
Many Vietnamese children either underweight or obese, lack vitamins
Wire Reports
More
than half of children in Viet Nam lack basic vitamins and iron while
many are either under- or overweight, a new survey said, blaming the
nation’s strange nutritional situation on parents’ skewed
priorities.
The
children suffer a deficiency in vitamins A, B1, C, and D and iron and
every one in three or four of them are in “unusual nutrition
status,” according to the survey conducted by the Health
Ministry’s National Nutrution Institute in Vietnam, Malaysia,
Indonesia and Thailand, according to media reports.

A
student girl is given vitamin drops. Photo courtesy of Tuoi Tre.
Conducted
between 2010 and 2012 on 16,744 children from 6 months to 12 years
old, including 2,880 in Viet Nam, the survey found Viet Nam had the
worst nutrition figures among the four countries.
Le
Nguyen Bao Khanh from the institute said the survey gave Viet Nam a
chance to compare its nutritional situation with nearby countries
considering socio-economic situation, exercise and eating habits, as
well as children’s diets including their levels of vitamins, calcium,
and their development.
Experts
called Viet Nam’s a “double nutrition problem.”
The
survey found more children in rural areas are underweight, at a rate
of 20.8 percent, while the rate in the city was 10.8 percent.
Obese
children in cities were found at a rate five times that of the rural
rate – 29 percent to 5.5 percent.
Nearly
half of boys and more than 58 percent of girls in cities lack vitamin
D; so do 47 percent of children in rural areas, while the rates of
children with iron deficiencies varied in ages and peaked at those
between 6 months old and 2 years old – 25.9 percent in cities and
54.3 percent in rural areas.
Khanh
said many parents still have unhealthy childrearing habits, such as
keeping children in dark rooms and depriving them of vitamin D while
giving them the risk of suffering rickets and weak, poor skin.
She
said 20 percent of vitamin D in the body comes from meals and the
rest from sunlight. “We need to warn mothers of their child-care
measures. Many keep their children indoors during the first year,
especially the first three months. It’s not a good habit.”
Children
born in wealthier families meanwhile have the tendency to be
overweight, she said, adding that breast milk during early life helps
prevent obesity.
Ngọn hải đăng nào trong tiểu thuyết của Tuấn Huy?
Du Tử Lê
(Tiếp theo kỳ trước)
Về phương diện văn chương, có người cho rằng Tuấn Huy/Nguyễn Năng Toàn là nhà văn viết dễ dàng… Theo tôi, kết luận này không phải là câu trả lời thỏa đáng cho sự thành công của họ Nguyễn, căn cứ trên những tiểu thuyết ông đã cho xuất bản.
Nhà văn Tuấn Huy. (Hình: Nguyễn Viết Ðĩnh)

Ðọc kỹ truyện của Tuấn Huy, người đọc sẽ nhận ra rằng, chẳng phải khi không mà những người trẻ miền Nam một thời, rất ưa thích truyện của ông.
Nếu cần phải tìm cho ra một sự xuyên suốt những sáng tác của Tuấn Huy, hoặc chỉ danh ngọn hải đăng nào (?) soi, rọi dọc lộ trình nội dung tiểu thuyết Tuấn Huy – Từ “Nỗi Buồn Tuổi Trẻ,” qua tới những tác phẩm kế tiếp như “Ngày Vui Qua Mau,” “Yêu Trong Bóng Tối,” “Hương Cỏ May”… Theo tôi, có dễ đó là tính hoài nghi, cô đơn, mất định hướng của tuổi trẻ trong chiến tranh.
Tuổi trẻ miền Nam một thời, từng là nạn nhân và cũng là con tin tuyệt vọng, trực tiếp của cuộc chiến. Họ lớn lên, sống với hoài nghi và những câu hỏi không lời giải đáp, trong một thời thế đốn mạt. Một thời thế xâm thực mọi niềm tin! Tuổi trẻ không tìm thấy tia sáng hy vọng nào, ngoài chán nản, bất mãn…
Thác lời nhân vật Vĩnh, trong tiểu thuyết “Yêu Trong Bóng Tối,” Tuấn Huy viết:
…“ Vĩnh im lặng. Trong ký ức của anh thốt nhiên sống dậy những hình ảnh đen tối thê thảm. Anh nghĩ đến cuộc chiến tranh mà anh đã tham dự. Nghĩ đến những thân thể gầy còm vì thiếu cơm thiếu gạo. Nghĩ đến những ông già, những đứa trẻ, những người đàn bà; và ngay cả lớp thanh niên nam nữ cùng trang lứa với mình, đã phải sống một cuộc đời không đáng gọi là đời người nữa. Họ quằn quại, rên xiết dưới đủ mọi hình thức đàn áp, của cả bên kia lẫn bên này. Họ kéo dài những ngày tháng bi đát giữa hai mũi dùi,và nai lưng đón nhận những oán thù chồng chất…” (Tuấn Huy, “Yêu Trong Bóng Tối,” trang 181). (4)
Ở tư cách nhà văn, qua tiểu thuyết, Tuấn Huy còn ghi nhận tuổi trẻ thế hệ của ông bi thảm hơn nữa! Khi họ không chỉ bơ vơ, lạc lõng giữa cuồng lưu đời sống mà, họ cũng cô đơn, thất lạc ngay trong tổ ấm, nơi được gọi là gia đình của họ.
Qua nhân vật nữ, tên Kim, Tuấn Huy viết:
“…Nhưng chưa bao giờ em cảm thấy em khổ sở hơn. Má em cũng chẳng khi nào hiểu em nổi. Bà tưởng rằng em đã hư hỏng. Và những điều em nói với bà toàn là bịa đặt…” (5)
Vẫn theo ghi nhận của họ Nguyễn thì, sự hoài nghi không chỉ là những ngọn lửa thường trực bập bùng cháy phỏng thần trí những người trẻ, vốn không có được cho họ một điểm tựa tinh thần vững chắc. Mà, ngay cả nhân vật chính trong tiểu thuyết “Hương Cỏ May,” được tác giả giới thiệu là một Sư Huynh, cũng ngơ ngác, hoang mang không kém.
Nơi những dòng chữ đầu tiên của truyện, nhân vật này cũng đã cất tiếng hỏi, cũng đã tự tra vấn mình, vì những hoài nghi ngày một lớn cao, gập ghềnh trong cảm nhận sâu thẳm:
“…’Kính mừng Maria đầy ơn phước, đức Chúa Trời ở cùng Bà… ‘ Ðọc xong mười kinh kính mừng, người sư huynh vẫn quỳ. Anh cầu nguyện: ‘Lạy Chúa, xin Chúa giúp đỡ, để con vững tâm noi theo mãi mãi con đường thánh thiện của Người. Từ ít lâu nay, tâm hồn con đã bị xao động. Con không còn đủ bình tĩnh và sáng suốt như trước. Xin Chúa cho con chọn sự lành và lánh xa sự dữ. Con tin cậy kính mến Chúa trên hết mọi sự ở đời’…” (Tuấn Huy, “Hương Cỏ May” trang 9). (5)
Ở một đoạn khác, nhân vật Sư Huynh của Tuấn Huy thú nhận:
“…Anh băn khoăn về cuộc chiến đấu âm ỉ nhưng dữ dội – sự đối kháng của tuổi trẻ trước cuộc đời – Hốt nhiên, anh nghẹn ngào một cảm giác cô đơn. Trước mặt là vùng biển lạnh. Trời đen tối không cùng. Và hôm nay chắc biển động nên chẳng có chiếc thuyền đánh cá nào ra khơi… ‘Trong mọi vẻ đẹp trần gian, con như đều thấy rõ Chúa. Vậy mà, lạy Chúa, đôi lúc con yêu Chúa ít hơn. Có lẽ tại bao nhiêu tội trọng đã xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn con rồi.’” (6)
Dù cố tình chọn nhân vật chính cho tiểu thuyết của mình là “Sư Huynh,” hiểu theo nghĩa nhân vật thuộc về một thành phần ít oi trong xã hội. Thành phần được huân tập, xây dựng, trưởng thành trong ánh sáng chói lòa của Ơn-Thiên-Triệu. Nhưng cách gì, theo tác giả, nhân vật kia cũng vẫn là một con người. Con người hiểu theo nghĩa bản năng. Yếu đuối. Nói cách khác, vị Sư Huynh nọ đã bị những trận bão cám dỗ cuốn đi! Hoặc bị quỷ Satan bắt hồn dẫn về địa ngục:
“…Chắc Tư bây giờ cũng đang chờ đợi tôi. Nàng đứng ở khung cửa đó, những ngón tay mềm vuốt ve quanh vòng cổ trắng ngần. Nhưng Tư ơi, tôi không thể quay lại nữa. Không có một sức mạnh tinh thần nào trói buộc được tôi cả… Tôi sẽ bỏ đi. Tôi lại lao đầu vào những ngày lang thang vô tận. Những ngày nghèo khó, ăn mày bám víu bạn bè; những ngày không định hướng, không mục đích; những ngày đốt thuốc hoang phí tuổi trẻ; những ngày say mềm ngủ vùi trên ghế đá công viên… Tuy có lúc, tôi đã nghĩ rằng, tôi sẽ ở lại đây, mà sống bên Tư cho đến chết. Thời gian ngắn ngủi thần tiên vừa qua, tôi đã tìm được một chút – chỉ một chút thôi – quân bình trí não nơi thành phố nhỏ bé này, trong căn nhà ấm cúng của Tư. Nhưng bây giờ tôi lại muốn lao vào những cơn điên say cuồng loạn. Tôi muốn chạy, muốn nhẩy, và hét lên một tiếng thật to, để rồi phóng mình xuống hỏa diệm sơn thăm thẳm…” (7)
Ðó là một phần tâm cảnh vị sư huynh, trong truyện Tuấn Huy.
Qua nhân vật nêu trên, tôi nghĩ, phần nào giải thích được sự yêu thích truyện Tuấn Huy của lớp độc giả trẻ tuổi của miền Nam trước đây.
Nếu nhân vật này không hiện ra như một lời “tự-biện-hộ” cho cuộc sống mất phương hướng, tuyệt vọng, chán nản, buông trôi của giới trẻ thì, Sư Huynh trong tác phẩm của họ Nguyễn, với những cuộc tình bão táp, những thành phố đi qua, sống với,… chí ít cũng đáp ứng mơ ước hoặc khát khao thầm kín của đa số độc giả đó vậy.
