Super Bowl XLVII: Chỉ có điên mới buông thằng 49ers

 


Nguyễn Văn Khanh


 


Phải đợi 18 năm đội San Francisco 49ers mới xuất hiện trở lại trong trận Super Bowl. Phải đợi 18 năm mới có dịp nhìn thấy một đoàn quân xứng đáng để đại diện cho miền Tây và tiêu biểu cho làng banh cà na nước Mỹ.









Quarterback Colin Kaepernick số 7 của San Francisco 49ers ném banh trong hiệp đầu tiên của trận tranh vô địch NFC với đội Atlanta Falcons diễn ra tại Georgia Dome, Atlanta, Georgia, ngày 20 Tháng Giêng 2013. (Hình: Chris Graythen/Getty Images)


Phải đợi 18 năm mới thấy lại hình ảnh huy hoàng của thời 49ers có Joe Montana và Steve Young. Phải đợi 18 năm mới có cơ hội hò hét hết mình để ủng hộ đội banh chắc chắn sẽ đoạt vô địch Super Bowl XLVII.


Thời gian chờ đợi quá dài. Thời cơ bây giờ đã đến. Chỉ có điên mới buông 49ers.


Nếu 2 anh em Jim và John Harbaugh không là huấn luyện viên của trận banh diễn ra chiều Chủ Nhật tuần này, chắc chắn mọi chú ý sẽ được đổ dồn cho anh QB Colin Kaepernick, cầu thủ đã dẫn San Francisco vượt qua mọi chướng ngại của 2 dàn defense Green Bay Packers và Atlanta Falcons trên đường dẫn về New Orleans. Rất trẻ, mới được giao phó trách nhiệm điều binh khiển tướng có 11 tuần lễ, nhưng anh QB cao 6’4 nặng 230lbs đã làm hơn những gì mọi người trông chờ. Anh ném banh tài, anh chạy banh cũng nhanh, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là tài ứng biến mà anh thể hiện trên sân cỏ. Chính tài ứng biến đó giúp cho những người ủng hộ 49ers thêm vững tâm, biết anh sẽ đưa dàn offense tiến sau vào vùng đất địch, bất kể những cầu thủ siêu sao mà Baltimore Ravens đang có.


Colin Kaepernich có đủ thì giờ để trổ tài ứng biến nhờ sự bảo vệ của dàn “front five” với Joe Staley, Mike Iupati, Anthony Davis, Johnathan Googwill và anh RG Alex Boone. Nếu không có những cầu thủ dựng tường bảo vệ cho người cầm quân, có lẽ tên tuổi Kaepernich đã không được nhắc nhở tới trong những ngày tháng qua. Cả Staley (6’5, 315lbs) lẫn Iupati (6’5, 313lbs) đều giỏi ở điểm vừa chống đỡ được sức truy cản của đối thủ, vừa mở được đường cho Frank Gore cầm banh chạy.









Frank Gore số 21 của San Francisco 49ers trả lời các câu hỏi của giới truyền thông báo chí trong ngày Super Bowl XLVII Media Day 29 Tháng Giêng 2013 tại Mercedes Benz Superdrom, New Orleans, Louisiana. (Hình: Chris Graythen/Getty Images)


Ðã nói đến Frank Gore thì phải nhắc tới LaMichael James cho công bằng. Chắc chắn Gore sẽ là cầu thủ cầm banh chạy chính, nhưng từ ngày Kendall Hunter bị thương đến giờ, cậu sinh viên của Ðại Học Oregon mới gia nhập làng banh nhà nghề được đưa vào sân nhiều hơn. Hai tuần trước đây trái TD của anh đã giúp 49ers cân bằng thế cờ với Atlanta và ở trận banh sắp diễn ra, anh có thể được đưa vào sân trong cả 2 vai trò của RB lẫn WR.


Không thể nào buông 49ers vì hội banh miền Tây có làn linebackers tuyệt vời, hơn hẳn Ray Lewis và Terrell Suggs của Baltimore. Dẫn đầu với Patrick Willis, đứng sát bên cạnh là NaVorro Bowman, ở rìa sân có Aldon Smith và Ahman Brooks đầy kinh nghiệm chận đứng những đường banh dài của đối thủ. Những khuôn mặt nổi bật này không chỉ giúp cho dàn defense của 49ers trở nên vững vàng hơn, mà phải nói cho đúng: Họ là linh hồn của dàn defense mà San Francisco có thể gầy dựng được. Bất kể Baltimore ra sân với đấu pháp nào, bất kể dàn huấn luyện viên của Ravens chủ trương passing hay rushing, chắc chắn các dường banh của Ravens không thể nào qua được màng lưới chắn dầy đặc những linebackers lẫy lừng nhất của NFL hiện nay.









Patrick Willis số 52 của San Francisco 49ers vui mừng khi đoạt được banh trong trận đấu với Seattle Seahawks diễn ra trên sân CenturyLink Field, Seattle, Washington ngày 23 Tháng Mười Hai 2012. (Hình: Stephen Brashear/Getty Images)


Nói đến dàn defense của 49ers, không thể bỏ sót anh DT Justin Smith mang số 94, cầu thủ đóng được mọi vai trò của San Francisco. Năm nay 33 tuổi, Smith nằm trong danh sách những cầu thủ defense tài ba nhất của NFL hiện giờ, tài năng ngày một nổi bật hơn kể từ khi anh rời Cincinnati Bengals để về trình diện 49ers. Một yếu tố tâm lý cũng tạo khí thế cho San Francisco: Trong lúc Baltimore quây chung quanh Ray Lewis, muốn cho anh cầu thủ mang số 52 này cầm chiếc cúp vô địch trước khi giải nghệ, dàn defense của San Francisco cũng đang âm thầm làm điều đó, muốn Justin Smith có chiếc nhẫn Super Bowl đeo trên tay.


Chẳng có lý do gì để buông 49ers cả. Kết quả Super Bowl XLVII: San Francisco 27-Baltimore 21.





Super Bowl XLVII


Baltimore Ravens vs. San francisco 49ERS


Ðịa Ðiểm: Sân vận động Mercedes-Benz Super Dome, New Orleans


Ngày giờ: Chủ Nhật, mùng 3 Tháng Hai 2013 lúc 3 giờ 30 chiều


Trực tiếp truyền hình: Ðài số 2 CBS


Ðiểm chấp: San Francisco chấp 3 rưỡi


UNDER/OVER: 47

Huế 1968: Ðịa Ngục mở cửa



Thiện Giao/Người Việt


 


HUẾ –Khuya Mùng Một, rạng sáng Mùng Hai Tết Mậu Thân, tức 31 Tháng Giêng, 1968, Huế bắt đầu những ngày vui, nhưng bất ngờ chuyển thành ngưỡng cửa vào địa ngục, khi tiếng súng bỗng hòa vào, rồi thay hẳn tiếng pháo.









 Thời khắc lịch sử tại Kỳ Ðài, Phu Lâu, Huế 1968


Cố Ðô những ngày giáp Tết


 


1968, những ngày giáp Tết Mậu Thân, Huế vẫn bình yên, một tình trạng bình yên của thời chiến. Chợ hoa đầu cầu Trường Tiền vẫn mở. Chợ Ðông Ba, dân chúng vẫn tụ tập, mọi người vẫn hớn hở. Vẫn có tiếng đại bác xa xa vọng về, nhưng vẫn là một trạng thái yên bình.


Linh Mục Phan Văn Lợi, vào thời điểm 1968, mới 17 tuổi, hồi tưởng: “Tình hình tạm yên, vẫn nghe tiếng đại bác từ xa vọng về. Nhưng lúc ấy tôi thấy yên lành hơn. Vì thường thường hai bên đình chiến.”


Ðình chiến, một danh từ hấp dẫn. Ðối với Huế, đình chiến có nghĩa là được thêm vài chục giờ thanh bình.


Hồi tưởng lại những ngày giáp Tết Mậu Thân, ông Nguyễn Phúc Liên Thành, lúc ấy là phó trưởng ty Cảnh Sát Ðặc Biệt, Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia, tại Thừa Thiên, cho biết: “Huế những ngày ấy thanh bình hơn những ngày khác. Chợ Hoa đầu cầu Trường Tiền, chợ Ðông Ba, đông dân chúng tụ tập, mọi người hớn hở. Mọi người biết có thỏa hiệp đình chiến giữa Việt Nam Cộng Hòa, đồng minh và Việt Cộng. Ðình chiến ba ngày Tết để dân chúng được hưởng một cái Tết thanh bình giữa tình trạng chiến tranh.”









 Những cái chết oan khuất


Từ Sài Gòn, những người gốc Huế cũng háo hức về đất thần kinh đón Xuân. Anh Nguyễn Xuân Thắng, năm 1968 vừa tròn 7 tuổi, nhớ lại: “Mình là dân Huế, được về Huế thì rất mừng. Khung cảnh Huế yên tĩnh, rất thơ mộng. Tối 30, ông bác dẫn về nhà ông nội ở đường Hàn Thuyên, đối diện nhà Luật Sư Lê Trọng Quát. Tối đó người lớn đi chơi thì chở mình đi theo.”


“Ra đến cầu Tràng Tiền thì thấy xe tăng hai bên đường. Tôi nghe người lớn nói với nhau: Không biết chuyện gì xảy ra tối nay.”


Và tối hôm ấy, mọi chuyện xảy ra thật.


 


“Họ” đã vào thành phố


 


Huế bị tấn công trong Chiến Dịch Ðông Xuân 1967-1968 của quân đội miền Bắc một ngày sau các tỉnh, thành phố, thị trấn khác của miền Nam.


Bị tấn công sau, nhưng Huế lại trở thành chiến trường tàn khốc nhất, dai dẳng nhất. Nếu chấp nhận định nghĩa, là những tiếng đạn pháo đầu tiên sẽ qui định giờ khắc bắt đầu cuộc chiến, thì Huế chính thức trở thành chiến trường vào đúng 2 giờ 33 phút rạng sáng ngày 31 Tháng Giêng.


Ông Nguyễn Phúc Liên Thành nhớ lại: “Cuộc tấn công Huế chính thức khơi mào đêm Mồng Một, ngày 31 Tháng Giêng, 1968, rạng sáng Mồng Hai Tết, lúc 2 giờ 33 phút. Những quả đạn Việt Cộng đầu tiên bắn vào phi trường Tây Lộc, Bộ Tư Lệnh và một số địa điểm quận 3, thị xã Huế.”






Khoảng thời gian đình chiến, theo tài liệu xuất bản Tháng Tám, 1968, do Trung Tá Phạm Văn Sơn chủ biên, trước định 48 giờ, sau được lệnh rút xuống 36, nghĩa là, lệnh hưu chiến chỉ còn giá trị từ 18 giờ ngày 29 Tháng Giêng đến 6 giờ ngày 31 Tháng Giêng, 1968.


Thực tế, bộ đội Bắc Việt đã có mặt trong thành phố từ sáng sớm Mùng Một Tết. Ông Trần Ngọc Huế, vào thời điểm đó là đại đội trưởng Ðại Ðội Hắc Báo thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, kể lại, cho đến buổi tối, khi phía Bắc Việt bắt đầu tấn công, ông mới trực tiếp nhìn thấy bộ đội đặc công di chuyển vào sân bay Thành Nội. Ông thừa nhận, quân đội Bắc Việt có ưu điểm là giữ bí mật: “Tối đó, sau khi bố trí đơn vị, tôi về nhà. Ðến khuya thì một trung úy của tôi lái xe đi tuần. Tôi nói, mai về sớm để đón tôi vào đơn vị. Ðến khuya thì phía Bắc Việt bắt đầu đánh. Tôi mặc áo quần rồi lấy chiếc xe đạp ra đi. Trên đường đi, tôi thấy đặc công tiến vào sân bay Thành Nội. Họ đi lúp xúp, tôi nhìn kỹ, thấy không phải mình. Họ ngụy trang, đi quẹo vào phi trường, tôi đi chầm chậm sau đó, rồi băng qua cống Vĩnh Lợi, đánh kẻng báo động.”


Ðến 2 giờ 33 phút sáng ngày Mồng Hai, những trái đạn pháo đầu tiên được bắn vào phi trường Tây Lộc, Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh và một số địa điểm tại quận 3, thuộc thị xã Huế.


Ông Trần Ngọc Huế nhớ lại, có thời điểm, đặc công của phía Bắc Việt vào đến tận bên trong Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, cách phòng Tướng Tư Lệnh Ngô Quang Trưởng chỉ 30 mét, và Tướng Trưởng cũng đang có mặt tại đó.


Ông Huế hồi tưởng: “Ðặc công đã vào trong Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 rồi. Lúc đó là 10 giờ sáng, chuẩn bị mở đường máu vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn để giữ an ninh cho bộ tư lệnh. Ðặc công chỉ còn cách văn phòng Tướng Trưởng 30 mét.”


Chiếm thành phố Huế đến đâu, phía Bắc Việt lập “Chính Quyền Cách Mạng” đến đó. Ông Nguyễn Phúc Liên Thành kể lại, khi Việt Cộng làm chủ Huế qua ngày thứ hai thì họ bắt đầu thành lập “chính quyền Cách Mạng”.


Cụ thể, tại quận Nhì, thành ủy viên Thành Ủy Huế, Hoàng Kim Loan, cấp trung tá, đứng đầu cùng Hoàng Lanh. Chính quyền quận Nhất cũng được thành lập. Riêng quận 3 chưa kịp nhưng được giao cho Ðại Tá Bảy Lanh, phụ trách An Ninh Thành.


 


Chiến trường của danh dự


 


“Người dân Huế bị dồn vào đường cùng, không còn chọn lựa nào khác nên phải chọn chiến đấu. Chiến đấu để tự tồn. Chiến đấu để có tự do. Chiến đấu để sống hay là chết.” Ông Trần Ngọc Huế, người chỉ huy Ðại Ðội Hắc Báo thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh tái chiếm Ðại Nội ngày 22 Tháng Hai, 1968, nhớ lại.


Huế, Tháng Hai, 1968, mỗi tấc đất là một tấc máu. Máu của tất cả những ai có mặt tại Huế; của người dân Huế, của các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa, của các lực lượng Hoa Kỳ, và của các lực lượng Bắc Việt.


Huế trở thành chiến trường đổ lửa, vì Huế là nơi “không một ai muốn mất”.


“Huế không lớn, nhưng đánh dai dẳng vì quyết tâm của Cộng Sản muốn thắng bằng bất cứ giá nào. Mà ý chí của miền Nam và người dân Huế cũng bằng bất cứ giá nào phải giành lấy mảnh đất thiêng liêng của mình.” Ông Trần Ngọc Huế tâm sự.


Thời điểm ấy, chỉ một thời gian rất ngắn sau khi vào Huế, phía Bắc Việt đã có thể tự do đi lại. Trong ngày Mùng Hai Tết, quân đội Bắc Việt di chuyển trong thành phố, kiểm soát dân chúng như chỗ không người.


Phía miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa cùng đồng minh phải bắt đầu từ đầu nhiệm vụ vãn hồi an bình cho Huế.


“Hai bên quần thảo, tiến lên, rồi lui lại, rồi lại tiến lên, rồi lui lại, tranh từng căn nhà, từng khu phố. Mỗi tấc đất là một tấc máu. Từng cái nhà, đánh liên tục không có thời giờ ăn và thời giờ ngủ. Ðánh liên tục. Nhiều khi phải chia thành từng tổ hai, ba người thay phiên nhau ngủ.” Vẫn theo lời ông Trần Ngọc Huế.


Huế trở thành chiến trường của an ninh, của vận mệnh, và của cả danh dự.


