chuyển đến đường Marable và Meadow Drive vì có thể có khói độc phát ra từ đám cháy.


Sáu máy bay trực thăng trên đường đến phía Tây và hạ cánh tại sân bóng chày trên đường Tokio Road, phía Nam của thành phố, cũng theo bà Gayle Scarbrough.


Một báo cáo khác cho thấy có đến hàng chục máy bay trực thăng được gởi đến.


Một số tòa nhà được báo cáo đang cháy, một số trong các khu dân cư và di tản diễn ra.


Chính quyền đi kiểm tra từng nhà trong khu vực.


Trường West Middle School là một trong những tòa nhà được báo cáo là bị cháy.


Nạn nhân bị thương được đưa đến bệnh viện khu vực.


Vụ nổ làm cho một khu vực rộng lớn bị mất điện.


Trang web Oncor cho thấy hơn một ngàn khách hàng bị mất điện.


Xa lộ Interstate 35 vẫn mở cửa, nhưng một số xe cấp cứu đang chạy trên quốc lộ hướng về phía Tây và từ phía Tây sang bệnh viện.


Hầu như tất cả các đội cứu hỏa trong khu vực đều có mặt tại hiện trường.


Nhân viên cứu hỏa Waco là có mặt đầu tiên.


Sở Cứu Hỏa Killeen gởi 10 nhân viên cứu hỏa để hỗ trợ.


Một người phụ nữ đi về phía Tây trên xa lộ Interstate 35 tại thời điểm vụ nổ cho biết, cô và bạn trai của cô nhìn thấy một quả cầu lửa rộng 100 feet bốc lên trời.


Một người đàn ông sống 15 dặm về phía Tây Bắc của Hillsboro cảm thấy chấn động từ vụ nổ.


Nhiều cư dân trong vùng cũng cảm được chấn động của vụ nổ và gởi thông tin cho nhau qua email.


Sự kiện này xảy ra trong lúc giới chức an ninh liên bang vẫn chưa tìm ra thủ phạm hai vụ nổ bom ở Boston hôm Thứ Hai làm ba người thiệt mạng và hơn 150 người bị thương. (L.N.)

Johnson & Johnson thắng vụ kiện thay khớp xương hông

CHICAGO (Reuters) – Một bồi thẩm đoàn ở Illinois hôm Thứ Ba ra quyết định cho công ty Johnson & Johnson (J&J) chiến thắng trong vụ kiện về thay khớp xương hông (hip-implant).



Đây là vụ thứ nhì về trách nhiệm sản phẩm trong gần 11,000 đơn kiện công ty sau khi J&J phải loan báo thu hồi sản phẩm khớp xương hông nhân tạo “ASR Metal Hip Implant”.




Kết quả vụ kiện này ngược hẳn với vụ kiện trước đó ở Los Angeles, nơi một bồi thẩm đòan khác ra lệnh cho J&J phải bồi thường hơn $8 triệu thiệt hại cho nguyên đơn Loren Kransky vì sản phẩm ASR có trở ngại kỹ thuật.




Tuy việc tranh tụng liên quan đến hông làm bằng kim loại có thể rất tốn kém, một số phân tích gia tài chánh cho rằng J&J, một trong những công ty cung cấp sản phẩm y tế lớn nhất thế giới với thương vụ hàng năm lên tới khoảng $70 tỉ, vẫn có đủ khả năng để chi trả.




Bồi thẩm đoàn ở Illinois bác bỏ đơn đòi bồi thường của Carol Strum, một nữ điều dưỡng, người cho rằng bộ khớp xương hông ASR của bà có vấn đề. Bà Strum gắn bộ này năm 2008 và phải giải phẫu lấy ra năm 2011.




Khoảng 93,000 bộ ASR được bán ra trên khắp thế giới và J&J cho hay đến nay họ bị 10,750 người kiện. (V.Giang)



TLS Lê Thành Ân vận động làm đại sứ Mỹ tại Việt Nam

 


SÀI GÒN, Việt Nam (NV)Ông Lê Thành Ân, tổng lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn, đang có một cuộc vận động để trở thành đại sứ Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Việt Nam, theo một bài báo có tựa đề “How (Not) to Become a U.S. Ambassador,” của tác giả Greg Rushford, đăng trên trang web The Rushford Report, một tờ báo mạng chuyên về chính trị trong tài chánh và thương mại quốc tế, hôm 15 Tháng Tư.










Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân (phải) và cựu Thiếu Tá VNCH Nguyễn Đạc Thành, chủ tịch VAF, trong một lần  thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà mới đây. (Hình: VAF)


Sau khi đưa ra hai cách “truyền thống” mà tổng thống Hoa Kỳ thường chọn người để đề cử làm đại sứ ở một quốc gia nào đó, tác giả cho rằng những gì Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân và những người ủng hộ ông, đa số là người Mỹ gốc Việt, đang làm là “sự cả gan trơ tráo kiểu Châu Á” (Asian-style chutzpah).