Du Tử Lê
(Kỳ sau: “Bối cảnh và dữ kiện trong tiểu thuyết Tuấn Huy”)
Chú thích:
(4) Nhà Xuân Thu chụp lại bản in ở Saigon trước tháng 4, 1975, phát hành tại Hoa Kỳ. Không ghi nơi chốn, năm tháng xuất bản.
(5) Vẫn do Nhà Xuân Thu chụp lại bản in ở Saigon trước tháng 4,1975, phát hành tại Hoa Kỳ. Không ghi nơi chốn, năm tháng xuất bản.
(6) Sđd. Trang 163.
(7) Sđd. Trang 179.
‘Birds of Paradise Lost’: A conversation with author Andrew Lam
ANNA CHALLET / NEW AMERICA MEDIA
Editor’s
note: New America Media editor Andrew Lam has made his name as a
journalist, but in his newest book, his past as a Vietnamese refugee
reverberates through short stories about characters who fled Viet Nam
and made new lives in the Bay Area. NAM reporter Anna Challet spoke
with him about the collection, “Birds
of Paradise Lost”
(Red Hen Press, 2013), published this month.
Anna
Challet: “Birds
of Paradise Lost” is your first book of fiction – how did you
come to publish a fiction collection after so many years of working
as a journalist?
Andrew
Lam: I’ve
been writing short stories for 20 years now, on and off ever since I
was in the creative writing program at San Francisco State
University. Though I later found a career as a journalist and an
essayist, fiction is my first love and I never left it, even though
there was no easy way to make a living from it. The collection is a
labor of love and devotion, and whenever I found free time from my
journalism work, I’d work on one story or another, or at least
sketch out my characters, and research various issues related to my
characters’ dilemmas. After 20 years and 30 stories, 13 pieces were
finally selected and the collection was born. So far, the blurbs from
[authors] Maxine Hong Kingston, Gish Jen, Robert Olen Butler, Oscar
Hijuelos and others have been most encouraging.

AC:
You’ve
written many personal essays and non-fiction pieces about coming to
the United States from Viet Nam. How does it feel to bring that
experience into the lives of your fictional characters?
AL:
Well, I always say that writing non-fiction versus writing fiction is
a bit like architecture versus abstract painting. In non-fiction you
have to stay true to historical events, be they personal or national
… In fiction, it’s as if you enter a dream world that you
created, but your characters have their own free will. They don’t
do what you want them to do – they get into trouble, do drugs,
fight over petty things and do outrageous things that you wouldn’t
want your children to do. In other words, you can only provide the
background, the seeds – in my case the background of the Vietnamese
refugee. When a well-rounded character takes over, he doesn’t
lecture you about his history and how he is misunderstood. He lives
his life, does things that are unexpected, and makes you laugh and
cry because of his human flaws and foibles.
AC:
How
did you come up with the title?
AL:
It’s the title of one of the 13 stories in the book, and it’s a
story that deals with death and hatred and self-immolation. In the
story, the narrator’s best friend commits self-immolation in
Washington, D.C., and leaves a note that says he hates the Vietnamese
communist regime and wants his death to call attention to communist
cruelty. But he also leaves his friends back in San Jose, California,
reeling from his death. Was it a patriotic act? A passing tourist
captures a picture of the man on fire, and the flame reminds the
narrator of the bird of paradise – both like a bird and a flame, a
phoenix of sorts.
AC:
English
is your third language, after Vietnamese and French. How is it that
you’ve come to write in English – your “stepmother tongue?”
AL:
You
know, I have a funny story to tell about English and how I came to
fall in love with the language. When I came to the United States in
1975 I was 11, and within a few months my voice broke. I was
desperate to fit in and spoke English all the time. Trouble was, in
my household it was a no-no to speak English because somehow it is
disrespectful to call parents and grandparents “you”; impersonal
pronouns are offensive in Vietnamese. But I couldn’t help it. I
recited commercials like a parrot and I got yelled at quite often. My
older brother one night said, “You speak so much English when
you’re not supposed to, that’s why your vocal chords shattered.
Now you sound like a duck.” I thought it was true. I went from this
sweet-voiced Vietnamese kid who spoke Vietnamese and French to this
craggy-voiced teenager. I thought, “Wow, English is like magic.”
It not only shattered my voice, it changed me physiologically. I
believed this for months … There’s magic in the language. I never
fell out of the enchantment.
AC:
Many
of the characters in your stories seem to be preoccupied with time –
telling the future (“The Palmist”), being unable to let go of the
past (“Bright Clouds Over the Mekong”), living in constant fear
of what surprise the present moment might bring (“Step Up and
Whistle”). Do you often find yourself writing about characters who
struggle in dealing with time?
AL:
I hadn’t thought of it in that way, but it’s true that the past
is ever present in the characters’ lives in “Birds of Paradise
Lost.” Perhaps it can’t be helped. So many of them either
experienced trauma – fleeing Viet Nam, watching someone be killed –
or inherited trauma from those who fled Viet Nam, that the past is
always flowing into the present. The future is of course the
possibility of an absolution, the possibility that they can conquer
this haunting aspect of the past so that they can begin to heal. Not
all of them do, of course, just like in real life.
AC:
What are your thoughts on being identified as a writer of immigrant
literature? Given that you’ve written so much about the Vietnamese
diaspora over the past 20 years, how do you think the concept of
immigrant literature is changing in the United States?
AL:
I think in a larger sense, immigrant narrative is comprehensive and
speaks to the core of human experience. Isn’t the first story told
in the West about the Fall? Adam and Eve were immigrants too from
somewhere, a lost Eden, a paradise lost. We all now are so mobile, so
nomadic … That experience of losing home, longing for home, that
yearning for meaning and rootedness and identity in a floating world,
it’s what often makes an immigrant story into an American story …
Today, more people are crossing various borders in order to survive,
thrive, change their lives. Even if you don’t cross the border,
with demographic shifts, the border sometimes crosses you …
America’s story is largely an immigrant story. That hasn’t
changed since the Pilgrims ate their first turkey some 400years ago,
and they were the original boat people.
AC:
As
an immigrant, what do you think of the current debate over
immigration in this country?
AL:
It’s unfortunate that the country of immigrants has turned its back
on immigrants. The atmosphere after 9/11 is toxic. In the war on
terrorism, the immigrant is often the scapegoat. He becomes a kind of
insurance policy against the effects of the recession. By blaming
him, the pressure valve is regulated in times of crisis … What we
have now is a public mindset of us versus them, and an overall
anti-immigrant climate that is both troubling and morally
reprehensible. Missing from the national conversation are voices of
pro-immigration reformers and civil rights leaders, who can speak on
behalf of those who have no voice. Where are the leaders who can
speak to the idea that it is not alien to American interests, but
very much in our socioeconomic interests – not to mention our
spiritual health – to integrate immigrants, that our nation
functions best when we welcome newcomers and help them participate
fully in our society?
I
am glad to see the wheels are moving at last toward comprehensive
immigration reform after last year’s election. I am glad that
immigrants are speaking up. I am hopeful that the pendulum swings
toward seeing immigrants in favorable terms once more.
All
three of my books, “Perfume
Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora,”
“East
Eats West: Writing in Two Hemispheres”
and “Birds
of Paradise Lost”
are immigrant narratives – their dreams, their traumas, their
struggles – and I write them with the confidence that these
stories, written from the heart, will belong, in time, to America.
Andrew
Lam was recently interviewed by Michael Krasney on the National
Public Radio (NPR) program, Forum. To listen, click here.
Santa Ana to discourage official visits from Viet Nam
SANTA ANA, Calif. ― Vowing to stand united with the city’s Vietnamese American residents, the City Council on Tuesday approved a resolution discouraging trips from officials of communist Viet Nam. Read Ron Gonzales’ story from The Orange County Register.
Blogger Tạ Phong Tần được vinh danh ‘Người Phụ Nữ can Đảm’
WASHINGTON DC. (NV) – Blogger Tạ Phong Tần là một trong số 10 phụ nữ trên thế giới vừa được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vinh danh qua giải thưởng Người Phụ Nữ Can đảm -“International Women of Courage Award Winners” – năm 2013.

Blogger Tạ Phong Tần. (Hình: Internet)
Thông cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 4 tháng Ba cho hay, Ngoại trưởng John Kerry và Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama sẽ trao giải cho 10 phụ nữ này.
Đây là Giải thưởng hàng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 2007. Từ đó đến nay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã vinh danh 67 phụ nữ từ 45 quốc gia trên thế giới.
Giải thưởng để “vinh danh các phụ nữ trên thế giới với gương can đảm phi thường và khả năng lãnh đạo khi cổ võ cho nhân quyền, cho sự công bằng đối với phụ nữ và cho sự tiến bộ xã hội mà vì vậy họ đã chịu đựng những nguy hiểm lớn lao cho cá nhân mình”.
Giải thưởng này loan báo chỉ ít ngày tới Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3 hàng năm được Liên Hiệp Quốc và nhiều nước trên thế giới tổ chức kỷ niệm.
Cùng với bà Tạ Phong Tần, 9 phụ nữ cùng được vinh danh lần này là: bà Malalai Bahaduri, một cựu cảnh sát chống buôn lậu ma túy ở Afghanistan; bà Tsering Woeser, một thi sĩ và blogger ở Tây Tạng, Trung Quốc; bà Samira Ibrahim, nhà vận động nhân quyền ở Ai Cập; bà Julieta Castellanos, viện trưởng đại học ở Hoduras; Nirbhaya, một nữ sinh viên bị hiếp tập thể trên xe búyt ở Ấn Độ; tiến sĩ Josephine Obiajulu Odumakin, người đứng đầu một tổ chức bảo vệ nữ quyền ở Nigeria; bà Elena Milashina, nữ ký giả ở Nga; bà Fartuun Adan, giám đốc trung tâm nhân quyền ở Somalia và bà Razan Zeitunah, luật sư nhân quyền ở Syria.
Bà Tạ Phong Tần, 44 tuổi, là một blogger nổi tiếng ở Việt Nam qua trang blog ‘Công Lý và Sự Thật,’ chỉ trích các chính sách của nhà cầm quyền Việt Nam, kêu gọi tự do dân chủ, bênh vực dân oan và chống lại chính sách bá quyền của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Trong năm 2011, bà Tạ Phong Tần bị bắt và bị kết tội ‘tuyên truyền chống nhà nước’ theo đều 88 bộ luật hình sự. Qua hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm hồi tháng 9 và tháng 12 năm ngoái, bà tạ Phong Tần bị kết án 10 năm tù và 2 năm quản chế.