Quân đội Bắc Việt, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và quân đội đồng minh Hoa Kỳ quần thảo trên một chiến trường không lớn, giữa thành quách kinh đô cũ và giữa nỗi kinh hoàng của dân Huế trong nỗi lo sợ thảm sát, vốn đã xảy ra ngay từ đầu khi miền Bắc kiểm soát và lập chính quyền tại Huế.


Theo lời kể của hai người trong cuộc, là ông Nguyễn Văn Ngẫu, vào năm 1968 là thiếu úy thuộc Trung Ðoàn 3, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh và ông Trần Ngọc Huế, đại đội trưởng Ðại Ðội Hắc Báo thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, các lực lượng tham gia chiến trường Huế vào thời điểm Mậu Thân gồm có:


Phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, Thiết Ðoàn 7 Kỵ Binh, Lực lượng Sư Ðoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, các tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Quân Ðoàn 1, một đại đội trinh sát, trực thăng và máy bay skyrider với sự yểm trợ của máy bay phản lực và trực thăng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.


Phía Pháo Binh có 2 tiểu đoàn cơ hữu thuộc Sư Ðoàn 1. Phía Hải Quân có Giang Ðoàn 11 và 12 yểm trợ chiến trường.


Phía đồng minh Hoa Kỳ có Thủy Quân Lục Chiến, Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù và Sư Ðoàn 1 Không Kỵ.


Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngẫu nhớ lại những ngày chuẩn bị phản công: “Sau 31 Tháng Giêng, dân chúng đang ăn Tết vui vẻ. Thành phố Huế trở thành trọng tâm của chiến trường. Ðặc công và nội thành do Trung Tá Khánh Lửa dẫn quân vào bốn Kỳ Ðài và 4 con đường chính gồm vùng An Hòa, Thượng Tứ, Cửa Ngăn, Cửa Sập từ vùng núi đi về tập kích. Lực lượng Nội Thành gần đó đang đóng ở Thượng Tứ, Cửa Ngăn, Cửa Sập cũng tiến vào. Ðơn vị tôi đang đóng tại quận Hương Trà. Một ngày sau khi nổi lên, Tướng Ngô Quang Trưởng trực tiếp điện đàm với Quân Khu 1, Tướng Hoàng Xuân Lãm, tổng tham mưu, và sau hai ngày là bắt đầu phản công.”


Ðại Nội, biểu tượng của kinh thành Huế, nằm gần Kỳ Ðài ở Phu Văn Lâu. Lúc ấy, cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đang bay giữa trung tâm Huế.


Ngày 18 Tháng Hai, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngẫu và đơn vị nhận được lệnh trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Tại đây, Tướng Tư Lệnh Ngô Quang Trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ đặc biệt cho tiểu đoàn của Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngẫu: Ðánh chiếm và dựng lại cờ Việt Nam Cộng Hòa ở Kỳ Ðài.


“Hướng dẫn đại đội ra khỏi sư đoàn, đến đường Mai Thúc Loan, Tướng Trưởng chỉ tay về phía lá cờ Mặt Trận Giải Phóng cách khoảng 1 cây số, nói: ‘Nhiệm vụ của ‘toa’ đấy.’ Rồi ông đưa bản đồ hành quân, các cơ quan liên lạc, và hỏi tôi một vài câu hỏi. Tôi trả lời, chính tôi là người muốn thắng trận, và tôi ngỏ ý cần một lá cờ để thay thế cờ Mặt Trận.” Lời Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngẫu.


Cùng thời điểm ấy, người chỉ huy Ðại Ðội Hắc Báo cũng ngỏ lời với Tướng Ngô Quang Trưởng, yêu cầu được giao nhiệm vụ tái chiếm Ðại Nội: “Cuối cùng chúng tôi yêu cầu tướng tư lệnh được tái chiếm Ðại Nội, là biểu tượng về nền tự chủ và độc lập của Việt Nam từ năm 1802. Chúng tôi được vinh dự lãnh trách nhiệm tái chiếm Huế từ tay Cộng Sản. Và chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của con dân Huế và miền Nam.”


Mười giờ sáng ngày 22, cờ Việt Nam Cộng Hòa được kéo lên Kỳ Ðài sau khi hai người lính bị phía Bắc Việt từ Ðại Nội bắn tỉa.


“Bên kia là tòa tỉnh, các phái đoàn tổng tham mưu, truyền hình, truyền thanh, hàng chục ngàn dân nhìn lên lá cờ để tưởng niệm những ngày tang thương nhất qua đi. Nhìn lá cờ mà rưng rưng nước mắt, bao nhiêu ngày bị bao phủ bởi khổ đau.” Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngẫu nhớ lại.


Hai giờ chiều cùng ngày, Ðại Ðội Hắc Báo chiếm Ðại Nội: “Tấn công nhưng phải bảo vệ di tích lịch sử. Phải bảo tồn. Chúng tôi cũng yêu cầu người Mỹ như vậy. Tôi là con dân Việt Nam, tôi tôn trọng di tích tổ tiên để lại.”


Hai ngày sau, an bình được vãn hồi hoàn toàn tại Huế. Người dân trở lại thành phố, vừa ngơ ngác, vừa vui mừng, vừa chờ đợi. Họ chờ đợi sự trở lại của người thân đã bị bắt đi trong thời gian phía Bắc Việt chiếm Huế. Chờ đợi, để rồi họ bàng hoàng nhận ra: Tất cả đã bị giết!


 


Cảnh tượng kinh hoàng


 


Sau trận chiến, Huế bắt đầu một cơn ác mộng khác, khi người dân Huế nhận ra, nhiều ngàn người dân đất thần kinh đã bị thảm sát, bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có cả việc cột người ta lại thành từng xâu, rồi đẩy xuống hố chôn sống. Ðây là lời kể của những người chứng kiến tận mắt cảnh khai quật tử thi nạn nhân.


Theo nhà báo Vũ Ánh, nguyên phóng viên Mặt Trận Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, có mặt tại Huế từ mùng Năm đến 29 Tết Mậu Thân, thì Bác Sĩ Lê Khắc Quyến đã phải thốt lên khi thấy các hầm chôn tập thể tại Phú Thứ: “Ðây là cách giết người của người ở thời Trung Cổ.”


Nhà báo Vũ Ánh, người đi theo các nhóm tìm hầm chôn xác tập thể, kể lại cảm giác của ông khi lần đầu nhìn thấy những cảnh tượng ấy: “Vùng nhiều nhất là quận Phú Thứ và Dạ Lê Thượng. Rất nhiều hầm chôn xác tập thể. Cảm giác tôi lúc ấy rất lạ, như là bị tê liệt khi nhìn các hình ảnh đó.”


Ngay ở hầm Phú Thứ, theo lời nhà báo Vũ Ánh, khoảng gần 1,000 người bị chôn tập thể. Khi khui lên, đầu của họ phía sau sọ bị bể hết. Những thi hài bị nối nhau bằng dây điện thoại. Có những người không có vết thương, chứng tỏ bị chôn sống. Sau này, một nhân chứng cho biết: Họ được lệnh đập đầu bằng đầu cuốc, từ phía lưỡi vào. Quan trọng nhất là, theo nhân chứng: Người này phải đập người kia. Cứ 10 người thì bị cột lại bằng dây điện thoại, và đều bị đập vỡ từ phía sau.


“Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, nào là đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra.” Ông Võ Văn Bằng, trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, hồi tưởng.


Ông Bằng nhớ lại: “Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.”


Mức độ kinh hoàng dâng lên, từ từ, từng ngày, từng tuần, từng tháng. Rồi, đến ngày 19 Tháng Chín, 1969, tức là 20 tháng sau trận Mậu Thân, Huế vỡ òa với những phát hiện về vụ thảm sát tại Khe Ðá Mài thuộc quận Nam Hòa. Người ta tìm ra khoảng 400 bộ hài cốt. Những hài cốt chỉ còn xương và sọ. Thịt da đã rữa và trôi đi theo dòng nước.


Huế 1968, là Huế của “chiều đi lên Bãi Dâu, hát trên những xác người”.


Huế 1968, là Huế của “đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng”.


Huế 1968, là Huế của khăn sô vào áo tang trắng. Ðó là những hình ảnh không thể nào quên với những ai đã một lần chứng kiến.


“Mỗi lần nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế làm lễ, dân chúng đi lễ, cả nhà thờ mặc đồ trắng và để tang trắng. Trắng cả nhà thờ.” Ông Trần Tiễn San, trung úy Tiểu Ðoàn 39 Biệt Ðộng Quân vào năm 1968, kể lại. “Dọc đường, từ đường Lê Lợi, các quận lên mồ chôn tập thể Ba Ðồn toàn khăn tang áo trắng.”


Những địa danh của Huế, vốn chỉ được biết trong cộng đồng cư dân Huế, nay bỗng chốc, trở thành đề tài bán tán của dư luận, trên báo chí quốc gia, và cả quốc tế; một Gia Hội, một Cồn Hến, một Chợ Thông, một Phú Thứ, một Khe Ðá Mài, một Bãi Dâu…


 


25 ngày thảm sát


 


Ông Liên Thành nhớ lại, những ngày Huế rơi vào tay quân đội Bắc Việt, trước khi phía Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh tái chiếm, Cộng Sản chiếm đến đâu thì thành lập “chính quyền cách mạng” đến đó: “Lập chính quyền xong, đầu tiên họ kêu gọi quân nhân cán chính trong thành phố ra trình diện. Sau khi trình diện thì được cấp giấy, có quyền đi lại, coi như giấy thông hành. Những người này về nói lại với người khác, người kế tiếp ra trình diện. Ðến lần thứ ba thì họ yêu cầu tất cả những người đã trình diện lần một và hai ra trình diện lại, đây là lần quyết định.”


Khi tất cả mọi người ra trình diện, vào lần thứ ba, thì phía Cộng Sản bắt đầu cuộc thảm sát.


Ðầu tiên là những “tòa án nhân dân”: “Ngay lúc đầu, một số người bị đưa ra tòa án nhân dân xử và chôn sống tại Bãi Dâu, tại vùng chùa Áo Vàng gần chùa Diệu Ðế và một số nơi khác trong quận Nhì.”


Tiếp theo là Dòng Chúa Cứu Thế và nhà thờ lớn Phủ Cam: “Riêng tại quận Ba, Việt Cộng bắt đi hơn 500 người đang trốn trong Dòng Chúa Cứu Thế, dẫn đi hết, rồi chôn sống. Tội nghiệp nhất là một số nạn nhân hoàn toàn không dính dáng gì đến chính quyền. Ngoài ra, trong số này còn có một người rất tiếng tăm là Thượng Nghị Sĩ Trần Ðiền. Tại vùng Phủ Cam, bốn ngày sau khi Việt Cộng chiếm Huế, Nhà Thờ Lớn Phủ Cam bị ập vào, 300 thanh niên bị bắt đi, sau này xác của họ được tìm thấy ở vùng phía Tây Nam Hòa, tức vùng núi dọc khe Ðá Mài, lăng Gia Long.”


Ðã có bao nhiêu người bị giết, và đã có bao nhiêu địa điểm chôn người? Giáo Sư Nguyễn Lý Tưởng, cựu dân biểu đại diện khu vực Thừa Thiên, nói rằng con số 5 đến 6 ngàn người là không sai lệch mấy. Và khoảng 22 địa điểm trở thành nơi che giấu các thi hài: “Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2,326 sọ người. Sau Tết, chúng tôi lập Hội Gia Ðình Nạn Nhân Cộng Sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4,000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6,000 người. Có nhà báo ước tính 5,000. Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu.”


Ông Nguyễn Lý Tưởng kể lại, cuộc tìm kiếm nạn nhân Tết Mậu Thân bắt đầu từ giai đoạn Tết đến Mùa Hè năm 1968 và đỉnh điểm là vụ Khe Ðá Mài, thuộc đỉnh núi Ðình Môn Kim Ngọc. Tại đây, khoảng 400 bộ hài cốt được tìm thấy. Những hài cốt tìm thấy tại Khe Ðá Mài chính là của những người trú ẩn tại xứ đạo Phủ Cam, thuộc làng Phủ Cam, xã Thủy Phước, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.


“Cộng Sản bắt đi trên 500 người, thanh niên từ 15, 16 tuổi đến ông già 60, 70 bị đưa đi giam ở chùa Từ Ðàm. Ðến đêm, họ bị dẫn lên đường núi và qua sông. Sau đó tàn sát hết mọi người trong tư thế bị trói. Khi tàn sát thì dùng súng máy, trung liên, đại liên, cả lựu đạn. Các xác sau đó bị vùi xuống khe.” Ông Nguyễn Lý Tưởng kể lại.


“Từ Tết, tức Tháng Hai, 1968 đến Tháng Chín, 1969, khoảng 20 tháng, có một số người của Cộng Sản về hồi chánh, đã chỉ ra địa điểm thảm sát. Phía Việt Nam Cộng Hòa mở đường hành quân vào tìm, thì tìm được. Tại đây, họ thấy sọ người, xương người dồn đống dưới khe. Nơi đây thuộc quận Nam Hòa, có tên là Khe Ðá Mài, thuộc vùng núi Ðình Môn Kim Ngọc.” Vẫn theo lời ông Nguyễn Lý Tưởng.


“Quân đội mang hết xương và sọ về để tại một trường tiểu học thuộc quận Nam Hòa, các đồ vật gồm có thẻ căn cước bọc nhựa, có áo quần, đồ dùng, vật kỷ niệm mang theo trong người. Hàng ngàn thân nhân đến tìm. Nhờ đó, gia đình tìm được dấu vết. Trong số các nạn nhân, có cả học trò tôi, như em Phan Minh, Bùi Kha, mới 16, 17 tuổi.”


Một trong những vụ thảm sát gây phẫn nộ dư luận quốc tế là vụ giết bốn bác sĩ người Ðức sang giảng dạy và làm việc tại trường Ðại Học Y Khoa Huế. Trong bài viết “The Vietcong Massacre at Hue,” xuất bản năm 1976, một bác sĩ có tên Elje Vannema kể rằng ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick và hai bác sĩ Raymund Discher cùng Alterkoster bị giết trong Tháng Hai, 1968 tại chùa Tường Vân hoặc một vùng đất nhiều cây cối cách chùa chừng nửa dặm, nơi người ta tìm thấy thi hài của các nạn nhân. Bác sĩ người Pháp, có tên Le Hir khám nghiệm tử thi các nạn nhân cho biết có dấu vết đạn xuyên qua đầu và ót.


Ngày 13 Tháng Tư, linh cữu đưa thi hài các bác sĩ này rời Việt Nam về Ðức. Hơn 250 sinh viên y khoa Huế và Sài Gòn cùng đội quân danh dự của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đi theo chiếc xe có bốn ngựa kéo, bên trên chở linh cữu các ân nhân.


Một trong những người tham gia đi tìm các hố chôn tập thể thời ấy là ông Võ Văn Bằng, Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Tết Mậu Thân, nói rằng ủy ban của ông tìm được khoảng 3,000 hài cốt. Trong số ấy, đau đớn nhất, chỉ khoảng 10% là nhận diện được, và được gia đình mang về cải táng.







“Người dân Huế bị dồn vào đường cùng, không còn chọn lựa nào khác nên phải chọn chiến đấu. Chiến đấu để tự tồn. Chiến đấu để có tự do. Chiến đấu để sống hay là chết.”


Trần Ngọc Huế, chỉ huy Ðại Ðội Hắc Báo, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, tái chiếm Ðại Nội ngày 22 Tháng Hai, 1968.


Số nạn nhân còn lại phải được an táng tập thể tại hai nghĩa trang ở Huế gần núi Ngự Bình là Ba Ðồn và Ba Tầng. Dựa trên thi hài và đồ vật còn sót lại của nạn nhân, ông Bằng phỏng tính 20% nạn nhân là quân nhân, 40% là công chức và 40% là dân thường.