Theo tác giả, thông thường, tổng thống chọn nhân viên ngoại giao chuyên nghiệp hoặc người quen (bạn bè, người ủng hộ tài chánh, người nổi tiếng, người có thể tạo vốn chính trị cho tổng thống…) làm đại sứ, và cho rằng ông Ân “không nằm trong hai trường hợp truyền thống này.”

Cũng theo tác giả, trong danh sách hơn 70 người ủng hộ và vận động cho ông Ân làm đại sứ, có một số nhân vật rất quan trọng. Ðứng đầu danh sách này là Thị Trưởng Rahm Emanuel của Chicago, một người từng là dân biểu liên bang trước khi trở thành chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc trong nhiệm kỳ đầu của Tổng Thống Barack Obama.

Nhưng hai người trực tiếp vận động cho ông Ân là doanh gia David Dương, chủ nhân công ty California Waste Solutions ở Oakland, California, và Bác Sĩ Bùi Duy Tâm, cư dân San Francisco, theo tác giả, và cuộc vận động bắt đầu từ Tháng Bảy năm ngoái.

Tác giả cho biết có tìm mọi cách phỏng vấn tất cả những người liên quan, nhưng chỉ có một người trả lời, và chỉ giải thích tại sao ủng hộ ông Lê Thành Ân. Ðó là ông Trương Ngọc Phương, giám đốc điều hành International Service Center ở Harrisburg, Pennsylvania, một tổ chức bất vụ lợi giúp người tị nạn và nạn nhân bão lụt.

Tác giả kể rằng, qua những email mà ông có được, người vận động mạnh mẽ nhất cho ông Ân là doanh gia David Dương, trực tiếp với Tổng Thống Obama trong lần gây quỹ mới đây nhất, vào ngày 3 Tháng Tư tại San Francisco.
Ông David Dương là người từng ủng hộ hơn $150,000 cho ông Obama và đảng Dân Chủ kể từ năm 2008, tác giả dựa theo báo cáo của Center for Responsive Politics.

Qua các email trao đổi giữa ông Ân và ông David, mà tác giả cho biết có đọc được, vị doanh gia gốc Việt có cho vị tổng lãnh sự biết ông đã nói chuyện thẳng với ông Obama tại một cuộc gây quỹ ở California hồi đầu tháng và nói rằng ông Ân có đủ khả năng làm đại sứ tại Việt Nam.

Cũng theo tác giả, tại buổi gây quỹ này, ông David Dương đã đưa cho tổng thống một lá thư, cùng với một danh sách có tên hơn 70 người ủng hộ ông Lê Thành Ân làm nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ ở Hà Nội. Tác giả có đăng danh sách này ngay dưới bài viết.

Một ngày sau, theo tác giả, ông David Dương viết email báo cho ông Ân biết đã gặp tổng thống lần thứ nhì.
“Tôi có ăn sáng với tổng thống và 27 người khác sáng nay, và tôi có nói về ông và lá thư tôi đưa tổng thống tối hôm trước,” tác giả Greg Rushford trích email của ông David Dương cho biết như vậy.

Rồi ông David Dương cho ông Ân biết tổng thống đáp lại một cách thân thiện, theo tác giả Greg Rushford viết, và ông trích lời ông David thuật lời tổng thống nói như sau: “Chúng ta cần phải làm việc thêm và có hai dân biểu hoặc hai thượng nghị sĩ đề cử. Nếu được như vậy, chắc chắn anh (Lê Thành Ân) sẽ vào được (chức đại sứ).”

Tác giả cũng viết rằng khi về Mỹ nghỉ phép, Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân có ghé nhà Bác Sĩ Bùi Duy Tâm.
Qua các trao đổi bằng email, tác giả còn cho rằng ông Lê Thành Ân không chỉ ngồi khoanh tay quan sát ông David Dương và Bác Sĩ Bùi Duy Tâm “làm cho ông trở thành một ứng cử viên.”

“Ông Ân có tham gia hiệu đính và viết nháp một số thư ủng hộ sự đề cử của cá nhân ông,” tác giả Greg Rushford viết trong bài báo. Tác giả còn viết rằng trước khi ông David Dương đưa lá thư cho Tổng Thống Obama vào ngày 3 Tháng Tư, chính ông Ân có sửa một lỗi chính tả trong đó và email, qua một iPad, cảm ơn ông David Dương.
Không chỉ ông David Dương và Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân không trả lời nhiều email của tác giả gởi tới, Tòa Bạch Ốc và thị trưởng Chicago cũng vậy, tác giả cho biết.

Trong bài viết khá dài, tác giả viết nhiều về ông David Dương hơn là ông Lê Thành Ân.

Ngoài ra, tác giả còn so sánh ông Ân với các đại sứ Mỹ hiện tại và quá khứ ở Việt Nam.

Tác giả nêu ra ba ông Michael Michalak, Michael Marine và Raymond Burghardt, và cho rằng họ đều là ba nhà ngoại giao chuyên nghiệp, lâu năm, và cấp cao. Ðại sứ hiện tại, ông David Shear, cũng vậy. Riêng đại sứ đầu tiên tại Hà Nội, cựu Dân Biểu Douglas “Pete” Peterson, không phải là nhà ngoại giao, “nhưng là một lựa chọn tuyệt vời, được sự ủng hộ mạnh mẽ của Quốc Hội, và là cựu tù binh chiến tranh Việt Nam.”