Bất chấp những lần bắt giữ, thẩm vấn, làm nhục, và những trò khủng bố của Công an, bà không hề run sợ hay lùi bước trước bạo lực.
Trong thời gian bà bị giam giữ, ngày 30/7/2012, mẹ của bà Tần là bà Đặng Thị Ngọc Liêng đã tự thiêu trước trụ sở nhà cầm quyền tỉnh Bạc Liêu vì bị công an quấy nhiễu, áp lực bà phải ép con gái (bà Tần) phải “nhận tội”.
Cũng trong vụ án này, cùng ra tòa với bà tần là blogger Ðiếu Cày, tức Nguyễn Văn Hải, và AnhbaSaigon, tức Phan Thanh Hải. Trong đó blogger Ðiếu Cày bị án 12 năm tù còn blogger AnhbaSaigon bị ba năm tù.
Việc kết án bà Tạ Phong Tần cùng với các nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) và Phan Thanh Hải (Bogger Anhbasaigon) đã bị Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ, các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế đả kích mạnh mẽ.
Văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cũng lên tiếng chỉ trích.
Trước khi được Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ vinh danh và trao tặng giải thưởng “Phụ Nữ Can Đảm” bà Tạ Phong Tần được tổ chức “Index on Censorship” (Chỉ số kiểm duyệt thông tin) có trụ sở ở Anh quốc đề nghị trao tặng giải thưởng báo chí năm 2013. Bà cũng từng đựơc Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam trao tặng giải thưởng hồi năm ngoái.
Năm 2011 bà Tạ Phong Tần cũng đã cùng 7 người đấu tranh dân chủ khác tại Việt Nam được tổ chức Human Rights Watch trao tặng giải thưởng nhân quyền Hellman Hammett. (TN)
Dân tị nạn chiến tranh Syria lên tới 1 triệu
BEIRUT, Lebanon (AP) – Cơ quan Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) hôm Thứ Tư cho biết số dân phải rời bỏ nhà cửa vì cuộc nội chiến ở Syria chạy sang các nước láng giềng đã lên tới 1 triệu.

Một gia đình dân Syria từ thành phố Aleppo đến trung tâm UNHCR ở Tripoli, phía Bắc Lebanon, đang làm thủ tục nhập trại tị nạn, hôm Thứ Tư, 6 Tháng Ba. (Hình: AP/Bilal Hussein)
Tại Geneva, Cao Ủy Trưởng Antonio Gutteres nói rằng con số 1 triệu là căn cứ trên báo cáo của văn phòng UNHCR ở Lebanon, Jordan, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ từ khi biến động xảy ra ở Syria hai năm nay. Ông nói: “Với một triệu người đã chạy trốn và hàng triệu người khác di cư ở trong nước cùng với mỗi ngày hàng ngàn người khác vượt qua biên giới, Syria đang bị cuốn vào một thảm kịch nhân đạo toàn diện.” Syria có dân số khoảng 22 triệu.
Cũng trong ngày Thứ Tư, Liên Hiệp Quốc cho biết 20 binh sĩ thuộc Lực Lượng Bảo Vệ Hòa Bình ở biên giới Israel-Syria đã bị một toán khoảng 30 người võ trang phục kích bắt cóc tại vùng đồi Golan. Phát ngôn viên Eduardo del Buey nói rằng các binh sĩ Liên Hiệp Quốc đang đến xem xét một tiền đồn bị hư hại và đã phải triệt thoái tuần trước vì cuộc giao tranh dữ dội giữa hai phía ở Syria. Người ta tin rằng toán bắt cóc là chiến binh lực lượng nổi dậy, tuy nhiên chưa có chi tiết nào được chính thức loan báo về vụ này.
Cùng ngày Liên Ðoàn Á Rập sau cuộc họp cấp bộ trưởng ở Cairo đưa ra một tuyên bố nói rằng các nước Á Rập thành viên được quyền tự do cung cấp viện trợ quân sự cho quân nổi dậy chống Tổng Thống Bashar al-Assad ở Syria. Cho đến nay các quốc gia Á Rập mới chỉ hỗ trợ về mặt nhân đạo và ngoại giao. Ðồng thời Ngoại Trưởng Anh William Hague cho biết theo yêu cầu của Tướng Salim Idris chỉ huy trưởng quân nổi dậy, Anh sẽ xem xét việc cung cấp xe thiết giáp, áo giáp và trang bị dùng vào việc tìm kiếm/cấp cứu, tuy nhiên chưa nói là sẽ võ trang cho lực lượng nổi dậy Syria. (HC)
EU phạt công ty Microsoft $732 triệu
BRUSSELS (NYT) –Ủy Ban Liên Âu (EC) hôm Thứ Tư loan báo việc phạt công ty Microsoft số tiền 561 triệu Euros (khoảng $732 triệu) vì đã không thi hành những điều đã thỏa thuận trong việc tạo sự dễ dàng cho người sử dụng nhu liệu của Microsoft để chọn lựa loại Internet browser (trình duyệt Internet) mà họ muốn dùng.
Chủ Tịch Liên Âu Jose Manuel Barroso (trái) chào đón tỉ phú Bill Gates, chủ tịch Microsoft, tại văn phòng Liên Âu hồi năm ngoái. Liên đoàn này vừa phạt Microsoft $732 triệu vì công ty bị tố cáo không tuân hành thỏa thuận hai bên. (Hình: John Thys/AFP/Getty Images)
Ðây là lần đầu tiên EC trừng phạt một công ty vì đã không tuân hành các thỏa thuận đạt được trong cuộc dàn xếp chống độc quyền, và có thể là chỉ dấu cho thấy EC sẽ có thái độ cứng rắn trong các vụ tương tự.
“Việc tuân hành các thỏa thuận đạt được trong vụ dàn xếp kiện chống độc quyền là điều quan trọng vì cho phép giải quyết nhanh chóng vấn đề tự do cạnh tranh,” theo Joaquin Almunia, ủy viên đặc trách cạnh tranh của EC.
Biện pháp trừng phạt của EC đối với Microsoft hôm Thứ Tư nâng tổng số tiền phạt đối với công ty này trong thập niên qua tại Âu Châu lên 2.26 tỉ Euros.
Tiền phạt lớn nhất của EC đối với một công ty về vấn đề cạnh tranh bất chính là 1.1 tỉ Euros (khoảng $1.4 tỉ) đối với công ty Intel vào năm 2009. (V.Giang)
Nam Hàn có thể tấn công lãnh đạo Bắc Hàn
SEOUL, Nam Hàn (NYT) – Quân đội Nam Hàn hôm Thứ Tư cảnh cáo rằng nếu bị Bắc Hàn khiêu khích, họ sẽ tấn công thành phần chỉ huy quân đội Bắc Hàn, trong lời đáp trả mạnh mẽ về đe dọa tấn công trước đó từ phía Bình Nhưỡng.
Lính Nam Hàn tại vùng phi quân sự Bàn Môn Ðiếm giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên. Nam Hàn cho biết có thể tấn công lãnh đạo Bắc Hàn nếu bị tấn công. (Hình minh họa: Jung Yeon-je/AFP/Getty Images)
Hôm Thứ Ba, quân đội Bắc Hàn đe dọa sẽ tấn công quân đội Mỹ và Nam Hàn bằng “võ khí nguyên tử nhẹ hơn và nhỏ hơn,” sau khi có tin Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chuẩn bị đưa ra nghị quyết mới theo đó sẽ có thêm biện pháp trừng phạt Bắc Hàn vì cho nổ nguyên tử hồi Tháng Hai.
Nam Hàn thường không trả lời các đe dọa của Bắc Hàn, tuy nhiên các quan sát viên cho rằng lần này Seoul nhanh chóng có thái độ vì e ngại rằng Bình Nhưỡng sẽ có hành động khiêu khích để dằn mặt tân Tổng Thống Park Geun-hye và tạo bất ổn trong toàn vùng.
“Nếu Bắc Hàn có hành động khiêu khích đe dọa mạng sống và an ninh của dân chúng tôi, quân đội Nam Hàn sẽ tấn công mạnh mẽ và quyết liệt, không chỉ vào nơi xảy ra hành động khiêu khích mà còn cả thành phần lãnh đạo,” theo lời Thiếu Tướng Kim Yong-hyun, tư lệnh hành quân Bộ Tổng Tham Mưu Nam Hàn. (V.Giang)
Công ty tư nhân tạo thêm 198,000 việc làm Tháng Hai
WASHINGTON (AP) –Kết quả thăm dò của một công ty tư nhân, được công bố hôm Thứ Tư, cho hay giới doanh gia Mỹ tiếp tục thu nhận nhân viên trong Tháng Hai, cho thấy việc tăng thuế và cắt giảm chi tiêu của chính phủ không làm trì trệ việc nhận người mới.
Người thất nghiệp xếp hàng tại hội chợ việc làm ở New York hồi Tháng Năm, 2012. (Hình minh họa: Stan Honda/AFP/Getty Images)
Giới chủ nhân nhận thêm 198,000 người trong Tháng Hai, căn cứ theo dữ kiện của công ty làm sổ lương ADP. Công ty này cũng điều chỉnh lại con số việc làm mới hồi Tháng Giêng là 215,000, tăng 23,000 hơn con số đã loan báo trước đó.
Báo cáo của ADP dựa theo sổ lương thật sự của các công ty tư nhân mỗi tháng.
Kết quả này cũng khiến các chuyên gia kinh tế cho rằng báo cáo về việc làm của chính phủ Mỹ cho Tháng Hai, sẽ đưa ra ngày Thứ Sáu tuần này, có thể cao hơn mức dự trù của các kinh tế gia.
Các phân tích gia ước tính là trong Tháng Hai nền kinh tế Mỹ tạo thêm 152,000 việc làm và mức thất nghiệp sẽ giảm từ 7.9% xuống còn 7.8%. (V.Giang)
Mỹ phí phạm hàng chục tỉ đô la ở Iraq
WASHINGTON (AP) – Sau 10 năm và khoảng $60 tỉ tiền thuế của dân chúng Mỹ đổ vào Iraq, quốc gia này hiện vẫn trong tình trạng rối loạn đến nỗi ngay cả thành phần lãnh đạo nơi đây phải tự hỏi rằng các nỗ lực tái thiết của chính phủ Mỹ tại Iraq có đáng với chi phí phải bỏ ra hay không.