Về nguyên ủy thành lập Ủy Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân, ông Võ Văn Bằng cho biết nhờ “một sự tình cờ,” mà sau đó người dân Huế mới vỡ lẽ là thân nhân mình bị thảm sát tập thể: “Một năm sau, nhân cuộc hành quân của tiểu khu Thừa Thiên ngang qua khu vực giáp giới của Phú Vang, Hương Thủy và Phú Thứ, người ta thấy một đầu lâu trồi lên dưới một trảng cát dài hàng cây số. Ðào lên, đó là thi hài của Thiếu Úy Trần Văn Ðỉnh, nhận biết được nhờ tấm thẻ bài. Tin này loan ra rất nhanh nên tạo phong trào tìm xác ở Phú Thứ.”


Theo lời ông Võ Văn Bằng, vì người ta bị chôn lớp này trên lớp khác, đến khi tìm được vị trí, thân xác đã không còn nguyên vẹn. Ðể giúp thân nhân tìm được người thân, ủy ban phải đánh số lên thi hài và ghi các chi tiết liên quan, chẳng hạn “đầu vỡ,” “sọ bể,” tay bị cột như thế nào, dây lạt hay điện thoại, vạt áo, nilông còn sót.


Và rồi đến bước cuối cùng: “Loan tin trên đài phát thanh Huế để đồng bào nhận dạng.”


 


Chối bỏ tội ác


 


Nỗi kinh hoàng đối với dân Huế qua đi, nhưng trong lòng họ, nỗi đau vẫn còn. Người còn sống vẫn đau với vết thương chưa lành, trong khi người đã khuất vẫn chưa được giải oan.


Học giả Douglas Pike, thuộc Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, trong bản báo cáo hoàn tất ngày 1 Tháng Hai, 1970 tại Sài Gòn, viết, chỉ trong một trận Mậu Thân tại Huế, gần 4,800 thường dân đã chết và mất tích. Ông Pike kết thúc lời mở đầu của báo cáo bằng một khẳng định: “Nếu báo cáo của tôi là một bản án đối với thái độ của người Cộng Sản, thì thật sự nó là như vậy đấy. Ðơn giản vì thái độ ấy đáng bị lên án.”


Cho đến nay, chưa bao giờ chính quyền Hà Nội lên tiếng giải trình những thảm sát xảy ra cho Huế vào mùa Xuân 1968. Nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến cuộc thảm sát kinh hoàng này: Ai sẽ chịu trách nhiệm cuối cùng trong Biến Cố Mậu Thân? Những cuộc thảm sát xảy ra trong hoàn cảnh nào? Các nạn nhân xấu số đã bị giết ra sao?


Theo những báo cáo của các cuộc cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, do các xã báo cáo, khoảng 5,300 nạn nhân bị chôn sống tại tỉnh Thừa Thiên.


Nhiều nguồn dư luận được đưa ra, liên quan đến thủ phạm của vụ thảm sát. Có người nói, chính những thành phần thiên Cộng tại Huế, đa số là sinh viên, đã thoát ly lên mật khu năm 1966 trong các phong trào sinh viên tranh đấu phải chịu trách nhiệm. Trong số này, những tên tuổi được nhắc đi, nhắc lại gồm có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân, Lê Văn Hảo.


Thật sự, một số thành viên trong nhóm này đã về lại Huế trong những ngày Mậu Thân. Ðiều này được khẳng định bởi ông Nguyễn Phúc Liên Thành, vào thời điểm 1968 là Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Ðặc Biệt Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia tại Thừa Thiên: “Năm 1966, như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Ðắc Xuân… đã vượt thoát lên mật khu, đã xâm nhập vào thành phố Huế trong thời gian đó.”


Trở về Huế, họ có tham gia vào các cuộc thảm sát trong 25 ngày thành Huế thất thủ? Ông Nguyễn Phúc Liên Thành tin rằng, trên thực tế, trong thành phần sinh viên trở về Huế, một số người đã thực hiện các vụ hành quyết, nhưng chỉ là một số rất ít, vì tư thù cá nhân. “Trường hợp đó chỉ là 1 phần trăm. Như trường hợp các sinh viên tranh đấu cũ, nay trở lại, vì thù hận bạn bè, nay mang ra xử và chôn sống, nhưng rất ít.”


Trong khi đó, ông Lê Văn Hảo, từng là chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên-Huế vào thời gian ấy, khẳng định về sự vô tội của cá nhân ông: “Ðó không phải là sự thật lịch sử. Tôi chỉ là một con tin trong thế kẹt, phải nhận một chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mong có ngày về với vợ con thôi. Chứ tôi nói thật, trong Tết Mậu Thân, vai trò của tôi hoàn toàn thụ động, chỉ ngồi trên núi thôi. Lâu lâu, các ông lãnh đạo, như Trần Văn Quang, ghé qua thăm, an ủi là thôi, sự việc diễn tiến như vậy thì mình đi theo Cách Mạng thôi.”


Ông Hảo, trong cuộc trả lời phỏng vấn với Ðài Á Châu Tự Do hồi năm 2006 cũng nói về vai trò bù nhìn của Mặt Trận Giải Phóng: “Khi lên trên núi, tôi biết ngay Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chỉ là một trò bịp bợm, một tổ chức hữu danh vô thực của Cộng Sản, do Hà Nội chỉ đạo.”


Như vậy, câu hỏi là: Ai sẽ phải chịu trách nhiệm cho những cái chết oan khuất của nhiều ngàn người Huế cách đây 45 năm?


Trước khi thử tìm cách trả lời câu hỏi này, hãy nghe những phát biểu nói về cố gắng che giấu tội ác và sự xúc phạm vào nỗi đau của các nạn nhân, từ phía chính quyền Hà Nội.


Nhà báo Vũ Ánh nhớ lại: “Một bản tin của đài Giải Phóng mà về sau tôi nghe được qua kiểm thính của nhân viên của đài (Truyền Thanh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa) thì họ nói đó là cảnh sát và quân đội VNCH khi thua, rút đi thì làm điều đó. Chuyện đổ vạ là điều bình thường của Cộng Sản từ trước đến giờ. Nhân chứng vẫn còn sống đây thôi, cả trong lẫn ngoài nước. Họ không thể xóa được những điều ấy.”


Trong những trận đánh tại chiến trường Huế, người dân cố đô đã chọn cho mình phía bên nào? Trung úy tiểu đoàn 39 Biệt Ðộng Quân đã tham gia trận tái chiếm Huế, ông Trần Tiễn San, kể lại: “Lúc đánh ở Vỹ Dạ, lực lượng chính của Việt Cộng không còn nữa. Nhưng khó đánh vô cùng. Mình tiến từ nhà này qua nhà khác, nhà thì có kẽm gai, bờ tường. Mình bên này thì dân chúng bên kia thấy là họ đâm đầu chạy qua theo. Không biết làm sao. Dân thì ở giữa làn đạn. Mà họ thấy mình thì họ đâm đầu chạy qua.”







“Bên kia là tòa tỉnh, phái đoàn tổng tham mưu, truyền hình, truyền thanh, hàng chục ngàn dân nhìn lên lá cờ để tưởng niệm những ngày tang thương nhất qua đi. Nhìn lá cờ mà rưng rưng nước mắt…”


Nguyễn Văn Ngẫu, thiếu úy thuộc Trung Ðoàn 3, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, chỉ huy đơn vị đánh chiếm, dựng lại cờ VNCH ở Kỳ Ðài ngày 22 Tháng Hai, 1968.


Theo ông Liên Thành, thì năm 1972, ông bắt được một trung tá Việt Cộng, tên Hoàng Kim Loan, là thành ủy viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm. “Tôi [Liên Thành] hỏi: Tại sao các anh thảm sát đồng bào Huế man rợ đến như vậy? Thì Loan nói đây là chủ trương bạo lực cách mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, khi trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Loan nói, người Cộng Sản chúng tôi có chủ trương thà giết lầm còn hơn bỏ sót.”


“Tôi hỏi lại, tại răng không bắn họ, cho họ viên đạn còn dễ hơn lấy búa, dùng vật cứng đập đầu họ và đẩy xuống hố”. Loan nói: “Ðạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy. Ðạn đâu để bắn những đám người như vậy.”


Rồi đến năm 1975, khi quân đội Bắc Việt tiến vào miền Nam, một lần nữa, những người đã khuất vẫn không được yên nghỉ. Nghĩa trang trên núi Ba Tầng, còn gọi là núi Bân, nơi an táng khoảng 400 thi hài tìm được nơi Khe Ðá Mài vùng Ðình Môn Kim Ngọc Tháng Chín, 1969 bị đập phá cả tấm bia và các bàn thờ. Linh Mục Phan Văn Lợi kể lại.


“Năm 1975, sau khi chiếm được miền Nam, Cộng Sản phá ngay tấm bia dựng ở phía sau và phá hai bàn thờ nằm ở phía trước. Từ đó về sau, người ta có đến cũng chỉ đến trong âm thầm lặng lẽ hoặc cá nhân mà thôi, không dám công khai.”


Gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ Biến Cố Mậu Thân 1968, vụ thảm sát vẫn là một vết thương chưa lành, “vẫn còn đau mỗi khi trái gió, trở trời.” Người dân Huế sẽ vẫn tiếp tục sống, tiếp tục vươn lên, đó cũng chính là cá tính của người dân đất thần kinh. “Vết thương đó vẫn chưa khô máu, vết sẹo đó mỗi lần trái gió trở trời vẫn đau xót xa.” Nhà văn Huy Phương, cựu Phóng Viên Cục Tâm Lý Chiến VNCH, bày tỏ.


Bốn mươi lăm năm qua là 45 năm người dân Huế đón Xuân cùng lễ giỗ. Bốn mươi lăm năm nhưng vết thương chưa lành. Năm nay, người dân Huế ở hải ngoại lại tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân vụ thảm sát Mậu Thân. Thế nhưng, cho đến nay, đứng trước những cáo buộc suốt gần nửa thế kỷ, của những người thuộc Việt Nam Cộng Hòa, của giới nghiên cứu quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, Hà Nội vẫn chưa bao giờ có câu trả lời chính thức: Ai, bằng cách nào, và tại sao, đã giết hàng ngàn người Huế, trong đó có cả sinh viên, thanh niên, học sinh và phụ nữ.


Riêng đối với người dân Huế, với sông Hương, với núi Ngự, với Nam Giao, với thành quách kinh đô cũ, Mùa Xuân 1968 vẫn luôn là một ngày đại tang. Ðến bao giờ, công lý và công bằng sẽ được trả lại cho người đã chết?


 


Ghi chú: Bài viết này được tổng hợp, biên tập lại từ loạt bài của cùng tác giả, đã phát trên đài phát thanh Á Châu Tự Do, RFA, vào năm 2008.


–-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Huế Tháng Chạp buồn chi lạ

 


Kỳ Giác/Người Việt


 


HUẾ (NV) Năm nào cũng vậy, cứ đến Mồng Một Tết, cả thành phố Huế nghi ngút khói hương, vàng mã cúng bái oan hồn, tử sĩ trận vong, những “cậu ngoại” chết đường bởi tên rơi đạn lạc, không nơi nương tựa. Có thể nói, không khí ngày đầu năm ở Huế đậm vẻ linh thiêng và ám gợi một nỗi buồn lịch sử khó tả!









Khăn tang và quả phụ của các nạn nhân. Huết, 1968


Một năm như mọi năm, những ngày này, Huế nghiêng mình tưởng nhớ những vong hồn oan khuất, và rơi nước mắt vì những mồ chôn tập thể lên đến cả vài ngàn bộ xương.


Chiều 20 Tháng Chạp, chúng tôi đến Huế, không khí Tháng Chạp ở Huế buồn chi lạ; chút gì đó âm âm, hanh khô; chút gì đó cô tịch, khác hẳn với Sài Gòn, Ðà Nẵng, hay Hà Nội…


Thay vì thấy những chậu hoa khoe sắc, những nụ cười tươi vui, hân hoan trong dịp Tết, chúng tôi chỉ nhìn thấy rặt cờ đỏ sao vàng, băng rôn, biểu ngữ ca ngợi đảng Cộng Sản, giăng ra khắp lối, mà, khắc dấu nhất, vẫn là những am thờ âm hồn hai bên đường, trong sân nhà, của hầu hết cư dân Huế.


Một người dân Huế cho chúng tôi biết, những am thờ này từng có từ năm 1969, sau Tết Mậu Thân một năm, thờ oan hồn, tử sĩ chết trong chiến tranh và thờ người chết oan trên đường tản cư (gọi là “cậu ngoại”), đến thập niên 1980, thời đại chủ nghĩa vô thần lên ngôi, các am thờ này bị đập phá tơi bời.


Tại đây, chúng tôi tiếp xúc một số cư dân địa phương. Những người này nhắc đến một người đàn ông tên Thủy, từng sống trong một khu vườn trồng toàn hoa hồng trong giai đoạn 1980s. Vì nhà trồng toàn hoa hồng, ông Thủy luôn bị cán bộ, công an đến mắng nhiếc, là trong khi đất nước không có cái để ăn thì ông lại trồng hoa, “vui trên nỗi khổ của dân tộc”. Bất chấp những lời mắng nhiếc, ông Thủy chỉ im lặng mỉm cười.


Người địa phương kể rằng, ngày Mồng Một hàng tháng, ông thường mang hoa hồng ra đặt bên lề đường mà ông từng chứng kiến những cái chết bất đắc kỳ tử trong trận Mậu Thân. Ông là nhân chứng, ông đã thấy cảnh người ta chạy đi tìm sự sống, ông đã thấy người ta chết, những cái chết bất ngờ, không kịp mở mắt nhìn lại quê hương…


Những năm sau này, các nhà tổ chức lễ hội, đêm văn nghệ của nhà nước thường đến đặt mua hoa của ông, ông lắc đầu từ chối, nói thẳng: “Hoa của tôi để tặng cho người chết, không dùng để bán cho kẻ thắng cuộc!” Chính câu nói này đã đày đọa ông cho đến lúc nhắm mắt, ông bị ép chế, mất đất, tan nhà nát cửa.


Câu chuyện về ông được kể sau khi ông qua đời, trong lễ giỗ lần thứ 9 của ông. Và trước lúc mất không lâu, ông kể cho người con gái về những cái chết tức tưởi, kinh rợn, dã man mà ông từng chứng kiến trong thời điểm Mậu Thân 1968.


Cũng tại đây, chúng tôi gặp cụ Nguyễn Trung, 86 tuổi, thời trẻ làm nghề sửa radio trên đường Nguyễn Du, Huế. Tuy tuổi cao, tai đã hơi nghễnh ngãng, phần tinh thần cụ Trung vẫn còn rất minh mẫn.


Cụ nói: “Thực sự, tui không có đứng về phía nào cả, tui là một thợ sửa radio, sống qua hơn hai chế độ, nếm đủ cay đắng, và tui không bao giờ quên được những cái chết tập thể diễn ra trước mắt mình. Kinh khủng lắm, khó mà tả được!”


“Hồi đó, lính Nghĩa Quân và dân thường bị giết nhiều lắm, chôn sống, đúng hơn là chôn ‘lắt léo,’ nửa sống nửa chết. ‘Họ’ dùng dây điện thoại và dây kẽm gai, dây lạt tre cũng có, trói gô tay vào nhau, đẩy ra bãi vắng. Ở đó, có người từ đằng sau nhào tới, dùng đai cuốc đập vào đầu, đập liên tục từ người này đến người khác cho đến lúc nhào xuống cả đoàn và dùng ngay những cái cuốc đó đào hố chôn. Không một ai sống sót.”