Tác giả trích email của ông Trương Ngọc Phương cho biết lý do ủng hộ ông Ân như sau: “Chúng tôi là một nhóm đại diện cho cộng đồng và doanh nghiệp, vô tình biết ông Ân đạt được thành tích trở thành tổng lãnh sự Mỹ. Ngoài sự nể phục ông Ân và sự kính trọng vị đại sứ hiện tại, ông David Shear, chúng tôi quyết định tổ chức một cuộc vận động kín đáo để ông Ân làm đại sứ.”

Tác giả Greg Rushford cũng cho biết ông Trương Ngọc Phương nghĩ rằng ông Lê Thành Ân, một người Mỹ gốc Việt, có thể giống như ông Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa, hiện là đại sứ Mỹ tại Trung Quốc.

Nhưng tác giả cho rằng ông Locke vượt trội hơn ông Ân vì “từng là thống đốc tiểu bang Washington và từng là bộ trưởng thương mại.”

Tác giả cũng cho rằng rất khó để ông Ân trở thành đại sứ tại Hà Nội vì ông “không thể đấu tranh cho nhân quyền cho Việt Nam, một điều mà cộng đồng Việt Nam hải ngoại mong đợi” và “Việt Nam sẽ không cho phép ông vận động cho đề tài này.”

Tác giả cũng so sánh ông Ân với một số nhà ngoại giao khác của Mỹ và cho rằng ông Ân chỉ có kinh nghiệm hành chánh chứ không có kinh nghiệm ngoại giao.

Ông cũng nêu trường hợp bà Caroline Kennedy, con gái cố Tổng Thống John Kennedy, dù chưa bao giờ nắm chức vụ gì, nhưng sẽ thay thế ông John Roos làm đại sứ tại Nhật trong thời gian tới. Trước đó, ông Roos ủng hộ cuộc tranh cử của ông Obama tới $500,000.

Tác giả cho rằng chức đại sứ Hoa Kỳ không nên được dùng để mua bán, mặc dù trên thực tế không phải như vậy.
“Nhưng vận động cho một người làm đại sứ ngay tại buổi tiệc gây quỹ là điều không nên,” tác giả kết luận, đồng thời dự đoán rằng ông Ân sẽ không được làm đại sứ tại Hà Nội. (Ð.D.)

‘Yên bình ở Myanmar tùy thuộc vào an ninh’

 



TOKYO (AP) – Bạo động giữa các nhóm sắc tộc và tôn giáo đang đe dọa tiến trình cải cách hãy còn non yếu ở Myanmar phải được ngăn chặn bằng cách đảm bảo có “pháp quyền” để các nhóm với khuynh hướng đối chọi nhau cảm thấy an toàn đủ để thương thảo, theo nhà lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi cho hay hôm Thứ Tư.









Bà Aung San Suu Kyi đang có chuyến thăm Nhật Bản. (Hình: KENICHIRO SEKI/AFP/Getty Images)


Bà Aung San Suu Kyi, người từng đoạt giải Nobel Hòa Bình, hiện đang viếng thăm Nhật, cho hay bà chống lại mọi hình thức bạo động “do bất cứ ai nhắm vào bất cứ kẻ nào” và các cuộc đụng độ giữa tín đồ Phật Giáo cùng Hồi Giáo đang đe dọa tiến trình đi tới dân chủ và phát triển của Myanmar.


“Từ trước đến nay chưa có bao giờ chúng tôi có được yên bình thật sự trên đất nước mình,” bà Suu Kyi tuyên bố với báo chí tại Tokyo. “Chúng tôi tin tưởng rằng sẽ đạt được thành quả kinh tế, nhưng nếu không có hòa bình và đoàn kết chúng tôi sẽ không thể có được thành quả kinh tế bền vững.”


Các nhóm tranh đấu cho nhân quyền và một đặc sứ Liên Hiệp Quốc đã chỉ trích chính phủ Myanmar là đã không ngăn chặn được các cuộc tấn công nhắm vào thành phần thiểu số Hồi Giáo tại quốc gia với đa số dân theo Phật Giáo này. Các cuộc bạo động về tôn giáo ở vùng Rakhine đã làm hàng trăm người thiệt mạng và khiến khoảng hơn 100,000  người Hồi Giáo gốc Rohingya phải rời bỏ nhà cửa đi lánh nạn.


Về lãnh vực viện trợ, bà Suu Kyi nói rằng tuy viện trợ từ Nhật và các quốc gia khác rất cần thiết cho Myanmar, bà đề nghị các quốc gia này nên chú trọng đến những gì thật sự cần thíêt vì viện trợ nhiều cũng chưa hẳn là tốt.


“Tôi hy vọng rằng viện trợ cho đất nước sẽ được thực hiện với sự chú trọng vào quyền lợi của người dân, thay vì chính quyền,” bà cho hay(V.Giang)


 

Bà QP Vũ Văn Ũớc

Bà Quả Phụ Vũ Văn Ũớc

Tin mới cập nhật