Ông Stuart Bowen tại cuộc điều trần ở Thượng Viện, nói về sự phí phạm ngân sách của Mỹ ở Iraq. (Hình: Brendan Smialowski/Getty Images)
Trong bản báo cáo sau cùng với Quốc Hội Mỹ, chánh thanh tra đặc biệt về tái thiết Iraq, ông Stuart Bowen, đưa ra kết luận rằng kể từ khi tiến vào Iraq, đến tháng này là 10 năm, chính phủ Mỹ đã đổ quá nhiều tiền vào nơi mà kết quả có được chẳng là bao nhiêu.
Nỗ lực tái thiết Iraq “trở thành lớn lao đến mức chúng ta chẳng hề dự trù,” theo ông Bowen trong bản báo cáo sau cùng về chi tiêu của Mỹ ở Iraq được đưa ra hôm Thứ Tư.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho ông Bowen, Thủ Tướng Iraq Nouri al-Maliki nói rằng tài trợ của Mỹ “có thể đã đem lại những kết quả lớn lao tại Iraq” nhưng thường xuyên bị thất bại vì chi tiêu sai lầm.
Một giới chức chính quyền tự trị Kurd, ông Qubad Talabani, con trai của Tổng Thống Iraq Jalal Talabani, cho các thanh tra hay rằng, “quý vị cứ nghĩ ném tiền vào là giải quyết mọi vấn đề. Ðây không phải là lối suy nghĩ chiến lược.”
Các kết quả thảm hại của nỗ lực tái thiết Iraq hiện đang làm lo ngại giới chức trách nhiệm ở Washington vì nỗ lực trị giá tổng cộng $90 tỉ cho đến ngày hôm nay ở Afghanistan cũng có thể sẽ đi vào tình trạng tương tự. (V.Giang)
Taliban xử tử 17 lính chính phủ Afghanistan
KABUL (AFP) – Phiến quân Taliban đã xử tử 17 người lính chính phủ Afghanistan bị họ bắt giữ ở vùng Ðông Bắc quốc gia này, theo giới hữu trách hôm Thứ Tư.
Một số lính Taliban tại tỉnh Wardak, Afghanistan. Chính phủ cho hay Taliban vừa xử tử 17 lính Afghanistan. (Hình minh họa: Strdel/AFP/Getty Images)
Những người lính này bị bắt giữ tại vùng Badakhshan hôm Thứ Bảy trong khi đang bảo vệ một đoàn xe quân sự. Xác họ được dân chúng địa phương tìm thấy ở vùng rừng núi của tỉnh này, nằm sát biên giới với Tajkistan, Trung Quốc và Pakistan.
“Ðịch quân xử tử 17 binh sĩ, xác họ được tìm thấy đêm qua,” theo lời chỉ huy phó cảnh sát tỉnh, ông Sayed Jahangir Keramat. “Có bảy người khác được thả ra để trao đổi với một số tù nhân Taliban.”
Cuộc tấn công này diễn ra trong lúc quân đội chính phủ Afghanistan đang nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ an ninh từ quân đồng minh NATO.
Phía Taliban cho hay họ mở cuộc tấn công đoàn xe nhưng 17 binh sĩ này chết trong khi giao tranh chứ không phải sau khi bị bắt. (V.Giang)
Malaysia săn lùng thành phần võ trang Philippines
FELDA SAHABAT (AFP) – Malaysia hôm Thứ Tư gia tăng các nỗ lực săn lùng thành phần võ trang Philippines xâm nhập quốc gia này bất hợp pháp và thoát khỏi vòng vây ở một ngôi làng hẻo lánh, trong khi có tin là thêm các tay súng Philippines đổ bộ lên khu vực này.
Phụ nữ Hồi Giáo Philippines biểu tình chống người Hồi Giáo Malaysia tại Manila, Philippines. Malaysia đang gia tăng săn lùng những người Philippines xâm nhập bất hợp pháp. (Hình: Ted Aljibe/AFP/Getty Images)
Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia Malaysia, ông Ismail Omar, cho hay nhóm võ trang ủng hộ một người tự xưng là hậu duệ của một tiểu vương Hồi Giáo đã phân tán mỏng sau cuộc tấn công bằng phi cơ và bộ binh của chính phủ Malaysia hôm Thứ Ba nhằm đánh bật họ khỏi ngôi làng chiếm đóng.
Giới hữu trách nay “mở rộng vùng hành quân,” theo lời ông Omar tuyên bố với báo chí ở Felda Sahabat, một ngôi làng nằm cách nơi bị nhóm võ trang chiếm đóng khoảng 15 km.
Ông nói rằng phải mở rộng khu vực lục soát vì các tay súng này đang phân tán mỏng và đã bắn hạ một người trong cuộc đụng độ vào sáng sớm ngày Thứ Tư.
Tuy nhiên ông Omar từ chối không cho biết là có ai trong số từ 100 đến 300 thành phần dân quân võ trang hùng hậu này đã bị bắt hay xác nhận là bị giết hay không.
Lãnh tụ nhóm võ trang này, ông Jamalul Kiram III, hôm Thứ Tư tuyên bố tại Manila rằng người em trai của họ, chỉ huy toán đổ bộ lên lãnh thổ Malaysia, đã thoát khỏi cuộc tấn công bằng phi cơ và bộ binh của phía chính phủ Kuala Lumpur.
Một cấp chỉ huy của tổ chức Hồi Giáo ly khai có tên Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Moro (MNLF), từng chiến đấu chống chính phủ Manila, cho hay các tay súng nhiều kinh nghiệm chiến đấu của họ đã kéo sang tiếp viện cho nhóm của ông Kiram. (V.Giang)
Chủ trương thời đại và thơ của tạp chí Tao Ðàn, 1939
Viên Linh
Trước thời điểm Thế Chiến Thứ Hai khởi sự ở Âu Châu, tại Hà Nội có thêm vài tờ báo mới xuất hiện tự mệnh danh là tạp chí văn học, đáng kể hơn cả là Tạp chí Tao Ðàn xuất bản vào tháng 3, 1939 của kịch tác gia Vũ Ðình Long, người phóng tác dịch thuật nhiều kịch bản của Pháp và là chủ nhân của nhà xuất bản Tân Dân, trụ sở ở số 93 phố Hàng Bông gần Hồ Hoàn Kiếm.
Kịch tác gia Vũ Ðình Long (1896-1960), chủ nhiệm chủ bút Tạp chí Tao Ðàn thời Tiền Chiến. (Hình: Vũ Huy Ðức)

Tờ Tao Ðàn có số phận rất ngắn ngủi, và chỉ là một trong vài tờ báo của ông Vũ Ðình Long, song nó đã để lại ảnh hưởng rất lâu dài, vì chủ trương của tờ báo, và sự mở rộng diễn đàn cho nhiều khuynh hướng văn chương tư tưởng, và vì sự chọn lọc các tác giả góp mặt cũng như sự điều hành biên tập của các thư ký tòa soạn như Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật. Mặt khác, nhà xuất bản kiêm phát hành Tân Dân là lực lượng đã đối chọi lại cơ sở và chủ trương của cánh Tự Lực Văn Ðoàn, nên một mặt có những Nhất Linh, Hoàng Ðạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Le mur; thì mặt Tân Dân qui tụ những Trương Tửu, Lê Văn Trương, Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng. Song chuyện khác biệt đi đến mâu thuẫn giữa các tờ báo là chuyện thường tình, cũng có thể nghĩ là cần thiết, đôi khi là có kết quả tích cực, nếu người cầm bút đạt được tiêu chuẩn nghệ thuật vượt lên trên trung bình, nó sẽ là bùn đất và cặn bã khi cảm tính cá nhân lấn át văn chương. Tờ Tao Ðàn đóng bộ chỉ hơn một ngàn trang báo (mỗi số ít nhất có 96 trang), song đã để lại cho di sản văn học dân tộc những tên tuổi, những tác phẩm chói lọi: gần như toàn thể các truyện ngắn của Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời đã xuất hiện trên Tao Ðàn, cân bằng ảnh hưởng với Khái Hưng bên Tự Lực; các thi sĩ Lưu Trọng Lư, Trần Huyền Trân, Phạm Hầu,… của Tao Ðàn đã để lại những bài thơ mang tính thời đại đậm nét, là chủ đề của bài viết ngắn này.
Thời đại của Tạp chí Tao Ðàn ra sao? Trước hết, đó là thời Tiền Chiến vì tờ báo xuất hiện vào tháng 3, 1939 trong khi sáu tháng sau (9,1939), Thế Chiến Thứ Hai mới khởi sự, khi Ðức quốc xã xâm chiếm Ba Lan, và sau đó Pháp, và đánh lui quân Anh ở Dunkirk. Suốt thời gian tờ tạp chí hiện diện, tình hình chiến tranh thế giới hẳn phải vọng về Hà Nội. Lúc ấy Pháp vẫn đô hộ Việt Nam song Tao Ðàn đã mạnh mẽ tuyên bố trong bài Cùng Bạn Ðọc ở số 1:
“Tình trạng thế giới hiện nay ví như một cuộc hội nghị lớn lao và ầm ĩ, trong đó người Việt Nam không được phép dự một nhời bàn. Thực là tủi nhục cho cái dân tộc đã có bốn ngàn năm lịch sử. […] Và đó tức là một vấn đề sinh tử cho cả một dân tộc gồm hai mươi nhăm triệu linh hồn.” [!]
Sau các nhận định, người chủ trương tuyên bố đã đến lúc người Việt Nam kiến thiết một nền văn hóa không nô lệ Tàu, không theo Pháp, và quyết định vai trò của Tao Ðàn:
“Tờ tạp chí này sẽ không phải là cơ quan riêng của một văn phái nào, nó sẽ là nơi gặp gỡ của hết thảy mọi trào lưu tư tưởng, và mọi khuynh hướng nghệ thuật, miễn là các trào lưu và các khuynh hướng ấy cùng chung một mục đích: gây dựng một nền văn hóa Việt Nam.” (1)
Ông Vũ Ðình Long, chủ nhiệm tờ báo, đưa ra lời kêu gọi còn sáng suốt nhiều lần hơn các nhà làm chính trị. Quan điểm của ông cũng được tìm thấy và thấy thể hiện trong những bài luận thuyết của các tác giả cộng tác.
Số 1: Trương Tửu: Tổng luận về văn chương hiện đại. Nguyễn Văn Tố: Ðã đến ngày viết lại quyển Nam sử chưa?
Số 2: Bùi Công Trừng: Tán thành sự gây dựng nền văn hóa Việt Nam. Nguyễn Triệu Luật: Ðiển chế văn tự.