“Tội nghiệp nhất vẫn là những người cuối đoàn, có lẽ lúc đó những kẻ cầm cuốc đã quá mỏi tay, hơn nữa với sức trì của cả đoàn người vào đôi tay bị trói quặt sau lưng, mệt mỏi và khủng hoảng, anh cuối đoàn quị ngã xuống, không cần phải đập đai cuốc, và cứ thế chôn sống…” Cụ Trung kể, rươm rướm nước mắt.


Tạm biệt cụ Trung, chúng tôi ghé đến nhà một nhà thơ khá nổi tiếng bởi từng khổ sở vì một bài thơ yêu nước, vốn là cựu đảng viên Cộng Sản, từng trốn lên rừng hoạt động. Ông này nói rằng trong trận Mậu Thân ông không có mặt ở Huế, ông “đang sống trên rừng”.


Nhưng nói chuyện một lúc, ông khoe Ủy Ban Nhân Dân thành phố Huế có mời ông lên tham dự đại hội kỷ niệm “Tổng tiến công Mậu Thân” vào buổi sáng 1 Tháng Hai, 2013, vì ông “thuộc vào diện hoạt động nội thành”. Nói đến đây, biết mình bị hố, ông ngồi im lặng. Chỉ trước đó vài phút, ông khẳng định là “chết rất nhiều,” thảm sát tàn khốc, và ông cũng đã khẳng định… không có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân.


Rời nơi đây, chúng tôi tiếp tục sang những nhà vốn đã sống lâu năm ở Cồn Hến, Ðập Ðá, Xuân Hội… Ði đến đâu, chúng tôi cũng đều nhận được đúng một câu chuyện kể về cuộc thảm sát cuồng rợ ở Huế vào Tết Mậu Thân, nạn nhân là dân thường và các viên chức, quân nhân, ở địa phương hay các nơi về Huế ăn Tết.


Nhưng khi chúng tôi đi sâu vào vấn đề: Ai giết? Vì sao lại giết dân thường? Thì đều nhận chung một cái lắc đầu và thú thật là có biết nhưng không dám nói. Chúng tôi lại tiếp tục đi tìm những nhân chứng khác và được gặp cụ ông Ðỗ Toản, 89 tuổi, thợ hớt tóc ở Huế trong những năm trước 1975.


Hỏi về chuyện thảm sát Mậu Thân ở Huế, cụ ông Ðỗ Toản buồn rầu: “Tôi có hai người bạn học thời thơ ấu chết trong cuộc thảm sát ở Xuân Ðợi, họ hiền và dễ thương lắm, chẳng đi lính cho bên nào. Nghĩ đến họ, bây giờ tôi còn đau!”


“Chắc chắn là phe Cộng Sản đã giết dân, tôi khẳng định điều này! Nhưng tôi nghi là cuộc thảm sát này do cán bộ Cộng Sản địa phương đem lòng thù hận ra mà đối đãi. Ở những địa phương khác đâu có chuyện này! Kinh hãi lắm!” Nói đến đây, cụ Toản trầm ngâm, nét mặt đăm chiêu.


Có những người Huế “thế hệ Mậu Thân,” bỏ Huế, hay “trốn” Huế mà đi từ năm 1968, bây giờ vẫn không dám trở lại nguyên quán. Trong một lần nói chuyện cách đây vài năm, những người này nói rằng “ở Huế chết nhiều cái chết thê thảm”.


“Gió Nam thì vỗ về gió Nam, gió Nồm thì vỗ về gió Nồm. Ngã mô cũng khổ. Không theo thì chết. Không theo thì chôn…” Một người không nêu tên nhớ lại.


Một người khác, cũng không nêu tên: “Nó xô xuống, nó dập, khổ lắm. Ở Huế đây chết nhiều cái chết thê thảm!”


“Toàn dân không à. Mà họ nói là ác ôn, ri khác. Ai chết thì chết. Tui chừ tui cũng sợ, tui không dám về làng.”


Ðã 45 năm trôi qua, người Huế vẫn không dám nói về những cái chết ở Huế năm 1968, có những người Huế tha phương vẫn “không dám về làng”. Ðây chính là câu trả lời cho câu hỏi: Ai đã giết người dân Huế!


 

Mậu Thân 1968, và những điều gian trá


Huy Phương


… “Xin gọi trăng soi Khe Ðá Mài


Thời gian rêu phủ mảnh đầu ai


Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội


Phú Thứ tóc vương trảng cát dài…”


(Huế Oan Khiên)


 


Dù thời gian 45 năm đã trôi qua, mỗi lần nhắc đến Huế, tôi nghe như tiếng “Tết” và tiếng “Mậu Thân” đi liền theo sau đó. Tôi có mặt ở Huế từ ngày 28 Tháng Chạp và rời Huế vào chiều ngày 23 Tháng Giêng, năm Mậu Thân trên một chuyến tuần giang của Hải Quân Mỹ, từ bến tàu Tòa Khâm trước trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế để vào Ðà Nẵng.










 Trên “Chiếc Cầu Ðã Gãy”. Hình ảnh chạy loạn trong giai đoạn Mậu Thân 1968 tại Huế.


Khi từ vùng Chợ Cống chạy về lánh nạn trong khuôn viên trường học, nhìn về phía thành nội, tôi đã thấy cảnh lửa cháy bốn góc thành trong đêm, cũng như nhận chịu hơi bom cay, theo gió thổi bạt về phía bên ngày tả ngạn sông Hương và chứng kiến những xác người được chôn vùi sơ sài trong khu vườn của ngôi trường học.


Nói tôi là nạn nhân là sống sót cũng có phần đúng. Khi chưa chạy về được nơi tạm cư lánh nạn thì Việt Cộng đã có lần đứng trước cửa nhà, nơi đền thờ của An Thường Công Chúa, chúng không vào nhà lục soát nhưng đứng ngoài sân quát nạt: “Tất cả ai trong nhà ra hết!” Gia đình ông chú già, đàn bà, trẻ con đều ra tập họp trước sân, trừ hai đứa chúng tôi, cậu em, một sĩ quan thuộc Trung Ðoàn I Bộ Binh và tôi, sau những ngày đói khát, lo sợ rã rời, đang nằm ngủ mê mệt dưới gầm giường, lọt giữa những bao cát chống pháo kích, không nghe, không biết gì cả. Nếu vào lúc ấy, chúng tôi thức giấc hay tỉnh táo, sẽ có phản ứng ra sao? Nếu vào lúc ấy, chỉ một tiếng gọi: “Ba ơi” của một trong những đứa con tôi, thì tôi đã không còn hạnh phúc, may mắn hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết những dòng chữ này.


Tôi xin nói thêm, tuyệt vọng và sợ hãi nằm trong hầm trú ẩn, tôi ôm cái máy thu thanh nhỏ áp thẳng vào tai, vào khoảng ngày mồng năm Tết, nghe qua đài phát thanh quân đội Saigon, hai phóng viên Phạm Huấn và Dương Phục đang tường trình về mặt trận Chợ Lớn, để thấy mình chưa hoàn toàn tuyệt vọng, và may ra có thể sống sót.


Phải một thời gian dài sau khi Việt Cộng rút ra khỏi thành phố người ta mới tìm ra hầm chôn tập thể đầu tiên, rồi từ đó những hố chôn tập thể khác ở ngay trong thành phố, ra ngoại ô, rồi ở xa hơn như Khe Ðá Mài. Tất cả các nạn nhân đều bị trói khuỷu bằng tre lạt, dây điện thoại, nhiều người xương sọ bị vỡ, phần lớn nguyên vẹn, hay trong tư thế tuyệt vọng vì bị chôn sống. Nhân chứng Phan Văn Tuấn, năm Mậu Thân mới 16 tuổi là một học sinh trường Bồ Ðề Huế, về sau là sĩ quan Pháo Binh VNCH, hiện sống tại Sydney, Úc, người đã bị Việt Cộng bắt đưa đi làm công tác lấp đất chôn người, trong lần được ký giả Nam Dao tại Adelaide phỏng vấn, đã lên cơn hoảng loạn khóc nức nở vì những ấn tượng không phai mờ, ám ảnh anh trong nhiều năm.


Sau khi về Saigon và tên Việt Cộng cuối cùng ra khỏi Huế, tôi đã có dịp trở lại đây một đôi lần theo Ủy Ban Truy Tầm và Cải Táng Nạn Nhân Tết Mậu Thân để chứng kiến những chuyện có thật như trên. Bản thân tôi cũng được Tổng Cục CTCT giao công tác trở lại Huế để sưu tập tài liệu thảm sát Mậu Thân, để có thể hoàn thành một tập sách tương tự như Bạch Thư. Cách sắp xếp của tôi là tiếp xúc với những gia đình của nạn nhân điển hình, lấy hình ảnh lúc còn sống, tiểu sử nạn nhân, sau đó lấy đúng hình ảnh của nạn nhân đã bị thảm sát, thi thể đã đánh số sau khi được đào lên với giây trói hay sọ bị vỡ, ghi nhận chi tiết do Ủy Ban Truy Tầm cung cấp, ghi số thứ tự từ 1 đến 100. Tiếc thay, tập sách (hay tờ trình) với đầy đủ hình ảnh minh chứng, được đệ trình lên tổng cục trưởng, đã bị bỏ quên trong một xó xỉnh nào đó, mà với một sĩ quan thuộc cấp như tôi không có quyền thắc mắc.


Bốn mươi lăm năm sau, Việt Cộng còn ca tụng cái gọi là chiến thắng Mậu Thân, và đổ tội cho hơn 6,000 cái chết của dân Huế là do bom đạn, phi pháo của phía Việt Nam và Mỹ tàn sát. Chúng trả lời làm sao về những cái chết của các giáo sư y khoa Tây Ðức, những linh mục, sinh viên, học sinh, người buôn bán và ngay cả những viên chức chính phủ VNCH bị “bom đạn” Mỹ giết lại được người “cách mạng” chôn cất tử tế trong mấy mươi hầm tập thể trước khi rút lui.


Ủy Ban Truy Tầm và Cải Táng có sự chứng kiến của các phái đoàn ký giả quốc tế thường trực chẳng bao giờ tìm thấy trong các hầm tập thể này một đôi dép râu hay một cái nón cối, hoặc tai bèo!


Vậy mà 45 năm sau vụ thảm sát này, những tên đồ tể tắm máu đồng bào Huế còn can đảm dựng lên một cuốn phim 12 tập, phỏng vấn những nhân vật gian trá, để lừa dối lớp trẻ mới lên và cả lớp người nhẹ dạ, u mê dưới bóng tối của chế độ cộng sản rằng hoàn toàn không có vụ gọi là “thảm sát Mậu Thân”.


Cộng sản gian dối và luôn luôn lặp lại gian dối, ngay cả những điều mà chúng biết là gian dối vì nhu cầu tuyên truyền chính trị và ngay cả vì nhu cầu miếng ăn. Cuốn phim “Mậu Thân 1968” do bà Lê Phong Lan bỏ tiền túi ra thực hiện, nhưng khi làm xong thì đài truyền hình CSVN đã mua ngay để chiếu trong dịp Tết Quý Tỵ 2013.


Tết Mậu Thân, gia đình nào ở Huế lại không có tang chế. Bảy năm sau, xương mục nạn nhân chưa tan rã hết, Việt Cộng vào, nhưng đau buồn và nước mắt, đồng bào Huế đành phải nuốt ngược vào lòng.


Ăn ngang, nói ngược, “một lời nói là một đọi (bát) máu” như một thành ngữ của Huế, liệu cái chế độ vừa tàn ác vừa gian trá ấy còn sống bao lâu nữa giữa những lời nguyền rủa của người sống và nỗi oan khuất của người chết.


Hãy nghe bốn câu thơ này của Hoàng Phủ Ngọc Tường:


 


“Những chiều Bến Ngự giăng mưa


Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi


Tôi ra mở cửa đón người


Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang!


(Ðịa Chỉ Buồn)


 


Còn ai đó nữa, nếu không là những linh hồn oan khuất của Huế Mậu Thân đang kêu gào đòi nợ máu!

Kỷ vật Mậu Thân


Thiện Giao/Người Việt


 


HUẾ (NV) –Âm nhạc, và những tài liệu sót lại từ biến cố Mậu Thân 1968 sẽ là nguồn lưu giữ lâu dài nhất, chính xác nhất, những chứng tích liên quan đến vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế.









Hát trên những xác người


 


Mậu Thân 1968, những gì xảy ra cho người đã chết, sẽ còn mãi trong lòng người đang sống. Biến cố ấy sẽ không trôi qua trong quên lãng. Mậu Thân 1968 để lại dấu vết trong âm nhạc, trong văn chương, trong hồi ký, và trên báo chí.


Mậu Thân được mô tả rất thực trong bản nhạc “Hát Trên Những Xác Người,” ghi dấu địa danh Bãi Dâu.


 


Chiều đi lên Bãi Dâu


Hát trên những xác người


Tôi đã thấy, tôi đã thấy


Trên con đường


Người ta bồng bế nhau chạy trốn


Chiều đi lên Bãi Dâu


Hát trên những xác người


Tôi đã thấy, tôi đã thấy


Những hố hầm


Ðã chôn vùi thân xác anh em…


 


Mậu Thân được ghi lại trong “Cơn Mê Chiều,” với cầu Trường Tiền, với Kim Long, Nam Dao, lên án “đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng.”


 


Chiều nay không có em


Mưa non cao về dưới ngàn


Ðàn con nay lớn khôn


Mang gươm đao vào xóm làng


Chiều nay không có em


Xác phơi trên mái lầu


Một mình nghe buốt đau


Xuôi Nam Giao


Tìm bóng mình


Ðường nội thành


Ðền xưa ai tàn phá


Cầu Tràng Tiền


Bạc màu loang dòng máu…


 


Mậu Thân cũng được ghi lại trong hồi ký nổi tiếng một thời, “Giải Khăn Sô Cho Huế”.


Mậu Thân ghi lại những hình ảnh qua âm nhạc, thực và rõ ràng hơn cả hàng trăm thước phim hay hàng loạt bài phóng sự.


 


Xác người nằm trôi sông


Trôi trên ruộng đồng


Trên nóc nhà thành phố


Trên những đường quanh co


Xác người nằm bơ vơ


Dưới mái hiên chùa


Trong giáo đường thành phố


Trên thềm nhà hoang vu…


Xác người nằm quanh đây


Trong mưa lạnh này


Bên xác người già yếu


Có xác còn thơ ngây


Xác nào là em tôi


Dưới hố hầm này


Trong những vùng lửa cháy


Bên những vồng ngô khoai


 


Những cảnh tượng chết chóc Mậu Thân sẽ không trôi qua trong quên lãng, khi hàng ngàn người, vừa thanh niên, vừa trí thức, vừa sinh viên, học sinh, phải chết chỉ trong chưa đầy một tháng.


Hai bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, “Bài Ca Viết Cho Những Xác Người” và “Hát Trên Những Xác Người” được sáng tác năm 1968, sau khi Trịnh Công Sơn từ Huế trở về Sài Gòn. Những ngày diễn ra biến cố tại Huế, Trịnh Công Sơn có mặt tại cố đô.


Trong một bài viết cách đây vài năm, nhà văn Phạm Xuân Ðài, một người bạn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, khẳng định, hai nhạc phẩm viết nhân vụ Mậu Thân là sự ghi lại trong vai trò của một nhân chứng.


Ông viết: “Toàn là những xác người, gần giống như những thước phim tài liệu của Ðức Quốc Xã ghi hình ảnh thi hài chồng chất của người Do Thái. Bài hát này của Sơn là một phóng sự bằng nghệ thuật cho người đời biết thế nào là sự chết chóc khi ‘anh em ta về’ thành phố Huế dịp Mậu Thân. Chắc chắn, đó là dịp Sơn nhìn gần cái chết tập thể nhất, nhìn thấy sự man rợ, tuy vẫn thuộc phạm vi cuộc chiến nhưng không phải thuần túy do động lực chiến tranh. Cả hai bài hát có cùng một đề tài trong hầu cùng một biến cố.”


Một nhạc phẩm khác, ít được phổ biến bằng hai nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, nhưng chuyên chở một ý tưởng rất lạ, khi mở đầu bằng câu: “Ðàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng.” Phải chăng, “Cơn Mê Chiều,” tên của bản nhạc, muốn nói về một lớp trí thức, bỏ Huế ra đi, rồi nay quay lại Huế trong vai trò mới. Một thanh niên trí thức Huế, không muốn nêu tên, nhận định: “Trong vụ thảm sát Mậu Thân, ngoài nỗi đau đớn cho dân tộc trong một cuộc nồi da xáo thịt tàn độc, còn có một nỗi đau lớn hơn, là vai trò một số trí thức Việt Nam trong cuộc thảm sát này. Bài hát có câu: “Ðàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng.”


Thanh niên này nói thêm: “Ðàn con nớ, có phải chăng là một số trí thức Huế đã đưa Việt Cộng vào làng, rồi sau đó theo ra bưng khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm Huế? Chẳng hạn trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Phan, phát biểu trước đây rằng những người bị thủ tiêu chôn sống là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân.”


“Tôi tự hỏi là, nếu trí thức là lương tâm và trí tuệ của quốc gia, dân tộc, thì với những phát biểu như rứa, khi nào Việt Nam mới thoát ra được tù hãm của tâm thức thời Trung Cổ? Tôi nghĩ 40 năm đã trôi qua, đây là lúc những người trí thức thiên Tả, trí thức cộng sản hãy tự thẳng thắn đánh giá, phê bình hành vi của mình trong biến cố Mậu Thân, lúc đó mới hy vọng có thể cứu chuộc được mình và cứu chuộc được dân tộc ni.” Vẫn lời người thanh niên gốc Huế.


 


Những hình ảnh không quên


 


Nhân chứng thời ấy nói rằng, các đám tang tập thể tại Huế vào các năm 1968, 1969 là hình ảnh không thể quên cho những ai từng một lần nhìn thấy.


Trong bài viết “Mass Murder, Mass Burial” của nhà báo Tito V. Carballo, đăng trên Vietnam Bulletin vào năm 1969, có đoạn mô tả một đám tang tập thể như sau:


“Dưới ánh mặt trời chói chang, những dãy quan tài được xếp thành từng hàng ngay ngắn. Bên trong mỗi quan đóng vội này là những gì còn sót lại của các thi hài được tìm thấy. Khoảng 15,000 người, trong áo tang trắng, đứng chịu trận dưới trời nắng chang chang. Một ai đó âm thầm khóc, một ai khác khóc to vật vã. Thỉnh thoảng, họ lại nhìn nhau như thể đang tìm một lời an ủi, rằng đây không phải là sự thật, đây chỉ là một giấc chiêm bao.”


Người dân xứ Huế thời ấy, đặc biệt là người Công Giáo, bàng hoàng trước cái chết của hai linh mục ngoại quốc, ba linh mục Việt Nam, hai sư huynh dòng La San cùng một số tu sĩ khác. Trong bài viết “Bút Tích Cuối Cùng của Linh Mục Bửu Ðồng,” ông Nguyễn Lý Tưởng kể lại, hai linh mục ngoại quốc thuộc dòng Benedicto Thiên An là Linh Mục Urbain và Linh Mục Guy. Ba người Việt Nam là Linh Mục Bửu Ðồng, Linh Mục Micae Hoàng Ngọc Bang và Linh Mục Giuse Lê Văn Hộ.


Sau đây là lời kể của ông Võ Văn Bằng, trưởng ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân liên quan đến cái chết của Linh Mục Bửu Ðồng.


“Tôi xúc động nhất là khi đào lên, chúng tôi gặp xác 4 vị linh mục. Tôi còn nhớ rõ Linh Mục Bửu Ðồng, Linh Mục Lê Văn Hộ và hai sư huynh dòng Lasan. Tôi thấy rõ cái thánh giá đeo ngang ngực. Linh Mục Bửu Ðồng còn để lại 3 bức thơ để trong một hộp thiếc, bên ngoài bọc bao nilon.”


Ba bức thư được ông Bằng nhắc đến được Linh Mục Bửu Ðồng viết, một bức gởi thầy mẹ, một bức gởi các em, và một bức gởi cho giáo hữu.


Bức thư viết gởi thầy mẹ có nội dung như sau:


 


“Thư gởi thầy mẹ,


Lạy Thầy Mẹ quý mến, Thầy Mẹ rất đau khổ khi mất đi đứa con trưởng nam không được phục vụ Thầy Mẹ trong tuổi già, nhưng Thầy Mẹ sẽ được an ủi và vui mầng khi được tin con đã can đảm vì mến Chúa, yêu người trong chức vụ Linh Mục và nhiệm vụ Tông đồ.


Xin Thầy Mẹ hãy tha mọi tội lỗi và những gì không làm vui lòng Thầy Mẹ trong 57 năm nay. Xin hẹn gặp nhau trên nước Chúa. Xin Thầy Mẹ ban phép lành cho con.”


 


Cuộc thảm sát Mậu Thân, đến hôm nay tròn 45 năm. Các chứng tích một thời, chẳng hạn nghĩa trang trên núi Ba Tầng, còn gọi là núi Bân, nơi an táng khoảng 400 thi hài tìm được nơi Khe Ðá Mài vùng Ðình Môn Kim Ngọc Tháng Chín, 1969, đã bị đập phá ngay năm 1975 khi quân đội miền Bắc tiến vào miền Nam.


Linh Mục Phan Văn Lợi kể lại: “Kể từ năm 1968, mỗi năm người ta vẫn đến để cúng vái, cầu nguyện nhân dịp Tết. Riêng bên Công Giáo, tại giáo xứ Phủ Cam, mỗi năm dành ngày Mồng Mười Tết để toàn thể giáo dân lên đó cầu nguyện. Nhưng đến năm 1975, sau khi chiếm được miền Nam, Cộng Sản đã phá ngay tấm bia dựng ở phía sau và phá hai bàn thờ nằm ở phía trước. Từ đó về sau, người ta có đến cũng chỉ đến trong âm thầm lặng lẽ hoặc cá nhân mà thôi, không dám công khai.”


Liệu, việc hủy hoại những chứng tích ấy có thể che giấu sự thật đã xảy ra tại Huế, khi người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, đã hát hay đã đọc các chứng tích khác, được ghi lại qua âm nhạc, văn chương và báo chí?


Mậu Thân 1968, những gì xảy ra cho người đã khuất, sẽ còn mãi trong lòng người đang sống. Biến cố ấy sẽ không trôi qua trong quên lãng.


 


Ghi chú: Bài viết được tổng hợp, biên tập lại từ các bài viết cùng tác giả, đã được phát trên đài phát thanh Á Châu Tự Do, RFA, năm 2008.

Công chức ăn bám có khi là “con cháu các cụ cả”


HÀ NỘI (NV) –
Tuy biết rằng có ít nhất 30% trong số 2.8 triệu công chức trong guồng máy công quyền là những kẻ ăn bám “sáng cắp ô đi, tối cắp về” nhưng không dễ gì sa thải vì nhiều người trong số đó là thuộc thành phần 5C.










Một kỳ thi tuyển công chức ở Quảng Ngãi. (Hình: Dân Trí)


Trong cuộc phỏng vấn của báo Dân Trí, ông Lê Như Tiến, “Phó chủ nhiệm Ủy Ban Văn Hóa, Giáo Dục, Thanh Niên, Thiếu Niên và Nhi Ðồng” Quốc Hội CSVN tỏ vẻ bi quan khi được hỏi ý kiến cách giải quyết tình trạng công chức dôi dư.


“Tôi tin, những khó khăn trong việc giải quyết những công chức này thì ai cũng nhìn thấy nhưng vấn đề mất thời gian nhất chính là giảm ai? Quyết giảm rồi thì số công chức đó đi đâu, sẽ làm gì? Chưa kể khó khăn ở những chỗ tồn tại công chức 5C – ‘Con Cháu Các Cụ Cả’, có khi người nhàn rỗi đó lại chính là ‘con cháu các cụ’. Lãnh đạo cơ quan đó có đủ dũng cảm giảm số này không hay chưa kịp giảm thì đã bị ‘giảm’ rồi?” Ông Lê Như Tiến nói trong cuộc phỏng vấn.


Ngày 26 tháng 1 năm 2013, hệ thống tuyên truyền tại Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Xuân Phúc, phó thủ tướng CSVN, phàn nàn trong cuộc họp đầu tiên của “Ban chỉ đạo đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức”. Ông nói trong guồng máy hành chánh của chế độ với khoảng 2.8 triệu người thì “Chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”.


Ðây không phải là điều gì mới lạ mà đã tồn tại suốt bao nhiêu năm qua khi guồng máy nhà nước ngày một phình ra lớn hơn. Cả chục năm trước, chế độ Hà Nội đã tuyên truyền rầm rĩ cho kế hoạch “tinh giản biên chế” theo sự thúc hối của các định chế tài trợ quốc tế. Nhưng từ khoảng 1.5 triệu mấy năm trước, nay ông Nguyễn Xuân Phúc nêu ra con số 2.8 triệu công chức.


Theo ông Nguyễn Thế Trung, trưởng Ban Dân Vận Trung Ương của đảng CSVN nói trên báo Ðất Việt, ngân sách nhà nước đang “nuôi báo cô” tới 50% cán bộ công chức nếu nói một cách bi quan.


Gửi gấm, đưa thân nhân, người quen vào làm việc ở các cơ quan nhà nước rất phổ biến từng thấy nêu ra trên nhiều bài viết ở trong nước. Bên cạnh đó, quan chức nhận thêm người vào các cơ quan để lấy tiền hối lộ. Việc làm ở những chỗ có cơ hội ăn hối lộ, tùy theo vị trí, tốn kém đút lót càng lớn. Những điều này được thấy qua những lời bình luận của độc giả của nhiều báo liên quan đến bản tin ông Trần Trọng Dực tố cáo trong một phiên họp ở Hà Nội về tình trạng chạy một chỗ ngồi tốn ít ra 100 triệu đồng.


Ngày 31 tháng 1 năm 2013, báo Ðất Việt kể rằng tại Nghệ An “Một phòng có tới 3 sếp chỉ đạo một nhân viên, thậm chí có phòng toàn sếp không có nhân viên nào. Theo thống kê của Sở Nội Vụ Nghệ An, trong số 31 biên chế nhưng đã có tới 19 lãnh đạo gồm 1 giám đốc, 4 phó giám đốc và các trưởng, phó phòng. Phòng công chức viên chức của sở có 4 biên chế thì có tới 3 lãnh đạo gồm 1 trưởng phòng, 2 phó phòng, và chỉ có 1 nhân viên. Nhưng hài hước nhất là ở Nghệ An, có nơi chỉ có quan không có quân, chỉ có thầy, không có thợ, như “tình hình dân số” ở phòng tài chính kế toán UBND huyện Anh Sơn: 4 biên chế. Tất cả đều là “sếp”, gồm: 1 trưởng phòng và 3 phó phòng”.


Giữa năm ngoái, dư luận ở Việt Nam sửng sốt khi báo Nông Nghiệp Việt Nam đưa tin xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa có tới 500 cán bộ (công chức xã) trong khi dân số chỉ có 9,500 người đếm cả trẻ con đến cụ già. Tính ra, cứ 19 người dân thì có một quan cán bộ.


Ðể nuôi một số lượng quan quyền đông đảo như vậy, dân của xã nghèo Quảng Vinh (30.6% là hộ nghèo) phải è cổ đóng 19 loại “phí chính thức” và “chưa kể những khoản phí bên ngoài không đưa vào sổ”, báo Ðất Việt kể. (T.N.)

Lực lượng cưỡng chế đất bị ném bom thối, hỏa công


HÀ NỘI (NV) –
Người dân phường Dương Nội, quận Hà Ðông nay thuộc thành phố Hà Nội, đã dùng nhiều thứ “võ khí” từ phân thối đến lửa để đẩy lui một vụ cưỡng chế của lực lượng do nhà cầm quyền địa phương điều động.









Nông dân Dương Nội cầu viện âm binh tới giúp họ giữ được đất hiện bị nhà cầm quyền cưỡng chế. (Hình: Xuân Việt Nam)


Vụ việc đã xảy ra buổi sáng ngày Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013 khi có khoảng 200 công an, cán bộ, dân phòng và cả đầu gấu được điều động tới để đuổi đám dân Dương Nội tụ tập giữ đất tại khu đất của các gia đình họ bị nhà cầm quyền cưỡng chế.


Các gia đình nông dân suốt từ nhiều tháng qua đã căng biểu ngữ, tập hợp ở đây để đòi nhà cầm quyền giải quyết đơn thư khiếu kiện mà họ nói rằng đã làm sai luật, làm họ hết đường sống.


“Sáng nay (31 tháng 1, 2013), hàng trăm nông dân Dương Nội, Hà Ðông đã dùng lửa, trống chiêng, thanh la và cả phân thối để chống lại đám cướp đất bao gồm hàng vài trăm quân của các lực lượng tay sai: công an, dân phòng, đầu gấu côn đồ, quân của doanh nghiệp…” Bản tin trên mạng <www.danoan2012.blogspot.com> tường thuật.


Bản tin vừa kể nói rằng lực lượng của nhà cầm quyền được điều động tới để “đuổi dân ra khỏi mảnh ruộng của họ để cướp, cùng doanh nghiệp chia nhau.”


Người dân phường Dương Nội, suốt nhiều ngày qua “đã phải căng bạt làm lều ngủ canh ruộng, chuẩn bị sẵn bùi nhùi, chai và can xăng để đốt kẻ cướp.”


Không những vậy “Họ còn dùng cả hàng trăm ‘âm binh’ bằng hàng mã để canh giữ đất, cầu kinh để kêu cứu người âm để cùng họ giữ đất… chuyện này chỉ có tại thủ đô văn minh bậc nhất thế giới thôi nhé, đố có đất nước nào thú vị như vậy.”


Trong một cuộc phỏng vấn truyền thanh của đài RFA, một phụ nữ tên Cấn Thị Thêu nói rằng, “Ðất đai này là của cha ông nghìn đời để lại, nhân dân đã xây đình, xây chùa tồn tại ở đây hàng bao nhiêu nghìn năm, thế mà bây giờ họ lại bảo đất của nhà nước, rồi họ thu hồi, họ đưa cho những người giàu sang những thôn xóm để họ xây đô thị. Họ bán trên mạng hàng bao nhiêu tiền một mét vuông, đẩy người dân vào cảnh sống mà không có đất làm, chết không có đất mà chôn, thì chúng em đành phải vùng lên mà thôi. Chúng em không sợ chết đâu ạ. Chấp nhận hy sinh, chấp nhận bị bắt, bị tù. Phải vùng lên để chiến đấu chống quân cướp đất…”


Nhà cầm quyền địa phương đã ra lệnh cưỡng chế đất ruộng trên đó có nhiều mồ mả của người dân Dương Nội mà họ đã khiếu kiện ở mọi cấp từ địa phương đến trung ương suốt 5 năm qua không có kết quả.