Số 4: Lan Khai: Tính cách Việt Nam trong văn chương.
Số 5: Hoài Thanh: Tiếng Nam phải giữ tinh thần riêng của tiếng Nam.
Số 6: Nguyễn Triệu Luật: Một cách để gây cho dân tộc ta một cái nguyên tắc tinh thần.
Về thơ sáng tác của tờ tạp chí ta có:
Số 1, Lưu Trọng Lư: Giang Hồ (tr. 81-84)
Số 2, Lưu Trọng Lư: Cầu Nguyện Ước (tr.160) – Lưu Kỳ Linh: Quỳnh Nở, Con Bướm Trắng (tr.161)
Số 4, Phạm Hầu: Chiều Buồn (tr.355), Nhớ Tự Nhiên (356), Chiếc Khăn Tay (356), Y Lan (357), Này Ðây Thu (358).
Số 5, Trần Huyền Trân: Lòng Chiến Sĩ (522).
Số 7, Phạm Hầu: Sa Mạc (620), Nguyễn Hạnh Ðàn: Thời Mơ (621).
Số 8, Trần Huyền Trân: Khi Ðã Về Chiều (719).
Số 9+10, Trần Huyền Trân: Khóc Tản Ðà (847), Huyền Hoàng: Nhớ Hồn Em (848).
Các số sau không có thơ! Dù vậy, đa số các nhà thơ trên đây sau đó đã đi vào văn học sử. Bài Giang Hồ của Lưu Trọng Lư cảm khái thời đại rất đậm nét: đó là thanh niên Việt thời đô hộ, một mặt bất lực trước các thế lực ngoại bang, sau Tầu là Tây, sau cuộc cách mạng thất bại của Nguyễn Thái Học và Quốc Dân Ðảng, trong khi thế giới chuyển mình, họ chỉ còn biết say sưa. Bài thơ có bốn đoạn, dài hơn 100 câu, là một thứ Tỳ Bà Hành mà trong đó, người thanh niên hứa hẹn là bữa rượu cuối cùng. Sau đoạn lục bát mở đầu, từ đoạn hai là song thất lục bát. Sau bài này, Lưu Trọng Lư không làm được thêm những bài tương tự, có thể coi đây là một tuyệt tác của ông:
Mời anh cạn chén rượu này
Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn.
Tiếng gà đã rộn trong thôn,
Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay.
Ðể lòng với rượu cùng say
Chừ đây lời nói chua cay lạ nhường!
(Lưu Trọng Lư, Giang Hồ)
Trần Huyền Trân xuất hiện vào số 5 của Tao Ðàn, với một nguồn cảm hứng phấn khởi từ một anh hùng đời Trần, Phạm Ngũ Lão. Nét thơ sắc và khỏe, bài thơ loại thất ngôn trường thiên, 18 đoạn mỗi đoạn 4 câu, hiếm người làm được một bài thơ như thế trong thời thuộc địa.
Bao lâu hống hách rừng binh lửa
Vó ngựa đêm nay cuốn bụi về
Mừng hí vang lừng, băng trước gió
Trên yên tráng sĩ động hồn quê.
Thuở ấy ra quân lớp lớp dài
Mẹ già phẩy áo hẹn tương lai
Vườn lòng tráng sĩ bừng hoa nở
Gió bốn phương về lộng chí trai

Một cảnh trong vở kịch Tình Trong Khói Lửa của Vũ Ðình Long, diễn tại nhà hát lớn Hải Phòng, Tháng Mười Hai, 1953. (Hình: Khởi Hành)
Nhưng chí trai chưa trọn, giặc giã kia mà đất nước chưa thấy anh hùng xuất hiện, đó là tâm sự Phạm Ngũ Lão khi chưa gặp Trần Minh chủ:
Ăn chẳng no lòng ngủ chẳng yên
Một mình lẩm cẩm bước trong đêm
Ðêm nào, đêm não, đêm nao nữa
Bóng mặt trời đâu chẳng thấy lên!
(Trần Huyền Trân, Lòng Chiến Sĩ – có ghi: Kính tặng hương hồn Phạm Ngũ Lão)
Trong khoảng năm sáu năm sau, hợp với Nguyễn Bính và Thâm Tâm, Trần Huyền Trân trở thành một trong “tam anh” (ba chàng anh kiệt) thời Tiền Chiến.
(Viên Linh, soạn cho “90 Năm Thơ Việt, 1922-2012.”)
––
(1) Chuyển trích từ Sưu tập trọn bộ Tao Ðàn, NXB Văn Học, Hà Nội, 1998.
Năm ngày hấp hối của Stalin, kỳ 2
(tiếp theo và hết)
Nguyên tác: Thierry Lentz
Thụy My chuyển ngữ
Ðến ba giờ sáng, tức hơn 20 tiếng đồng hồ sau khi Stalin bị tai biến, Beria và Malenkov mới đến nơi. Ông ta có vẻ như đang ngủ, những tiếng thở dốc của ông có thể bị lầm tưởng là tiếng ngáy.
Ðến nỗi Beria ngỡ (hay làm ra vẻ như thế) là người ta đã quấy nhiễu ông ta vô ích. Beria quát mắng các cận vệ đang nài nỉ gọi bác sĩ… và bỏ đi, với Malenkov vạm vỡ luôn theo chân.
Có thể Beria đã hiểu rằng chúa tể của Liên Bang Xô Viết sẽ không qua khỏi nếu không được chạy chữa. Nhưng nếu không cố gắng cứu chữa cho Stalin thì vẫn hơn. Quyền lực đang bỏ trống, và tốt nhất nên nắm lấy. Trong những ngày tiếp theo, Beria và ba ủy viên “Bộ Chính Trị cơ động” tranh luận gay gắt để phân chia quyền hành, củng cố vị trí mình và giữ cho các đối thủ tiềm năng phải đứng ngoài cuộc. Do có bốn con cá sấu trong cùng một đầm nước thì cũng đã quá đủ, các cận vệ và người hầu cận ở Kountsevo nhận lệnh không được tiết lộ những gì đã xảy ra… và để cho đồng chí Stalin yên ngủ.
Thế nên Lozgatchev và các vệ sĩ còn lại phải đơn độc bên cạnh ông chủ đang hấp hối. Thêm một ngày nữa trôi qua, mà không có bác sĩ nào được mời đến. Cuối cùng, các nhân viên của MGB và Maria Boutouzova, càng lúc càng lo lắng, cố gắng liên lạc lần nữa với Malenkov. Ông này xiêu lòng, bèn gọi cho Beria và Khrouchtchev, hai người này đùn đẩy sang Bộ Trưởng Y Tế Tratiakov. Rốt cuộc ông bộ trưởng cho gởi đến một toán y bác sĩ do Giáo Sư Loukomski dẫn đầu. Họ đến nơi vào lúc 7 giờ sáng ngày 3 tháng 3, tức 48 giờ sau khi Stalin gặp nạn.
Trước sự hiện diện của bộ tứ, và cả Molotov, Mikoian, Kaganovitch, Vorochilov rồi sau đó là Svetlana cùng với Vassili – con gái và con trai của Stalin – các bác sĩ, run rẩy vì sợ hãi, bắt tay vào công việc. Họ cởi quần áo bệnh nhân, gỡ bộ răng giả ra và chẩn đoán. Nhịp tim và huyết áp thấp, nửa người bên phải bị liệt, nửa người trái bị những cơn co giật.
Từ lúc đó, tiên lượng tỏ ra bi quan: Stalin bị xuất huyết não trái, nặng cho đến nỗi có thể chắc chắn rằng ông ta không bao giờ còn làm việc được nữa. Các bác sĩ kê toa sulphate magnésium (để rửa) và đặt những con đỉa sau tai trái. Rồi đáng sợ thay, đội ngũ hùng hậu ra đi, để lại một bác sĩ thần kinh, một bác sĩ đa khoa, một nữ y tá. Người bệnh được chỉ định là phải… nghỉ ngơi và ăn kiêng.
Vào cuối ngày, các thành viên Bộ Chính Trị trở về điện Kremli. Beria cảm thấy đang mọc cánh và bắt đầu với tay về phía vương trượng của “Sa hoàng đỏ.” Trong buổi chiều, Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, Hội Ðồng Bộ Trưởng và Xô Viết Tối Cao họp lại để giải quyết vấn đề người kế vị. Như vậy là có ba trăm người được thông báo về tình hình thực tế. Vị lãnh tụ già nua được giải phóng khỏi nhiệm vụ tổng bí thư và chủ tịch Hội Ðồng Bộ Trưởng. Người ta không dám gạch tên Stalin khỏi danh sách các ủy viên Bộ Chính Trị.
Việc điều hành tạm thời được giao cho Malenkov, với Molotov (trở lại một cách huy hoàng), Boulganine và Kaganovitch làm phó. Vị trí người đứng đầu an ninh nội chính của Beria càng vững chắc hơn. Cùng với Malenkov và Khrouchtchev, ông ta còn được giao trách nhiệm “sắp xếp” các giấy tờ của Stalin. Ba người này lập tức bắt tay vào công việc, mở các rương giấy tờ bí mật nhất và hủy đi tất cả những gì tố cáo họ có tham gia các vụ thanh trừng trong quá khứ và hiện tại. Việc “phi Stalin hóa” như vậy đã bắt đầu ngay từ khi Stalin vẫn còn thở.
Nếu kể từ sáng 4 tháng 3 các đài phát thanh đã có thể công bố “căn bệnh” của Stalin, thì mức độ báo động đã được tăng lên : từ sáng sớm 5 tháng 3 radio loan báo mạng sống của Stalin đang “lâm nguy.”
Tại Kountsevo, Stalin dường như vẫn luôn ngủ trên chiếc ghế sofa, đôi khi có mở mắt, phát ra được đôi ba tiếng động nhưng không thể nào trả lời những câu nói được người ta thầm thì bên tai.
Liệu có lúc nào đó ông ta cảm nhận được những gì đang diễn ra, giữa hai cuộc họp ở Kremlin? Sau này con gái ông cho biết: “Có lúc ông bỗng mở mắt ra, nhìn bao quát những ai đang đứng xung quanh. Ðó là một cái nhìn khủng khiếp, hoảng loạn và giận dữ, chứa đầy nỗi kinh hoàng trước tử thần và khuôn mặt của các thầy thuốc không quen biết bao quanh. Ánh mắt ấy bao trùm lấy chúng tôi trong một chớp mắt. Rồi ông giơ bàn tay trái lên – có thể là ông chỉ cho chúng tôi điều gì đó trên cao, hoặc là ông đe dọa tất cả mọi người. Hành động này khó thể hiểu được.”