Ðiều đáng nói, theo “Ðơn trình báo khẩn cấp” của họ gửi Bộ Công An CSVN đề ngày 15 tháng 1, 2013, đòi hỏi không cho phép “quây hàng rào” ở khu vực bị “chính quyền cưỡng chế, ủi phá trái pháp luật từ ngày 9 tháng 3, 2010 và ngày 11 tháng 3, 2010” thì họ nói kế hoạch thu hồi đất của họ mà nhà cầm quyền địa phương tiến hành “không thực hiện theo đúng quy định về quy trình, trình tự thủ tục thu hồi đất, chưa chuyển đổi được nghề nghiệp để chúng tôi chuyển sang giai cấp khác mà đã ra quyết định cưỡng chế để phá lúa, phá hoa màu, phá tài sản và mồ mả của nhân dân là trái pháp luật.”


Tờ đơn “trình báo khẩn cấp” cũng cho biết kết luận của UBND thành phố Hà Nội cũng như của Thanh Tra Chính Phủ đều đòi hỏi nhà cầm quyền địa phương phải làm đúng theo đầy đủ “Ðiều 56, Ðiều 57 của nghị định số 84” nhưng nhà cầm quyền địa phương vẫn phớt lờ.










Dân phóng hỏa để giữ đất. (Hình: Xuân Việt Nam)


Ðược biết, những năm gần đây, nông dân phường Dương Nội đã tới biểu tình trước dinh ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, trước Quốc Hội và nhiều cơ quan trung ương khác của chế độ Hà Nội gần như hàng ngày.


Trong cuộc phỏng vấn của đài RFA, bà Cấn Thị Thêu nói rằng người dân Dương Nội “thà hy sinh chứ không chịu mất đất.” (TN)

Nhạc Sĩ Phạm Duy

‘Bên Thắng Cuộc’, Hiệp Ðịnh Paris và…


Song Chi/Người Việt


 


Những ngày vừa qua, có hai sự kiện được báo chí, dư luận trong ngoài nước, cả “lề đảng” lẫn “lề dân” nhắc đến nhiều nhất là việc xuất bản cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Ðức tức blogger Osin, và kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris (27.1.1973-27.1.2013).









Sau 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, sắp 38 năm sau 30 tháng 4, 1975, nhiều trẻ em ở Việt Nam vẵn thiếu cơm ăn và áo mặc. (Hình: Blog Mai Thanh Hải)


Cả hai sự kiện chẳng ăn nhập gì đến nhau nhưng vô hình trung lại có những điểm giống nhau.


Thứ nhất, cùng cho thấy sự khác biệt trong cái nhìn của nhà nước đang cầm quyền và người dân đối với một sự việc/sự kiện, và sự khác biệt, chia rẽ, những trạng thái tâm lý phức tạp giữa người Việt Nam với nhau trong cách nhìn nhận, đánh giá về quá khứ chưa xa.


Cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” viết về lịch sử Việt Nam, chủ yếu là miền Nam, sau năm 1975, đã nhận được vô số lời khen, chê khác nhau. Bị “đánh” từ cả hai phe – “bên thắng cuộc” là đảng cộng sản VN, qua những bài viết trên các tờ báo đảng, và “bên thua cuộc,” từ những bài viết cho đến những cuộc biểu tình của người Việt chống cộng tại Little Saigon.


Nếu cuốn sách bị đánh bởi “bên thắng cuộc” thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì đã trình bày những sai lầm, ấu trĩ đưa đến vô số hậu quả tai hại cho đất nước, dân tộc VN sau chiến tranh của nhà nước cộng sản, điều mà họ không bao giờ muốn nhớ lại.


Nhưng cuốn sách cũng bị đánh bởi những người của “bên thua cuộc.” Ðiều đó cho thấy sự chia rẽ sâu sắc trong lòng người VN từ những chỗ đứng khác nhau. Và vết thương của cuộc chiến tranh, của những năm tháng đen tối ở Sài Gòn và miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã buộc hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi, vẫn còn rỉ máu, dù đã hơn ba mươi năm trôi qua.


Sự kiện 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris thì lại chủ yếu cho thấy sự khác biệt trong cách nhìn nhận, đánh giá một sự kiện lịch sử của nhà cầm quyền – vẫn là “bên thắng cuộc” và người dân, “bên thua cuộc” nói chung.


40 năm trôi qua vừa nhanh như một cái chớp mắt trong cả chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của một dân tộc. Nhưng cũng lại rất lâu, rất dài, nếu so giữa quãng đường đi của một dân tộc, một quốc gia này với một dân tộc khác, quốc gia khác, bắt nguồn từ một quyết định đúng hay sai.


Trong khi đảng và nhà nước cộng sản phấn khởi, tưng bừng kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris, báo chí truyền thông nhà nước tung ra hàng chục bài xung quanh sự kiện này, tiếp tục những lời tụng ca nào thắng lợi lịch sử, đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam, v.v. và v.v. Thì người dân Việt Nam, những ai đã nhìn ra sự thật về sự kiện Hiệp Ðịnh Paris, đối chiếu với cuộc sống xã hội Việt Nam hiện tại, lại có cái nhìn khác.


Ngay cả cái chiến thắng mà đảng cộng sản vẫn tuyên truyền cho đến tận giờ phút này, là một chiến thắng dựa trên sự lừa dối vĩ đại, một nền hòa bình phải trả bằng một giá quá đắt. Sau 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, người dân Việt Nam đã được gì?


Ðúng là Việt Nam đã thống nhất, đã có hòa bình, nhưng đất nước vẫn nghèo nàn, tụt hậu, thua xa các nước láng giềng trong khu vực về nhiều mặt chứ chưa nói đến thế giới. Nhân dân không được hưởng tự do dân chủ thật sự, nhân quyền không được tôn trọng, đời sống bất an, giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, thể thao… đều lạc hậu hàng chục, hàng trăm năm. Một phần lãnh thổ, biển, đảo bị mất, VN bị lệ thuộc nặng nề vào TQ và đang đứng trước nguy cơ mất nước…


Thứ hai, cả hai sự kiện – cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” và 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris, cho thấy một điều (mà phần lớn chúng ta đều biết): Những “lỗ hổng” về lịch sử (dù mới xảy ra chưa bao lâu) trong đời sống sách vở, thông tin chính thức ở Việt Nam và trong kiến thức của một bộ phận giới trẻ sinh ra sau 1975.


Những “lỗ hổng” đó do nhà cầm quyền tạo ra. Cũng như họ đã tạo ra vô số “lỗ hổng” khác, khi họ viết lại lịch sử Việt Nam từ khi có đảng cộng sản ra đời, và kể cả trước đó nữa, bằng cái nhìn của “bên thắng cuộc.”


Cho đến giờ phút này, 40 năm sau Hiệp Ðịnh Paris, 38 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền vẫn không có đủ dũng cảm nhìn thẳng vào những sự thật bị bưng bít.


Họ vẫn tiếp tục say sưa ngợi ca những thắng lợi của quá khứ, như đối với sự kiện Hiệp Ðịnh Paris. Và vẫn tức giận điên cuồng khi có ai đó lôi ra những mảng tối bị che giấu, như trong trường hợp cuốn sách “Bên Thắng Cuộc.”


Hơn nữa, đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn, khủng hoảng của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Vì thế, họ càng phải bám lấy những “thành tích,” “hào quang” đã qua để níu kéo lý do tồn tại, càng trở nên “nhạy cảm” với mọi sự nhắc nhở đến những sai lầm.


Và cuối cùng, cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” hay sự kiện 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, một lần nữa, đặt ra cho người Việt Nam câu hỏi: chúng ta đã bắt đầu hành trình lấp kín những khoảng trống lịch sử, sám hối và rút ra những bài học hay chưa?


Chờ đợi nhà cầm quyền làm điều đó là dường như vô vọng, dựa trên kinh nghiệm xương máu của người Việt Nam bao nhiêu năm qua. Thực tế đã chứng minh, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam từ trước đến nay luôn luôn có những chọn lựa, quyết định sai bởi vì họ luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của chế độ, phe nhóm và bản thân lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc.


Mặt khác, họ là những người học rất chậm những bài học của quá khứ. Về mặt này, các thế hệ lãnh đạo của Việt Nam có tầm nhìn ngắn hơn và rụt rè hơn các ông anh Trung Quốc của họ nhiều.


Nhưng còn người dân Việt Nam?


Không chỉ giới lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản, sự thật cay đắng là chính người Việt Nam, khi đứng trước những thời điểm buộc phải có những quyết định sinh-tử có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, cũng thường chọn lựa sai hoặc phó mặc vận mệnh đất nước cho thời cuộc xoay vần.


Lịch sử Việt Nam kể từ thế kỷ XX đến nay là lịch sử của những sự chọn lựa sai lầm, những quyết định sai lầm của cả những người lãnh đạo lẫn người dân. Là một lịch sử quá cay đắng, bất hạnh, nếu chúng ta so sánh với nhiều nước khác, trong những hoàn cảnh, thời điểm tương tự.


Nhưng liệu bây giờ chúng ta có đủ cương quyết để tự mình giành lấy quyền chọn lựa lại, quyền quyết định về tương lai, vận mệnh đất nước thay vì ngồi trông chờ nhà cầm quyền biết sửa đổi?


Hoặc thảm hơn, trông chờ Hoa Kỳ nhúng tay hỗ trợ chúng ta, trông chờ chiến tranh TQ-Hoa Kỳ xảy ra và Trung Quốc thất bại, bị xé ra thành từng mảnh nhỏ và không còn là một mối đe dọa đối với Việt Nam? Hay Trung Quốc tự chuyển đổi trước thành một nước dân chủ và Việt Nam sẽ theo sau v.v…


Một thách thức không nhỏ khác nằm trong tính cách của người Việt, đó là bi kịch của đất nước trong bao nhiêu năm đã gây nên sự nghi kỵ, chia rẽ sâu sắc trong lòng người Việt Nam. Có thể nhận thấy điều đó qua những cách đánh giá rất khác nhau về cuốn “Bên Thắng Cuộc” chẳng hạn.


Sự khác nhau trong nhận định, quan điểm là chuyện bình thường, nhất là với một cuốn sách mà ngay chính tác giả cũng thừa nhận sẽ có những thiếu sót. Nhưng nếu với một sự việc nhỏ mà người Việt vẫn chưa thể bao dung với nhau thì con đường để cùng nhau thay đổi vận mệnh đất nước sẽ còn khó khăn gấp nhiều lần.


Một dân tộc đã từng phải trải qua những bi kịch cay đắng như Việt Nam, dân tộc ấy lẽ ra cần phải học nhanh hơn các dân tộc khác, những bài học đắt giá của lịch sử.

Cụ Ông Dương Đình Nghiệp

Cụ Bà Nguyễn Đình Công

Ông Bùi Minh Châu

Hồng Sâm Hàn Quốc


Ðem đến hạnh phúc và sức khỏe cho mọi người


Cheong Kwan Jang (CKJ) – Nhãn hiệu nhân sâm Hàn Quốc danh tiếng


 


Ðại khai trương gian hàng Korean Red Ginseng trong thương xá Phước Lộc Thọ


 


Bài và hình: DanHuynh/Người Việt


 


Trong cuộc sống để tận hưởng hạnh phúc, vấn đề chính hàng đầu vẫn là sức khỏe. Ông bà xưa luôn nói “sức khỏe là vàng”. Một trong những phương thuốc từ lâu đem đến sức khỏe thật hữu hiệu danh bất hư truyền từ thiên nhiên chính là “sâm Cao Ly” (sâm Hàn Quốc).


 










Ðại lý Hồng Sâm CKJ vừa khai trương trong khu thương xá Phước Lộc Thọ, thành phố Westminster.


Nhân sâm tốt quý nhất – Nhân sâm Korea


 


Sâm Hàn Quốc đã có lịch sử lâu đời từ cách đây hàng ngàn năm. Sử sách có ghi chép rằng nhân sâm từng được dùng như phương thuốc cổ truyền tốt nhất đặc sản của nước Cao Ly – quốc gia thời cổ đại của Hàn Quốc. Các hoàng đế Trung Hoa trong hành trình đi khắp hang sơn thẩm cốc tìm kiếm các dược thảo cho vị thuốc trường sinh bất lão, trong đó có nhân sâm Cao Ly (Korea) là phương thuốc được xem trọng nhất. Giá trị và các thành phần có hiệu quả của vị thuốc này được lưu truyền, từ đó nhiều loại sâm được canh tác tại nhiều nơi như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, v.v. nhưng đại từ của nhân sâm chính là Nhân Sâm Hàn Quốc với thổ nhưỡng tốt nhất, điều kiện canh tác tốt, lịch sử canh tác lâu đời và có chất lượng cao, tốt nhất.


 






(Từ trái) Ông Rian Lee, giám đốc tiếp thị Korea Ginseng Corp., ông bà Steven Chiu, ông TGÐ và ông bà Tạ Ðức Trí, thị trưởng TP. Westminster. Ðang cắt băng khánh thành đại lý Hồng Sâm CKJ.


Cheong Kwan Jang – Hồng Sâm danh tiếng của Hàn Quốc


 


Từ xa xưa, người Trung Hoa đã xem Hồng Sâm Cao Ly trồng tại bán đảo Triều Tiên là một sản vật quý hiếm. Chính vì vậy, ngay từ thời kỳ đầu sản phẩm Hồng Sâm Korea của tổng công ty Nhân Sâm Hàn Quốc đã nhắm đến đối tượng người Trung Quốc và Ðông Nam Á, đã xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông, Ðài Loan, Trung Quốc, v.v… Cùng với uy tín ngày càng tăng của Hồng Sâm Korea, các sản phẩm tự chế và hồng sâm Korea giả cũng bắt đầu lan tràn. Do đó vào đầu thập niên 1940, để phân biệt hàng giả mạo và Hồng Sâm Korea của tổng công ty nhân sâm Hàn Quốc, “Chúng tôi cho in tên ‘Cheong Kwan Jang’ trên các hộp sâm Korea (Cheong Kwan Jang) xuất phát từ tên truyền miệng của giới thương nhân Trung Quốc lúc đó dùng để ám chỉ hàng thật của chính hãng.










Những sản phẩm phong phú của Hồng Sâm CKJ.


CKJ (Cheong Kwan Jang) là nhãn hiệu Hồng Sâm 6 tuổi, được trồng trọt dưới hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt nhất. Ðể bảo đảm chất lượng nhân sâm cao nhất, tập đoàn Nhân Sâm Hàn Quốc chỉ lựa chọn những mảnh đất tự nhiên nhất và màu mỡ nhất để trồng trọt nhân sâm cam kết đủ 6 năm tuổi, được theo dõi và hướng dẫn theo một hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt trong suốt thời gian đó. Chỉ có những củ sâm đạt tiêu chuẩn của hệ thống kiểm soát chất lượng này và vượt qua 5 bước kiểm tra độ an toàn trong suốt 6 năm trồng trọt mới được trở thành nguyên liệu của CKJ.



Tên tuổi CKJ ngày càng lan rộng và nay đã đến Hoa Kỳ, có mặt trên khắp các tiểu bang và riêng ở California Hồng Sâm Hàn Quốc CKJ đã có nhiều các địa điểm khắp nơi.


Sản phẩm nhân sâm CKJ (Cheong Kwan Jang) thật phong phú, gồm rất nhiều các loại khác nhau như: Dạng nước uống tinh chất nhân sâm cao cấp, tinh chất cao, dạng viên tròn, dạng con nhộng (capsule), dạng hồng sâm gold, hồng sâm Mild, hồng sâm F, hồng sâm Hwai Ki Ryeok, sản phẩm trà cao hồng sâm, sản phẩm bánh kẹo hồng sâm, v.v… ngoài ra còn có các loại sản phẩm thuốc bổ hồng sâm dành cho trẻ em từ 3-5 tuổi, từ 5-9 tuổi và dành cho thanh thiếu niên.



Ngày đại khai trương của Hồng Sâm Korea CKJ có truyền thông báo chí đến đưa tin, có nhiều quý khách hàng thân quen đến tham dự, và đặc biệt có sự tham dự của ông Tạ Ðức Trí, thị trưởng thành phố Westminster, ông Rian Lee, giám đốc Tiếp Thị của Korea Ginseng Corp. buổi lễ khánh thành diễn ra thật trang trọng. Có phần bốc thăm trúng thưởng thật vui và hấp dẫn. Ông bà Steven Chiu, bà Fran Chiu đại diện chính thức của CKJ tại thương xá Phước Lộc Thọ cho biết: “Chúng tôi chính thức trở thành đại lý của CKJ, chúng tôi muốn đem đến cho cộng đồng người Việt ở Bolsa một sản phẩm quý giá về sức khỏe để vui sống và hạnh phúc, sản phẩm của chúng tôi danh tiếng và được ủng hộ rất lâu năm trên thị trường Mỹ, chúng tôi hy vọng được phục vụ cho quý vị sản phẩm Hồng Sâm CKJ, chắc chắn sẽ đem đến cho quý vị sự hài lòng mỹ mãn từ sức khỏe đến tinh thần và chúng tôi cũng gửi lời cám ơn đến những quý khách đã ủng hộ sản phẩm chúng tôi từ trước đến nay.”










Hình ảnh ngày khai trương của đại lý Hồng Sâm CKJ tại thương xá Phước Lộc Thọ, trung tâm Little Saigon


Cô Hà Linh, cư dân thành phố Garden Grove, một khách hàng thân quen của Hồng Sâm CKJ đến dự ngày khai trương, đã vui vẻ cho biết: “Cả gia đình tôi đều dùng Hồng Sâm CKJ đã lâu, riêng tôi chỉ dùng được hơn tháng nay nhưng tôi thấy vô cùng hiệu nghiệm tôi thấy trong người luôn được giữ ấm dù đang trong mùa lạnh, sức khỏe rất tốt và luôn có giấc ngủ thật ngon, đặc biệt là thấy da của mình đẹp nhiều hơn. Ông xã của tôi thì mặc dù đi làm ca đêm nhưng vẫn không thấy buồn ngủ và khỏe hẳn ra.”



Bà Fran Chiu, cũng giới thiệu về ba của mình, ông cụ đã dùng qua Hồng Sâm CKJ: “Ba tôi bị ba thứ cao là máu cao, đường cao và cholesterol cao, ông cụ đã uống qua 6 tháng và cho đến ngày hôm nay tất cả đều normal, hiện ba tôi sức khỏe rất tốt và không phải lo lắng gì hết.”



Hôm nay Nhân SCKJ (Cheong Kwan Jang), hồng sâm danh tiếng của Hàn Quốc đã đại khai trương thêm một cửa hàng ngay trung tâm thương xá Phước Lộc Thọ, thành phố Westminster để ra mắt cộng đồng người Việt ở Little Saigon. Nhân dịp vào những ngày gần Tết chắc chắn Hồng Sân CKJ sẽ là một món quà Tết ý nghĩa nhất quý khách dùng để tặng ông bà cha mẹ, những bậc trưởng thượng và quý giá nhất là gửi đến món quà sức khỏe quý báu như vàng! Ðem đến hạnh phúc và sức khỏe cho mọi người đó là điều hạnh phúc nhất cho chính mình. Món quà Nhân Sâm CKJ sẽ giúp bạn thực hiện được điều đơn giản đó! Hân hạnh đó tiếp quý khách.


Mọi chi tiết xin liên lạc:


Korean Red Gingseng


(Trong gian hàng Gigi’s Cosmetics)


9200 Bolsa Ave,# 131-3


Westminster, CA 92683


Tel: (714) 898-9898


(888) 869-6688

Tin Luot

Việt Nam


 



  • Càng sát Tết, thị trường bia càng có hiện tượng loạn giá, nơi thì thổi giá lên hàng chục nghìn đồng mỗi thùng, nơi khác vẫn duy trì giá cũ.

 



  • Lá dong năm nay bán chạy hơn so với mọi năm. Nhiều chủ sạp phải dùng cả xe hơi để chuyển lá cho nhiều cửa hàng lớn tại Sài Gòn vì họ mua tới hàng trăm kg lá đủ loại.

 



  • Phố Ông Ðồ tại Hà Nội năm nay vắng khách. Khai mạc đã vài ngày, phố ‘bán’ chữ thư pháp tại Văn Miếu vẫn đìu hiu, các ông bà đồ chỉ ngồi chơi xơi nước, thỉnh thoảng múa bút vài chữ.

 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


 



  • Giá xăng tăng 6 cents hôm Thứ Sáu và cao nhất trong gần 3 tháng. Theo các phân tích gia, giá xăng chỉ có thể tăng hơn. Hiện nay giá xăng thường là $3.90/gallon.

 



  • Bà Christina Talley, luật sư thành phố Anaheim thình lình xin nghỉ việc vì bị áp lực của Hội Ðồng Thành Phố, vì đã cố vấn HÐTP chấp thuận bất hợp lệ $158 triệu giúp phát triển hai khách sạn gần Disneyland.

 


Hoa Kỳ


 



  • Walmart nói vì cung không kịp cầu, khách hàng chỉ được mua ba hộp đạn mỗi ngày.

 



  • Hillary Rodham Clinton chính thức từ chức bộ trưởng ngoại giao thứ 67 của Hoa Kỳ.

 



  • Xe bán ở Mỹ tăng 14% trong Tháng Giêng, chỉ dấu cho thấy khởi đầu tốt của năm 2013.

 



  • Bộ Trưởng Năng Lượng Steven Chu tiết lộ ý định từ chức qua một lá thư gửi cho bộ hôm Thứ Sáu.

 



  • Hệ thống banking online của Bank of America bị “crash” khiến khách hàng không thể vào tài khoản riêng.

 



  • Vụ nổ súng trong trường ở Atlanta khiến phải xét lại sự kiến hiệu của máy rà kim loại dùng để giữ an toàn ở các trường học.

 


Thế Giới


 



  • Tại Trung Quốc, xe hơi cũ bán mạnh hơn xe mới trong hai năm liên tiếp.

 



  • Ôm bom tự sát ở Tây Bắc Pakistan làm ít nhất 21 người chết và 33 bị thương.

 



  • Cảnh sát đụng độ với người biểu tình ngay bên ngoài dinh tổng thống Ai Cập ở Cairo, một chết, hàng chục bị thương.

 



  • Thủ Tướng Anh David Cameron bất thần ghé thăm Libya, nêu thắc mắc phải chăng hồ sơ Lockerbie lại được mở ra trở lại.

Ði viếng nhạc sĩ Phạm Duy

 


Nguyễn Ðạt/Người Việt


 


SÀI GÒN (NV) – Nghe tin nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, trong buổi sáng ngày 27 tháng 1, nhưng bận công việc ở Gò Công nên trưa ngày 1 tháng 2 chúng tôi mới tới thắp nén nhang vĩnh biệt nhạc sĩ.









Linh cữu nhạc sĩ Phạm Duy được quàn tại nhà riêng, cư xá Lê Ðại Hành, Quận 11. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Chúng tôi rủ nhà thơ Phạm Thiên Thư cùng đi, nhưng ông bảo đã viếng nhạc sĩ Phạm Duy ngay sau lễ nhập quan. Nhà thơ cho hay, ông gặp ca sĩ Ánh Tuyết và ca sĩ Ryo người Mỹ hát nhạc Việt, ở đám tang cùng lúc đó.


Hỏi về tang lễ nhạc sĩ Phạm Duy, nhà thơ Phạm Thiên Thư lắc đầu, nói: “Mình tưởng Hội Âm Nhạc thành phố đứng ra tổ chức tang lễ cho ông Phạm Duy chứ, hóa ra không. Ðài truyền hình thành phố cũng vậy, không hề loan báo tin một nhạc sĩ lớn của dân tộc Việt Nam qua đời. Nhưng thôi, mình đã quá biết họ là như vậy.”


Ông nói thêm, “Riêng mình, quá buồn thương khi nhạc sĩ như Phạm Duy mất đi; ấy là mình chưa nói, rằng không có người nhạc sĩ đại tài như Phạm Duy, thơ mình đã chẳng thể tới tâm hồn mọi người như vậy…”










Ca sĩ Tuấn Ngọc (phải) bên linh cữu nhạc sĩ Phạm Duy. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Nhà thơ Phạm Thiên Thư giục tôi tới đám tang; rồi về quán Hoa Vàng của gia đình ông, để cùng uống ly cà phê đậm nhất, nghe những nhạc phẩm của nhạc sĩ.


Tới đám tang, ngó kim đồng hồ chỉ đúng 3 giờ 30; giấc trưa, thưa vắng người tới đám. Chúng tôi thắp nén nhang trước linh cữu nhạc sĩ Phạm Duy; xong, ra rạp che ngoài hàng hiên, uống trà, có ca sĩ Tuấn Ngọc – con rể nhạc sĩ Phạm Duy – ngồi tiếp chuyện.


Tuấn Ngọc cho biết, vài tháng trước khi nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, Duy Cường – thứ nam của nhạc sĩ – đã đưa cha tới bệnh viện nhân dân 115 mấy lần, vì ông lên cơn bệnh đau tim. Lần sau cùng vừa qua, cũng vẫn hy vọng cha vượt qua được cái chết. Ðâu ngờ hôm ấy, 27 tháng 1, Duy Cường vào bệnh viện thăm cha, không thấy dấu hiệu nào đáng ngại; nhưng khi anh về tới nhà, người giúp việc túc trực bên bệnh nhân, báo tin nhạc sĩ Phạm Duy vừa tắt thở.










Vòng hoa của nhạc sĩ Tô Hải viếng nhạc sĩ Phạm Duy. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Ở đám tang, giữa những vòng hoa phúng điếu chia buồn, vĩnh biệt nhạc sĩ Phạm Duy, chúng tôi nhận thấy có cả vòng hoa phúng điếu của nhạc sĩ Tô Hải, người từng viết hồi ký về những nỗi cay đắng tủi nhục khi sống trong chế độ cộng sản.


Sau khi đi đám nhạc sĩ Phạm Duy, thay vì trở lại quán Hoa Vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư, tôi về nhà mở Internet xem tin tức bên ngoài về nhạc sĩ Phạm Duy qua đời.


Người Việt Online đã bị bức tường lửa ngăn chặn quyết liệt từ hơn một tuần nay; mở mạng Tiền Vệ, đọc được bài cảm nhận của Nguyễn Hưng Quốc sau khi nghe tin nhạc sĩ Phạm Duy mất.










Cáo phó và chương trình tang lễ của nhạc sĩ Phạm Duy. (Hình: Nguyễn Thiện Cơ)


Chúng tôi ghi lại trích đoạn bài cảm nhận của nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc; để thêm nén nhang nữa, tưởng niệm người nhạc sĩ.


“…Chính quyền ở trong nước vẫn không quên những bài hát chống Cộng của ông trước đây nên dù ông đã lớn tuổi và đã về nước sống hẳn, họ vẫn tìm mọi cách để ngăn chặn những tác phẩm ấy. Giấy phép cho các tác phẩm của ông chỉ được cấp một cách dè dặt.






        Nhạc sĩ Phạm Duy từ trần tại bệnh viện nhân dân 115-Quận 10, lúc 14g30 ngày 27  tháng 1, 2013, hưởng thọ 93 tuổi. Lễ nhập quan lúc 9 giờ ngày 28 tháng 1, tại nhà riêng ở cư xá Lê Ðại Hành, khu Trường đua Phú Thọ-Quận 11; lễ động quan sẽ diễn ra lúc 7g ngày 3 tháng 2; sau đó linh cữu sẽ được đưa đi an táng tại Hoa viên Nghĩa trang tỉnh Bình Dương.


Trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, quyết định về nước của Phạm Duy gây không ít bất mãn. Từ cả hai phía, nơi nào cũng cảm thấy ít nhiều bị Phạm Duy phản bội. Ở đây, tôi không bàn đến chuyện cảm giác ấy đúng hay sai. Tôi không kết án hay bênh vực cho Phạm Duy. Tôi chỉ ghi nhận một sự kiện: chính những cảm giác ấy đã ngăn cản việc người ta tiếp cận với nhạc Phạm Duy. Bây giờ Phạm Duy đã qua đời. Tất cả những nghi ngờ, bất đồng hay bất mãn sẽ dần dần chìm vào quên lãng. Con người thật của Phạm Duy sẽ không còn án ngữ trước khối lượng tác phẩm đồ sộ và nguy nga của Phạm Duy. Một lúc nào đó, nghĩ đến Phạm Duy, người ta sẽ không còn nhớ đến những chuyện đi kháng chiến rồi dinh tê, chuyện vào miền Nam rồi vượt biên hay chuyện sống ở Mỹ rồi quay về Việt Nam; người ta cũng không còn nhớ những câu phát biểu nhiều khi rất tùy hứng và tùy tiện của ông. Lúc ấy, nghĩ đến Phạm Duy, người ta chỉ nghĩ đến những bài hát do ông sáng tác. Lúc ấy, tôi nghĩ, ông mới sống thật cuộc sống của ông. Một cuộc sống thật vĩ đại.”

Nhân quyền tại Việt Nam tồi tệ hơn trước

LONDON (NV) – Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch) nói rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam năm 2012 tồi tệ hơn trước trong bản phúc trình thường niên công bố hôm Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013.








Nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải tức blogger Ðiếu Cày (giữa) đứng biểu tình bày tỏ lòng yêu nước trước Nhà Hát Thành Phố Sài Gòn. Ông đã bị chế độ Hà Nội bỏ tù với 2 bản án liên tiếp. Bản án thứ hai với 12 năm tù ngày 24 tháng 9, 2012 cáo buộc ông “Tuyên truyền chống nhà nước…” Cùng bị bỏ tù với ông là blogger Tạ Phong Tần với bản án 10 năm tù và blogger Phan Thanh Hải với 4 năm tù. (Hình: Blog Tạ Phong Tần)


“Nhà nước CSVN đàn áp một cách có hệ thống các quyền tự do phát biểu, hội họp, lập hội một cách ôn hòa cũng như kết án những ai chất vấn các chính sách của nhà nước, phanh phui tham nhũng hoặc kêu gọi dân chủ thay thế cho chế độ độc đảng.”


Bản phúc trình của HRW tố cáo như vậy trong bản phúc trình về tình hình nhân quyền tại 90 quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bản phúc trình cũng phân tích về tình hình tiến bộ nhân quyền trên thế giới tiếp theo các vụ nổi dậy đòi dân chủ hóa ở khu vực Bắc Phi Châu thường được gọi là “Mùa Xuân Ả Rập.”


Tại Việt Nam, bản phúc trình của HRW nói các người vận động dân chủ hóa đất nước vẫn tiếp tục bị bắt giữ và bỏ tù một cách tùy tiện, bất chấp luật lệ của chế độ đẻ ra. Họ bị giam giữ cách ly, không cho gia đình tiếp xúc, thăm hỏi và cũng không cho luật sư tiếp cận. Các phiên tòa đều “theo chỉ đạo chính trị” và áp đặt những bản án thật nặng nề theo những điều khoản luật pháp bị thế giới lên án là mù mờ và không tương ứng với thông lệ quốc tế.