Lời kể của các nhân chứng cũng làm cho Vassili Stalin lo ngại. Là tướng Không Quân và có tiếng là nghiện rượu, anh ta hoàn toàn mất tự chủ và lên án bộ tứ đã “sát hại” cha mình. Cần phải nhờ đến sự quyết đoán của Vorochilov và những cử chỉ thân thiện của Krouchtchev để trấn an được anh ta.
Từ sự tuyệt vọng của người con trai không được sủng ái cho đến lời tuyên bố sau đó của một cận vệ tuy – không thấy gì nhưng khoe là biết tất cả, và đơn giản là cái chết của Stalin làm thỏa mãn được nhiều người, nảy sinh giả thiết nhà độc tài bị ám sát.
Ðiều này khó thể chứng minh.
Ðương nhiên là người ta lên án Beria, người đã được lãnh tụ giới thiệu với Roosevelt và nói rằng: “Ðây là Himmler của chúng tôi.” Nhưng thủ lãnh cơ quan an ninh nội chính, bị Stalin cho giám sát từ nhiều năm, khó thể có khả năng xúi giục một vụ khủng bố, nhất là hoàn toàn không có ảnh hưởng gì lên MGB và các gia nhân ở Kountsevo. Ngay cả nếu ông ta reo lên trước các nhân chứng là: “Tôi đã thắng được ông ấy!” vẫn không có gì làm căn cứ cho giả thiết nào khác, ngoài trách nhiệm trong việc đã để mặc cho sự việc diễn ra một cách tự nhiên, khi trì hoãn việc cứu cấp bệnh nhân.
Giải phẫu tử thi cho thấy cơn xuất huyết não ồ ạt đã trầm trọng thêm do thể trạng của Stalin: ông ta bị chứng xơ cứng tiểu động mạch não (đã được giữ bí mật trong nhiều năm). Với trình độ khoa học của năm 1953, ông khó thể qua khỏi một cuộc giải phẫu. Trong mọi trường hợp, sự nghiệp chính trị của Stalin như thế đã kết thúc.
Vào buổi sáng 5 tháng 3, 1953, Stalin dần bước vào cõi u minh: buồn nôn, khó thở, ói ra máu, trụy tim mạch liên tục, biến chứng ở tim và ngộp thở. Chính là trước một cử tọa đông đảo – gia đình, các nhà quý tộc đỏ, các nhân viên MGB, gia nhân và y bác sĩ, mà người “cha già dân tộc” rốt cuộc đã chịu trút hơi thở cuối cùng.
Lúc đó là 9 giờ 50 phút. Các đồng chí và các con ông hôn lên khuôn mặt đã tím ngắt. Beria quỳ xuống để hôn lên tay Stalin.
Thế giới biết tin về cái chết của Stalin vào sáng hôm sau. Làn sóng xúc cảm, những tiếng kêu khóc vật vã, những lời tán tụng mà cái tin ấy gây nên, ngày nay khó thể hiểu nổi.
Tại Pháp, Hạ Viện dành một phút mặc niệm. Jacques Duclos, quyền tổng bí thư đảng Cộng sản Pháp kêu gọi các nhà máy ngưng hoạt động, tập hợp tại Vélodrome d’hiver nhằm “để tang” ! Tờ Le Monde bình luận trang trọng về “Cái chết của Thống Chế Stalin,” trong khi tựa chính của tờ báo cộng sản L’Humanité dài đến ba dòng nói về “Cái Tang Của Tất Cả Các Dân Tộc khi tưởng niệm đã biểu lộ tình cảm sâu sắc Ðối Với Stalin Vĩ Ðại.” Vài hôm sau, trang nhất của tạp chí Văn Chương Pháp đăng chân dung của người quá cố do Picasso vẽ, tạo ra một cuộc tranh cãi dữ dội và giám đốc tạp chí là Louis Aragon phải xấu hổ tự kiểm điểm.
Tại Liên Xô, nếu chỉ nói là sững sờ và đau buồn bao phủ lên 200 triệu con người từ nay bị mất đi lãnh tụ, thì hãy còn quá nhẹ. Sự xúc động còn có thể cảm thấy ở các gulắc, không chỉ vì cái tin này gợi lên hy vọng nơi những người tù. Hàng chục ngàn người khóc sướt mướt diễu qua trước cái xác ướp đặt tại đại sảnh của trụ sở các nghiệp đoàn ở Matxcơva, nơi từng diễn ra các phiên xử quan trọng.
Ngày 9 tháng 3, sau vụ chen lấn hỗn loạn trên đường phố gây ra hàng trăm nạn nhân, xác của Joseph Stalin được trọng thể đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng: lăng mộ tại Quảng trường đỏ. Ông ta được đặt cạnh Lênin – từ hơn ba chục năm qua Stalin vẫn được xem là “người nối nghiệp thiên tài của Lênin. Hệ thống tuyên truyền Xô Viết loan báo hôm ấy có 5 triệu người khóc lóc tiễn đưa Stalin trên các đường phố. Con số được thổi phồng này tuy vậy không làm giảm đi sự long trọng của đám đông tham dự tang lễ.
Vào tháng 3, 1953, hiếm ai biết được hay thậm chí nghi ngờ về mặt trái các tác phẩm của Stalin. Ông ta đã để lại phía sau nhiều máu và nước mắt nhất trong lịch sử. Không kể Ðệ Nhị Thế Chiến, Stalin đã làm cho ít nhất 20 triệu người chết do bị lưu đày, thanh trừng, ám sát cá nhân hay tàn sát tập thể, nạn đói. Những người chân thành khóc thương “người hướng đạo,” “cha già dân tộc,” “người bạn lớn nhất của trẻ em,” “người mạnh nhất và sáng suốt nhất” chỉ thấy nơi ông ta người lãnh đạo một cuộc cách mạng đã đưa nước Nga ra khỏi thời Trung cổ, và thắng được phát-xít với một cái giá bằng máu chóng mặt.
Chiếc khăn voan che đậy những tộc ác của “con quỷ đỏ” chỉ được vén lên từ từ. Nhưng cho dù nhiều tù nhân được trả tự do (trong đó có các chiếc “áo choàng trắng”), việc trừ khử Beria một cách thô bạo (tháng 12, 1953), báo cáo của Khrouchtchev (tháng 2, 1956), sự trình diễn ngắn ngủi của một chủ nghĩa bôn-sê-vich cởi mở và việc đưa xác ướp ra khỏi lăng (ngày 31 tháng 10, 1961), Liên Xô và nước Nga vẫn chưa chấm dứt được với Joseph Stalin.
(Nguồn: Diễn Ðàn X-Cafe)
Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới và Hội Quân Cảnh tân niên
Dân Huỳnh/Người Việt
WESTMINSTER (NV) – Theo thông lệ hàng năm, Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới và Hội Quân Cảnh Nam California vừa tổ chức họp mặt tân niên vào lúc 5 giờ 30 chiều Chủ Nhật, 3 Tháng Ba, tại nhà hàng Paracel, Westminster.
Ban Ðại Diện Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới và đại diện Hội Quân Cảnh Nam California ra mắt đại hội. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Buổi dạ tiệc diễn ra trọng thể, với sự tham dự rất đông đủ của quan khách và truyền thông. Ðặc biệt là sự có mặt của ba vị dân cử gốc Việt địa phương, ông Trí Tạ (thị trưởng Westminster), Luật Sư Dina Nguyễn (phó thị trưởng Garden Grove), ông Michael Võ (phó thị trưởng Fountain Valley) và Luật Sư Chris Phan (nghị viên Garden Grove), và một số ban đại diện cộng đồng, đoàn thể.
Ông Trí Tạ cho biết: “Phát triển võ thuật cho cộng đồng là một điều quan trọng nhất mà thành phố luôn quan tâm. Võ thuật vừa đem đến sức khỏe cho cộng đồng và cũng đem đến tinh thần thượng võ, tinh thần dân tộc của người Việt Nam ở hải ngoại. Ðã có rất nhiều võ sinh Việt Nam ở hải ngoại đem vinh dự vẻ vang cho người Việt Nam qua các cuộc thi đấu quốc tế và tổng hội ở Nam California. Các võ đường cũng hoạt động rất thành công trong thời gian qua. Tôi xin chúc mừng.”
Ðược biết, Thị Trưởng Trí Tạ cũng là một võ sư 4 đẳng Taekowndo, và có huyền đai Judo.
Ông Phillip Nguyễn, đại diện Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới, cho biết: “Qua 18 năm hoạt động, chúng tôi đã được sự ủng hộ và danh tiếng khắp nơi. Dạ tiệc tân niên hôm nay của tổng hội cũng để chuẩn bị cho Ðại Hội Võ Thuật Quốc Tế kỳ 2 vào Tháng Bảy năm nay tại Nam California. Chúng tôi hy vọng đại hội sắp tới sẽ có sự góp mặt đầy đủ các bộ môn võ thuật khác nhau của người Việt trên khắp nơi thế giới về tham dự.”
Từ trái, ông Trí Tạ (thị trưởng Westminster), Luật Sư Chris Phan (nghị viên Garden Grove) và ông Michael Võ (phó thị trưởng Fountain Valley) lên sân khấu chúc mừng đại hội. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Dạ tiệc diễn ra thật trang trọng, thân mật, vui vẻ với chương trình ca nhạc phong phú đặc sắc và biểu diễn võ thuật của các môn phái.
Ðược biết Ban Chấp Hành Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới hiện có võ sư Lý Hoàng Tùng, giáo sư Hà Huyền Thanh, võ sư Văn Công Ðịnh, võ sư Lê Quang Thế và võ sư Philip Nguyễn.
Tân Xuân hội ngộ của đồng hương Bà Rịa-Phước Tuy
Nguyên Huy/Người Việt
WESTMINSTER (NV0) – Hơn 400 đồng hương và thân hữu của Hội Ðồng Hương Bà Rịa-Phước Tuy đã hẹn nhau tại nhà hàng Paracel, Westminster, vào trưa hôm Chủ Nhật, 3 Tháng Ba để cùng nhau vui đón một mùa Xuân mới.
Ban hợp ca “KBC 4311” của đồng hương Bà Rịa-Phước Tuy trong cuộc hội ngộ tân niên. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Tha hương mà ngộ cố tri đối với đồng hương và thân hữu Bà Rịa-Phước Tuy là cả một điều hạnh phúc trong những ngày đầu Xuân. Biết như vậy nên ban tổ chức đã thiết lập mục chụp hình lưu niệm với nhau ngay tại cửa vào nhà hàng.