“Tình hình nhân quyền tại Việt Nam lại lùi thêm một bước trong năm 2012 vì nhà cầm quyền theo đuổi các chính sách cứng rắn khi ngày càng gia tăng những dấu hiệu bất mãn về kinh tế, xã hội và chính trị.” Ông Brad Adams, giám đốc Á Châu của HRW phát biểu. “Vào lúc Miến Ðiện, thành viên ASEAN cùng với Việt Nam, đang có những thay đổi sâu xa thì nhà cầm quyền CSVN lại nổi bật lên với các chính sách trái ngược, bỏ tù các người vận động dân chủ hóa đất nước và kéo lùi sự phát triển của Việt Nam.”


HRW nhận thấy năm ngoái là năm nhà cầm quyền Hà Nội có những dấu hiệu lục đục nội bộ qua sự đấu đá giữa hai phe quyền lực khác nhau giữa ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và phe ông Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng. Nền kinh tế Việt Nam tồi tệ nhất trong 13 năm qua vì chính sách sai lầm và lợi ích phe nhóm. Ông Nguyễn Tấn Dũng từng bị kêu gọi từ chức nhưng ông vẫn không hề lay chuyển.


HRW kiểm điểm thấy trong năm 2012, ít nhất đã có 40 người vận động dân chủ bị bắt giam theo các điều khoản hình sự từ “Hoạt động lật đổ chính quyền” (điều 79), “Phá hoại đoàn kết” (điều 87), “Tuyên truyền chống nhà nước…” (điều 88), “Phá rối an ninh” (điều 89), “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” (điều 258) của Bộ Luật Hình Sự, để bỏ tù người dân.


Trong khi đó, Hiến Pháp của chế độ thì vẫn nói người dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do lập hội và hội họp…


Không kể những người đã có án tù, năm 2012 còn ít nhất 31 người bị giam giữ chưa thấy xử án cho đến nay. Trong đó, có Luật Sư Lê Quốc Quân bị vu cho tội “trốn thuế” mà ai cũng hiểu ông và một số người trong gia đình đã bị tù tội chỉ vì ông dùng Internet phát biểu chính kiến hoàn toàn khác với chủ trương độc tài đảng trị của chế độ Hà Nội.


Nhà cầm quyền Hà Nội đã đưa ra nhiều lệnh lạt để siết chặt sự sử dụng Internet và để bỏ tù bất cứ ai dùng mạng điện tử phơi bày các tội ác của chế độ.


HRW liệt kê một số vụ án điển hình trong năm 2012 như kết án Mục Sư Nguyễn Công Chính 11 năm tù hồi tháng 3, vu cho ông tội “phá hoại đoàn kết quốc gia.”


Bỏ tù hai bà Hồ Thị Huệ và Nguyễn Bích Thủy ở Tây Ninh chỉ vì họ khiếu kiện cướp đất đền bù bất công.


Một số tín đồ Thiên Chúa Giáo gồm Võ Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Thanh, Ðậu Văn Dương, Trần Hữu Ðức và Chu Mạnh Sơn đã bị kết án từ 2 đến 4 năm tù, vu cho họ rải truyền đơn hay tuyên truyền chống chế độ.


Phiên tòa gây đặc biệt chú ý là xử ba nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải vào ngày 24 tháng 9, 2012 với các bản án nặng nề. Hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình vì làm các bài hát kêu gọi mọi người bày tỏ lòng yêu nước trước tham vọng bá quyền bành trướng của Trung Quốc đều bị án tù nặng nề. Chế độ Hà Nội bị thế giới lên án và Ủy Ban Nhân Quyền LHQ cũng đã phải lên tiếng đả kích CSVN vi phạm nhân quyền.


Theo HRW, năm 2012, ít nhất có 15 người đã bị công an CSVN nhục hình mà nhiều người trong số đó đã chết. (TN)

Bảo thủ và Cấp tiến trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ

 


Hà Tường Cát/Người Việt


 


Bảo thủ (conservatism) và Cấp tiến (liberalism) là hai khái niệm căn bản trong ý thức hệ chính trị Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ khác. Tuy nhiên với những khuynh hướng phức tạp và sự pha trộn lẫn nhau, rất khó có thể định nghĩa và phân định chính xác các khái niệm ấy ở một cá nhân, một tập thể hay một đảng phái.


Một cách đại cương đảng Dân Chủ có khuynh hướng cấp tiến và được xem là cánh tả trong sinh hoạt chính trị, trong khi đảng Cộng Hòa thiên về bảo thủ và được coi là cánh hữu. Trong sự bất đồng ý kiến và đối đầu gay gắt giữa hai đảng về hầu hết các vấn đề trong thực tế chính trị Hoa Kỳ nhất là những năm gần đây, người ta càng không thể nào phân biệt là người cấp tiến hay người bảo thủ tin tưởng hay nỗ lực đấu tranh để thành đạt điều gì. Ðể giản dị hóa nhận định, chỉ nên giới hạn sự quan sát trên những sự kiện cụ thể và hành động thực tế.


Cũng nên nhận xét rằng hai chính đảng ở Mỹ không được tổ chức thành những cơ cấu hết sức chặt chẽ và khép kín, các đảng viên Cộng Hòa hay Dân Chủ không gọi nhau bằng đồng chí (!)và một chính trị gia chuyển đổi từ đảng này sang đảng khác là rất thông thường. Về phía quần chúng, sự xác định đảng tính hầu hết mang tính cách hình thức và tượng trưng hơn là sự câu kết. Trong mỗi mùa bầu cử, cử tri ghi danh theo một đảng hoặc không chọn đảng nào và sự gắn bó với chọn lựa ấy khi bỏ lá phiếu, cũng rất giới hạn.


Vì vậy có thể nói rằng người dân Mỹ không để mình bị vướng víu ràng buộc vào một ý thức hệ chính trị nào và quan điểm chính trị của họ là rất thực dụng. Nỗ lực tranh đấu chỉ được thể hiện qua các chính trị gia và nếu có sự kiên định lập trường ở một số cá nhân nào đó thì người ta sẽ hoài nghi về yếu tố thúc đẩy hơn là tin rằng vì lý tưởng cao xa. Xã hội Hoa Kỳ là đa văn hóa và đa dạng nên thỏa hiệp là nguyên tắc then chốt để giải quyết vấn đề. Hợp tác lưỡng đảng, cái mà các chính trị gia vẫn thường hay kêu gọi, thật ra là sự thỏa hiệp, bởi lẽ với quan điểm cùng chủ trương hoàn toàn khác biệt giữa hai phái bảo thủ và cấp tiến, không có chỗ cho sự hợp tác.


Michael Steele, cựu chủ tịch toàn quốc đảng Cộng Hòa và hiện nay là phân tích gia chính trị cho MSNBC, nhận định về cách giải quyết vấn đề ‘fiscal cliff’, bờ vực hiểm nghèo của ngân sách Hoa Kỳ vừa được vượt qua như sau: “Tôi không biết nó thế nào, nhưng biết là gần tới rồi! Suốt nhiều tuần nhiều tháng chúng ta nghe nói đến nó nhưng rồi để tới sát tận nơi, vào đêm cuối năm, rồi mới tìm ra cách: thỏa thuận để vượt qua. Nhưng tạm thời chỉ trong hai tháng. Ôi chao, cách làm hỏng một năm mới!”


Steele phàn nàn rằng “trên đường đi tới fiscal cliff, chúng ta đã quên rằng thế nào là người Mỹ.” Với những khó khăn không được giải quyết dứt điểm, một thăm dò mới nhất của Washington Post/ABC News cho biết chỉ có 40% người Mỹ hy vọng vào năm 2013 còn 56% cảm thấy lo lắng tương lai mờ mịt.


Người có khuynh hướng cấp tiến tin rằng thế giới có thể tốt đẹp hơn và họ cố gắng cải thiện nó, hướng tới tương lai với hy vọng có một xã hội hoàn thiện, do đó tìm cách quy định kinh doanh và nền kinh tế. Ngược lại người bảo thủ tin là thế giới cũ đã tốt đẹp vì vậy phải bảo vệ những lý tưởng cũ và truyền thống, do đó chủ trương cởi trói kinh doanh và nền kinh tế.


Từ hai quan niệm ấy, đi vào thực tế, người bảo thủ bênh vực tự do cá nhân tuyệt đối trong đó bảo vệ giới chủ nhân. Người cấp tiến chú trọng đến toàn xã hội và muốn mọi người cùng làm việc, bình đẳng giữa các cá nhân và bảo vệ giới công nhân. Như vậy bảo thủ theo hướng phát triển chủ nghĩa tư bản trong khi cấp tiến thiên về chủ nghĩa xã hội. Trong mục tiêu ấy, đảng Dân Chủ cần một chính quyền lớn và mọi người dân phải đóng thuế đầy đủ trong khi đảng Cộng Hòa chủ trương chính quyền nhỏ và giảm thuế.


Ưu điểm của nền dân chủ Hoa Kỳ là với tình trạng sinh hoạt chính trị từ khi lập quốc cho đến nay, không bao giờ phía nào có thể giành thắng áp đảo. Cánh tả không thể đi tới chủ nghĩa xã hội cực đoan và cánh hữu không thể kéo về chủ nghĩa tư bản bóc lột. Khuynh hướng quá khích nào nếu có thể nổi lên ở một giai đoạn thì cũng không tồn tại được lâu dài. Phong trào Tea Party trỗi dậy mấy năm trước đây và đã đem đảng thắng lợi cho đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 2010, thì sau đó cũng làm cho đảng Cộng Hòa giảm sút uy lực trong cuộc tổng tuyển cử năm 2012.


Có một lúc người ta tưởng chừng Tea Party có thể chi phối đảng Cộng Hòa, nhưng rồi phe cực hữu này cũng chỉ đủ khả năng trở thành một bộ phận nhỏ với tầm ảnh hưởng có giới hạn. Trong ít ngày sắp tới, đạo luật di dân cải tổ sẽ đo lường được sức mạnh chính trị của Tea Party. Dù Tea Party có thể thu hút những người đồng minh cánh hữu, nhưng đảng Cộng Hòa rút kinh nghiệm từ thất bại trong kỳ bầu cử Tổng thống vừa qua, bây giờ tự thấy cần phải thay đổi đường lối. Ðạo luật di dân có những điểm giống như Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa John McCain đã đề ra từ nhiều năm trước mà không thành công, có lẽ lần này sẽ đạt được…


Nhìn vào tình hình chính trị trong những tháng vừa qua, sự phân biệt bảo thủ hay cấp tiến không có ranh giới rõ rệt. Hơn nữa nếu về toàn bộ, sự đồng thuận gần như là không thể hy vọng, thì với từng vấn đề – ngân sách, xã hội, giáo dục, môi trường – bảo thủ hay cấp tiến đều có những điểm tương đồng hoặc thỏa hiệp được. Và tính thực dụng của dân Mỹ chính là điều kiện để vượt qua mọi bế tắc trong chính trị. Người ta có thể chán với Washington, nhưng rồi cũng sẽ bằng lòng với Washington, thủ đô của quốc gia dân chủ đứng đầu thế giới. (HC)

Nổ bom tự sát khiến 24 người chết tại Pakistan


ISLAMABAD (AFP News) –
Một tay nổ bom tự sát đã tấn công ngôi đền Hồi Giáo Shiite ở phía Tây Bắc Pakistan hôm Thứ Sáu, làm thiệt mạng 24 người và làm bị thương tới 55 người khác khi tín đồ ra khỏi nơi này sau giờ cầu nguyện.









Cảnh sát Pakistan cô lập một khu phố sau khi một người nổ bom tự sát đã tấn công vào một ngôi đền Hồi Giáo Shiite tại Hangu, Pakistan, hôm Thứ Sáu 1 Tháng Hai, 2013. (Hình: AP Photo/Abdul Basit)


Giới hữu trách cho hay kẻ tấn công kích hỏa chất nổ chất đầy trên chiếc xe gắn máy trên một con đường nhỏ hẹp có cả đền thờ Hồi Giáo Shiite và Sunni trong thành phố Hangu, cuộc tấn công giáo phái đẫm máu mới nhất tại quốc gia đang ngày càng có nhiều bạo động liên quan đến tôn giáo.


Các nhân chứng cho hay các vũng máu và nhiều phần thân thể người ta vương vãi trên mặt đường sau cuộc tấn công, cũng làm hư hại ít nhất năm cửa tiệm quanh đó.


Trưởng ty cảnh sát quận, Mian Muhammad, cho báo chí hay “đây là cuộc tấn công nhắm vào người giáo phái Shiite nhưng người gốc Sunni cũng trở thành nạn nhân vì đền thờ và một số cửa hàng của họ rất gần nơi xảy ra vụ nổ.”

Cả trăm sinh viên Harvard bị kỷ luật gian lận thi cử


BOSTON (AP) –
Ðại học Harvard University vừa đưa ra các biện pháp kỷ luật đối với cả trăm sinh viên sau khi một cuộc điều tra cho thấy họ gian lận trong kỳ thi cuối khóa, được mang về nhà làm và được mở sách.










Khuôn viên đại học Harvard University. (Hình: AP Photo)


Nhà trường cho hay có tới 125 sinh viên dính líu vào vụ tai tiếng này, lần đầu tiên được giới chức trách nhiệm nói tới hồi năm ngoái.


Cuộc điều tra diễn ra sau khi một phụ giảng (TA) trong khóa Mùa Xuân khám phá ra gian lận, kể cả việc chia sẻ câu trả lời với nhau.


Một giới chức nhà trường nói rằng có hơn một nửa số vụ, các sinh viên dính líu đã phải nghỉ học trong một thời gian. Trong các trường hợp còn lại, có khoảng một nửa bị cảnh cáo, và nửa còn lại được tha bổng.


Trường Harvard cho hay đang có một ủy ban của trường được giao cho nhiệm vụ nghiên cứu và đưa ra các đề nghị nhằm gia tăng sự trung thực trong học hành và khuyến khích sinh viên giữ tinh thần đạo đức. (V.Giang)

Người sáng lập công ty Dell muốn mua lại với giá $24 tỉ


NEW YORK (Reuters) –
Công ty Dell Inc. đang tiến gần đến việc đạt thỏa thuận bán cho một nhóm các doanh gia, với người đứng đầu là Michael Dell, người sáng lập và hiện là tổng giám đốc công ty, với giá có thể vượt mức $24 tỉ, theo giới thông thạo hôm Thứ Sáu.









Ông Michael Dell, tổng giám đốc công ty Dell Inc. tươi cười trong buổi hội thảo Oracle Open World Conference tại San Francisco năm 2007. (Hình: AP Photo/Paul Sakuma)


Nhóm này đang thảo luận với Dell Inc. để đưa từ công ty cổ phần trở về lại là công ty tư nhân, với giá đề nghị mỗi cổ phiếu là $13 đến $14, nghĩa là trị giá của công ty có trụ sở đặt tại thành phố Round Rock, Texas này có thể lên tới từ $22.6 tỉ đến $24.4 tỉ.


Vào trưa ngày Thứ Sáu, giá cổ phiếu Dell tăng 2.5%, lên tới $13.57.


Ông Michael Dell dự trù sẽ là người có đa số phần hùn trong công ty chế tạo máy điện toán cá nhân đang lớn hàng thứ ba trên thế giới này, trong khi công ty đầu tư Silver Lake và công ty Microsoft Corp. sẽ trở thành các nhà đầu tư thiểu số trong công ty mới.


Các nguồn tin trên cho hay các bên dự trù sẽ đạt thỏa thuận sau cùng trong cuối tuần này. Có bốn ngân hàng lớn là Barclays, Bank of America, Merrill Lynch Credit Suisse và RBC Capital đã hứa sẽ cho nhóm này vay tới $15 tỉ để mua lại công ty Dell. (V.Giang)

Tin mới cập nhật