Không một khách đến tham dự nào từ chối tiết mục ý nghĩa này, nhất là sau khi chụp xong, được ban tổ chức cho biết không phải trả một phí khoản nào khi lấy hình ít phút sau đó. Ðược biết, đây là sự đóng góp vô vị lợi của nhóm Nhiếp Ảnh Gia Tài Tử Lâm Minh Nghị, mà theo ông Lê Minh Nghị thì “cốt để vui chơi với nhau trong dịp hội ngộ đầu Xuân mà.”
Những người trong Hội Ðồng Hương Bà Rịa-Phước Tuy sở dĩ có niềm quyến luyến nhau không chỉ vì tình đồng hương mà còn vì cái tình đã có thời gắn bó với nhau trong thời lửa đạn.
Chả là tỉnh Bà Rịa-Phước Tuy có một thị xã nổi tiếng là Vũng Tầu, một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng nhất Việt Nam mà không người Việt ở miền Nam nào lại không biết đến và ít ra cũng có được một đôi lần ghé qua. Vũng Tầu còn là nơi tụ hội của những người lính truyền tin, của những chàng trai áo trắng mê mộng hải hồ trong Hải Quân QLVNCH, của những thiếu niên can trường Thiếu Sinh Quân, của những người trai áo đen Biệt Chính, Xây Dựng Nông Thôn và cũng của không biết bao nhiêu công chức đến thụ huấn các lớp Biệt Chính để thích ứng với vị trí người cán bộ của chính quyền VNCH, vừa tay sổ sách, công văn, vừa tay súng để sẵn sàng đối phó với Cộng Sản. Chưa hết, Vũng Tầu còn là nơi hội tụ biết bao hoảng loạn của người miền Trung di tản vào Nam cuối Tháng Ba, và cũng là nơi hội tụ biết bao niềm hoảng hốt, rã rời vào những ngày cuối Tháng Tư, 1975 của người dân Sài Gòn.
Nên những đồng hương cũng như thân hữu Bà Rịa-Phước Tuy hội ngộ nhau không chỉ để vui Xuân đơn thuần mà còn để mừng nhau đã thoát được khỏi Vũng Tầu khi Vũng Tầu bị cộng sản tạm chiếm.
Ông Phạm Hữu Hòa, trưởng ban tổ chức buổi hội ngộ đầu Xuân năm nay, cho biết ông là một người “nhập cư” Bà Rịa năm 1965 nhưng con cái thì sinh trưởng ở Bà Rịa cả nên “gia đình chúng tôi tự coi là người Bà Rịa-Phước Tuy.” Ông cũng cho biết: “Nhưng hội chúng tôi thì từ ngày thành lập vẫn giữ một tôn chỉ là hội trưởng phải là người gốc Bà Rịa-Phước Tuy. Ðến nay thì hội chúng tôi cũng quy tụ được 360 hội viên chính thức ghi trong danh sách hội viên. Nhưng mỗi lần hội có sinh hoạt vào dịp Hè hay tân niên thì số bà con thân hữu cũng kéo nhau đến nên vui chung như hôm nay chúng tôi đặt nhà hàng có 38 bàn mà khách đến quá số dự trù nên phải đặt thêm mấy bàn nữa.”
Tiếng trống lân của đoàn lân Quang Trung như một hồi còi lệnh mời gọi mọi người an vị để cuộc vui hội ngộ bắt đầu bằng những điệu múa chúc phúc điệu nghệ của lân. Tiếng trống vừa dứt, trưởng ban tổ chức Nguyễn Ngọc Hoán trang trọng bước lên sân khấu hoan hỉ chúc Tết mọi người, cầu mong một năm mới an hòa hạnh phúc đến khắp mọi người và xin tất cả cùng nghiêm chỉnh hướng về lá cờ Hoa Kỳ và VNCH làm lễ chào cờ mặc niệm rồi cùng nhau hướng về bàn thờ tổ quốc cầu nguyện cho đất nước sớm được thanh bình thoát nạn độc tài cộng sản.
Ngay sau nghi lễ, tân Hội Trưởng Phạm Hữu Hòa lên trình diện trước bà con đồng hương và giới thiệu tân Ban Chấp Hành mới được hội bầu vào tối hôm trước.
Phát biểu trong dịp này, tân hội trưởng đã ngỏ lời tri ân đến sự tín nhiệm của bà con trong hội đã ủy thác cho nhiệm vụ nặng nề trong nhiệm kỳ này mà nếu như không có sự hỗ trợ tích cực của các anh chị em trong ban chấp hành cũng như của bà con thì không thể nào chu toàn được trách nhiệm người hội trưởng. Sau đó ông Hòa trân trọng mời các thành viên trong tân Ban Chấp Hành lên trình diện đồng hương và thân hữu.
Theo MC Trương Kim Hường giới thiệu, lần lượt là ông Phạm Hữu Hòa (hội trưởng), ông Trần Phước Anh (phó nội vụ), ông Lâm Văn Long (phó ngoại vụ). Thủ quỹ gồm ông Trần Minh Chiểu và bà Lương Thị Nga. Hai thư ký là bà Phạm Thị Ngọc và ông Ðỗ Chí Sơn. Kế hoạch là hai ông Lê Văn Phùng và ông Lê Việt. Xã hội là hai ông Nguyễn Ngọc Hoán và Lê Tôn Huân. Báo chí bà Trương Kim Hường, văn nghệ bà Ðào Kim Dung.
Bà con đồng hương và thân hữu đã vỗ tay nồng nhiệt đón tân hội trưởng và tân Ban Chấp Hành vì đây cũng là những nhân vật thường xuyên tích cực trong các công tác của hội từ nhiều năm nay.
Rồi các thành viên mới cũ trong hội thi nhau tặng lộc đầu Xuân cho nhau và cho một số thân hữu đặc biệt trước khi chúc thọ các vị cao niên và mừng tuổi các em nhỏ trong hội.
Một chi tiết khá thú vì là một ban nhạc với nhiều nữ ca sĩ có giọng ca rất hay của Bà Rịa-Phước Tuy, lấy tên là ban hợp ca “KBC 4311” có lẽ là để ghi dấu Bà Rịa-Phước Tuy từng có một thời gian được kể như một đơn vị bưu cục quân đội vì là nơi tập trung của nhiều quân trường và các đơn vị hải quân trong QLVNCH. “KBC 4311” đã trình bày xuất sắc một số ca khúc mừng Xuân khiến cho không khí buổi hội ngộ càng thêm vui tươi, ý nghĩa.
Ðồng hương và thân hữu Bà Rịa-Phước Tuy vui vẻ chờ chụp chung nhau một tấm hình lưu niệm. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Có mặt trong buổi hội ngộ này, ông Bùi Văn Lớn, cựu quận trưởng Long Ðiền, thuộc Bà Rịa-Phước Tuy trước đây, bồi hồi kể: “Gặp nhau đây lại nhớ những ngày cuối cùng ở Bà Rịa-Phước Tuy. Chúng tôi ai nấy đều bàng hoàng, ngẩn ngơ không tin rằng chúng ta lại có thể bị mất trong tay địch quá dễ dàng và nhanh chóng như vậy trong khi chúng ta vẫn còn đủ lực lượng, như ở quận Long Ðiền lúc ấy chúng tôi vẫn còn làm chủ tình hình. 38 năm qua rồi nay mình đã biết được những nguyên ủy của biến cố 30 Tháng Tư, 1975, cảm thấy thương cho đất nước và dân tộc của mình quá xấu số, ngưng tiếng súng rồi mà vẫn không có được một ngày sống an bình, no đủ.”
Quý độc giả muốn biết thêm chi tiết về Hội Ðồng Hương Bà Rịa-Phước Tuy có thể liên lạc với hai số điện thoại (714) 484-2804 và (714) 890-9574.
––-
Liên lạc tác giả: [email protected]
Shepard Lowman, bạn của người Việt tị nạn, vừa ra đi
Tâm Việt
FAIRFAX, Virginia –Sinh ngày 21 Tháng Chín, 1926, ông Shepard Lowman có một cuộc đời dài và tràn đầy ý nghĩa như một nhà ngoại giao, một nhà từ thiện và nhất là như một người bạn thiết thân của Việt Nam và cộng đồng Việt Nam.
Ông Shepard Lowman, cựu phó phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ. (Hình: Tâm Việt cung cấp)

Sau khi tốt nghiệp Trường Luật Harvard ra, Shep (tên gọi thân thuộc giữa bạn bè và gia đình) đã đi vào ngành ngoại giao và, sau khi phục vụ ở một số nhiệm sở, được gởi đến Việt Nam vào năm 1966. Gần như tức khắc, Shep đã yêu Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Tết Mậu Thân 1968, Shep đang làm việc ở Châu Ðốc, nơi mà ông gặp bà Hiệp, vợ ông sau này.
Năm 1974, Shep lại có dịp sang Việt Nam và thời gian này ông phục vụ trong ban chính trị của Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Với chức vụ này, ông được giao trọng trách lo đưa cả ngàn thân nhân gia đình Mỹ và những quan chức Việt Nam ra khỏi nước, trong những ngày hỗn độn vào cuối Tháng Tư, 1975. Ða phần những người này sau đó đã đi định cư ở Hoa Kỳ.
Lúc đầu, Mỹ chỉ có ý định đón nhận 37,000 người Việt mà thôi. Sau đó, Tổng Thống Gerald Ford quyết định nâng con số đó lên 137,000 và chỉ định bà Julia Vadala Taft cai quản luôn chiến dịch đưa những người này vào nước Mỹ. Thật may mắn là bà Taft đã được sự phụ giúp của ba người được thiên hạ gọi đùa là “ba anh cao bồi Sài Gòn” ở Bộ Ngoại Giao. Một trong ba người này là Shep Lowman.
Sau đó, ba người vật lộn với hệ thống quan liêu ở Washington để có được đủ ngân sách lo cho bốn trại tỵ nạn đầu tiên trên lục địa Hoa Kỳ tiếp người Việt Nam, cũng như lo chi trả cho các cơ quan thiện nguyện làm trung gian trong việc tái định cư người tỵ nạn mà lúc bấy giờ còn gọi là “thành phần tạm dung.”
Trong vòng 10 năm sau đó, khoảng 1.5 triệu thuyền nhân được nhận và tái định cư ở Mỹ, Canada, Tây Âu và Úc, cộng với các chương trình khác như ODP, HO, ROVR, con lai…
Trong khi đó, năm 1981, ông Shep Lowman lên tới chức phó phụ tá ngoại trưởng đặc trách chương trình tỵ nạn. Trong vai trò này, Shep giúp thay đổi các chính sách trong chương trình tỵ nạn của Mỹ để cho hợp thời hơn và làm việc không mệt mỏi nhằm đưa những người đã từng là đồng minh của Mỹ trong một cuộc chiến bạo tàn tìm được nơi trú ẩn ở Mỹ.
Trong mọi vai trò ở Bộ Ngoại Giao Mỹ, Shep đã có dịp làm việc với nhiều tổ chức của người Mỹ gốc Việt để cho họ có thể tham gia giúp đỡ chính đồng bào của họ, trong đó phải kể Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (khi ủy ban này đóng cửa vào năm 1990 thì Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển BPSOS ở Virginia đã thay thế), Hội Gia Ðình Tù Nhân Việt Nam (của bà Khúc Minh Thơ), Ủy Ban Liên Tôn về Tỵ Nạn và Nhân Quyền, Project Ngọc…
Một nguyên tắc làm việc của Shep Lowman là ông tìm cách động viên người đi trước giúp người đi sau. Tại Ðại Hội Thể Thao Bắc Mỹ vào mùa Hè 1987 ở Ðại Học Maryland, ông nói: “Trong khi các bạn đang vui chơi và tranh tài, xin hãy nhớ là có hàng ngàn thanh niên thanh nữ ở trong các trại tỵ nạn cũng đang mơ tới ngày được tranh tài và vui chơi như các bạn.”
Bài nói chuyện này sau đó đã được nhiều thanh niên sinh viên hưởng ứng và ra tay giúp đồng bào trong các trại.
Riêng ở vùng Washington, DC, Shep giúp Cộng Ðồng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam lấy một giao kèo với ACNS (Hội Ðồng Hoa Kỳ Về Các Dịch Vụ Cho Người Thiểu Số) để thành lập BSS (tổ chức Phật giáo Phụng sự Xã hội), cơ quan đã giúp tái định cư 3,000 người tỵ nạn Ðông Dương trong vùng Maryland-DC-Virginia.
Khi Shep về hưu, ông vẫn tiếp tục giúp người tỵ nạn. Ông cũng giữ một số chức vụ ở Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ, Jesuit Refugee Service, và Refugees International. Ông tiếp tục kêu gọi tiếp nhận người tỵ nạn Ðông Dương.
Ngày nay, có không biết bao nhiêu người gốc Việt, Miên, Lào đón tiếp được gia đình đoàn tụ là nhờ Shep. Sự thành công của họ chính là bia công đức của ông.
Ngoài ra, từ năm 1991, Shep đã ở trong Ban Quản Trị tổ chức Vietnam Aid to the Handicapped (VNAH), do anh Trần Văn Ca làm chủ tịch, giám sát việc trao xe lăn cho hàng ngàn thương binh người Việt ở khắp hai miền Nam Bắc. Ông cũng giúp Việt Nam thảo ra luật và xây dựng những lối đi cho người dùng xe lăn.
Trong cộng đồng Việt Nam, Shep sẽ được nhớ như một người rộng lòng từ bi, săn sóc cho cả những em như Tuấn Võ, một em bị bệnh hoại huyết ở Mỹ, và cùng với bà Hiệp đỡ đầu cho 60 em nhỏ bị bệnh AIDS ở Việt Nam. Những ai biết Shep thì thế nào cũng sẽ nhớ ông, nhớ tình thân ái và tấm lòng lúc nào cũng chăm lo cho mọi người chung quanh.
Ông Shepard Lowman vừa qua đời hôm Thứ Bảy, 2 Tháng Ba, ở tuổi 86, tại tư gia ở Fairfax, Virginia, để lại người vợ thân thương, bà Hiệp Lowman, bốn người con trai (Thomas Trịnh, Nguyễn Ðình Phúc, John Trịnh, Mark Nguyễn) và bốn người con gái (Kate, Mary, Lina và Lisa).
Ông bà Lowman cũng có 20 cháu nội ngoại và một chắt, và một nghĩa đệ, ông Phạm Tấn Phước.
Vì ông đã quy y theo Phật Giáo Tây Tạng (với pháp danh Lobsang Changchup, nghĩa là Tâm Bồ Ðề) nên tang lễ sẽ được cử hành vào Thứ Sáu, 3 tháng 8, từ 10 giờ đến 12 giờ, ở Lee National Funeral Home, 7482 Lee Highway, Falls Church, VA 22042, theo nghi lễ Phật Giáo Tây Tạng, Ðại Thừa Việt Nam và Tiểu Thừa Lào.
Khu Rừng Lau (Kỳ 92)
Tất cả bạn bè đều biết câu chuyện tình của Duy Hoàn với nữ cán bộ Phương Thảo. Trí tưởng tượng của Duy Hoàn thật phong phú!
Ngày đó và cuối năm 1945, đoàn tuyên truyền xung phong Kiến An vừa thành lập, Duy Hoàn hay tin trong đoàn của anh sẽ có một cô gái tên là Phương Thảo, anh mê ngay tên đó, rồi muốn mê luôn cả người, mặc dầu anh chưa biết mặt người đẹp. Phương Thảo là cỏ thơm, cái tên sao mà hiền sao mà thơ mộng, sao mà lãng mạn! Anh tự nhiên thích tất cả những câu cổ thi trong đó có hai chữ phương thảo.
Anh ngâm lớn:
Vương Tôn du hề bất quy
Phương Thảo thanh hề thê thê.
Rồi hôm khác anh ngâm bài khác:
Xuân du Phương Thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Ðông ngâm bạch tuyết thi.
Một anh bạn nghiêng tai lắng nghe rồi lắc đầu cải chính bằng giọng thân mật:
– Không phải rồi ông ơi, “Xuân du thanh thảo địa” mới đúng! Bốn câu thơ nhấn mạnh ở bốn sắc màu thanh thảo địa, lục hà trì, hoàng hoa tửu, bạch tuyết thi.
Nhưng Duy Hoàn vẫn khăng khăng ngâm theo ý hướng của anh:
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
…
Rồi người đẹp Phương Thảo tới nhận công tác, nàng đẹp và hiền đúng như Duy Hoàn đã tưởng tượng trước. Duy Hoàn được bầu làm trưởng ban, người ta cấp cho anh một chiếc xe ngựa, một con ngựa. Dưới quyền của anh có Phương Thảo và hai anh Vệ Quốc Quân nữa, vị chi là bốn người. Duy Hoàn có mang theo chiếc mandoline của anh. Thế là chiếc xe ngựa cọc cạch chở bốn người đi hết làng này đến làng nọ, hết tổng này đến tổng nọ để tuyên truyền giải thích đường lối của chính phủ. Trước khi diễn thuyết mọi người đứng nghiêm làm lễ chào cờ, cùng hát quốc ca, Duy Hoàn đánh mandoline theo. Lẽ cố nhiên anh và Phương Thảo yêu nhau và khi ban tuyên truyền đến tổng Ðồ Sơn sẵn cảnh sơn thủy hữu tình khích lệ, Duy Hoàn đã hoàn toàn chiếm hữu Phương Thảo dưới ánh trăng, khoảng bãi cỏ thơm, trên mỏm Hòn Ðẩu, một địa điểm tuy đẹp thật nhưng đượm vẻ khốc liệt của chốn sơn cùng thủy tận. Sau phút ân ái Phương Thảo gục đầu lên vai anh khóc nức khiến cảnh núi, rừng, trăng, biển Hòn Ðẩu bỗng như run rẩy trong cô quạnh và tang thương. Sau đó Phương Thảo được cử đi công tác nơi khác, Duy Hoàn gia nhập bộ đội, rồi kháng chiến toàn bùng nổ, hai người không được gặp nhau nữa. Linh tính cho Duy Hoàn hay Phương Thảo đã chết, Duy Hoàn tin chắc vậy.
Vào bộ đội chiến đấu, Duy Hoàn truy kích binh đoàn Pháp trong chiến dịch sông Lô, phục kích tiêu hao địch trên quốc lộ số 4, thuyên chuyển sang trung đoàn 42 để đặt mìn phá hoại đường số 5 cùng công đồn địch tại Hưng Yên Hải Dương, ở đâu anh em cũng thấy Duy Hoàn hăng hái đi hàng đầu, tự nêu khẩu hiệu đánh nhan đánh mạnh, vì trong tâm linh Duy Hoàn luôn luôn có tiếng nói huyền bí của Phương Thảo: “Anh tiến thật nhanh đi, đánh thật mạnh đi, đã có em phù hộ.” Trước khi được cử sang Tàu theo học Lục quân khóa bảy Duy Hoàn được tặng huân chương chiến sĩ hạng nhất. Anh em đồng đội thường gọi đùa Duy Hoàn là Mã Siêu (trong Tam Quốc). Trong dịp đi tuyên truyền ở các làng, các tổng quanh Kiến An, Duy Hoàn đã được chứng kiến cảnh người cộng sản thủ tiêu anh em Dân Chủ đảng, cho nên sau này anh chiến đấu rất anh dũng cho kháng chiến chứ nhất định khước từ lời dụ dỗ vào Ðảng. Vào Ðảng theo ý anh là a tòng với bọn giết người (giết anh em Dân Chủ đảng). Anh đâu có là đảng viên Dân Chủ nhưng một hình ảnh ghê tởm nào anh đã thấy thì in sâu trong trí anh đến mãn đời, anh vốn giàu tưởng tượng!
Duy Hoàn chẳng còn ai thân thích trên đời, cha mẹ đã mất sớm, anh trên chẳng có, em dưới thì không, lẽ ra anh không phải lên bàn mổ tam phản, nhưng ban lãnh đạo học tập thấy cần phải mổ xẻ anh vì bốn điểm sau này:
– Một người không phải là đảng viên mà chiếm được nhiều tình cảm quần chúng như vậy rất có hại cho sự lãnh đạo của Ðảng.
– Mối tình của Duy Hoàn với Phương Thảo sặc mùi lãng mạn tiểu tư sản.
– Duy Hoàn trước đây rất giỏi đàn tam thập lục, thường ca ngợi những bài Tàu như Vương cô nương, một thứ tiểu tư sản và bài Nhì Voòng (nhị vương) ca ngợi phong kiến.
– Ưa những chuyện huyền bí có hại cho ánh sáng Mác-Lê.






