Tàu ngầm, tuần dương hạm Mỹ tới Nam Hàn


 


 


 


SEOUL (Korea Herald)Một tàu ngầm nguyên tử và một tuần dương hạm trang bị hệ thống phòng không tối tân Aegis của Mỹ đã đến Nam Hàn trong hành động được coi là để biểu dương lực lượng trước việc Bắc Hàn đang chuẩn bị cho nổ nguyên tử lần thứ ba dù rằng có sự lên án của thế giới.



Tàu ngầm USS San Francisco. (Hình: Mark A. Leonesio/U.S. Navy via Getty Images)


Chiếc tàu ngầm nguyên tử USS San Francisco, trọng tải 6,927 tấn; và chiếc USS Shiloh, tuần dương hạm võ trang hỏa tiễn có trọng tải 9,800 tấn, nay đang ở cảng Jinhae, thuộc tỉnh South Gyeongsang, và cảng Busan của Nam Hàn. Giới hữu trách cho hay hai chiến hạm này sẽ tham dự cuộc tập trận chống tàu ngầm với hải quân Nam Hàn.


Cả chính phủ Seoul cũng như các giới chức Mỹ đều có vẻ thận trọng không muốn liên kết sự hiện diện của hai chiến hạm tối tân này với việc Bắc Hàn chuẩn bị cho nổ nguyên tử vì có thể bị coi là khiêu khích Trung Quốc, vốn là quốc gia đồng minh quan trọng nhất của Bắc Hàn.


“Hai chiến hạm này không can dự gì đến vấn đề nguyên tử của Bắc Hàn. Cuộc tập trận mà hai tàu này tham dự là điều thường xảy ra hàng năm,” theo một giới chức Nam Hàn cho báo chí hay. (V.Giang)

Cựu biệt hải Mỹ bị bắn chết tại xạ trường


 


 


 


STEPHENVILLE, Texas (AP)Cơ Quan An Toàn Công Cộng Texas hôm Chủ Nhật loan tin, một người đàn ông 25 tuổi vừa bị truy tố tội sát nhân vì có liên hệ đến vụ nổ súng tại một xạ trường ở miền Trung Texas, làm ông Chris Kyle thiệt mạng. Nạn nhân là cựu biệt kích hải quân (Navy SEAL) kiêm tác giả cuốn “American Sniper” và là một người bạn của nghi can.



Cựu biệt hải và là tác giả cuốn “American Sniper,” Chris Kyle, ngồi để chụp hình tại Midlothian, Texas, hôm 6 Tháng Tư, 2012. (Hình: AP/Paul Moseley)



Ông Eddie Ray Routh, cư dân của Lancaster, bị truy tố hai tội sát nhân vào chiều hôm Thứ Bảy, hiện đang bị nhốt ở Erath County Jail, với số tiền tại ngoại được định là $3 triệu.


Sự kiện xảy ra tại xạ trường Rough Creeek Lodge, cách Fort Worth khoảng 50 dặm về hướng Tây Nam, lúc khoảng 3 giờ 30 chiều Thứ Bảy. Cảnh sát nghe báo cáo có người bị bắn, khi đến nơi thì phát giác thi thể của ông Kyle, 38 tuổi, và Chad Littlefield, 35 tuổi.


Sau khi bắn chết cả hai, nghi can tẩu thoát bằng một chiếc Ford pickup. Lúc đến nhà ở Lancaster vào 8 giờ tối, đương sự bị cảnh sát bắt.


Quân Ðội Mỹ hôm Chủ Nhật xác nhận hung thủ Routh từng là hạ sĩ TQLC từ Tháng Sáu, 2006, đến Tháng Giêng, 2010. Ông Routh được điều đến Iraq năm 2007 và Haiti năm 2010, và hiện là lính trừ bị.


Nhân chứng cho biết ông Routh được cả hai mời đến xạ trường chơi vì họ muốn giúp đỡ một cựu chiến binh.


Nguyên nhân dẫn đến cái chết của hai người hiện đang được điều tra. (T.P.)


 


 

Taliban tấn công đồn lính Pakistan, hạ sát 13 người


 


 


 


ISLAMABAD, Pakistan (NYT)Phiến quân Taliban bắn chết ít nhất 13 binh sĩ Pakistan trong cuộc tấn công vào một đồn quân ở vùng Tây Bắc Pakistan vào sáng sớm ngày Thứ Bảy, theo giới hữu trách. Có 10 thường dân, kể cả ba phụ nữ và ba trẻ nhỏ sống gần đó cũng bị thiệt mạng.



Một thành viên nhóm Tehrik-e-Taliban bị cảnh sát Pakistan bắt ở Karachi năm 2010. Nhóm này vừa nhận trách nhiệm tấn công một đồn lính Pakistan. (Hình minh họa: RIZWAN TABASSUM/AFP/Getty Images)


Cuộc tấn công táo bạo diễn ra trong vùng Khyber-Pakhtunkhawa, nơi sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chỉ một ngày sau khi có vụ nổ bom tự sát gần một đền thờ Hồi Giáo Shiite ở thành phố Hangu khiến ít nhất 26 người chết.


Một phát ngôn viên của nhóm khủng bố Tehrik-e-Taliban Pakistan, thường được biết dưới tên Pakistani Taliban, lên tiếng nhận trách nhiệm và cho hay cuộc tấn công này là để báo thù cho cái chết của hai cấp chỉ huy Taliban bị phi cơ không người lái của Mỹ giết.


Theo các tin tức sơ khởi, thành phần Taliban võ trang hùng hậu với cả đại liên và súng phóng lựu, mở cuộc tấn công vào lúc rạng sáng ở đồn Serai Norang thuộc quận Lakki Marwat, gây nổ súng kéo dài mấy giờ đồng hồ.


Một giới chức quân sự Pakistan cho hay có 12 phiến quân bị giết trong cuộc tấn công này. (V.Giang)


 

Giới thiệu ‘Từ điển Nhà Nguyễn’


 


Triệu Phong/Người Việt


 


Huế chiếm một vị trí khiêm tốn từ dân số đến diện tích so với các nơi khác trong nước nhưng may mắn lại là địa danh được nhắc nhở đến nhiều nhất. Số bài thơ, nhạc, viết về Huế không ngừng được sáng tác. Sách, truyện, hoặc nghiên cứu về kinh đô cuối cùng của thời phong kiến Việt Nam của nhiều tác giả cũng liên tục xuất hiện.



Từ điển Nhà Nguyễn do Võ Hương An biên khảo. (Hình: Triệu Phong/Người Việt)


Nhà nghiên cứu Võ Hương An, sinh sống ở San Jose, Bắc California, từng xuất bản nhiều sách biên khảo về Huế như “Huế của một thời,” “Vua Khải Ðịnh,” v.v. nay cũng đóng góp thêm với cuốn “Từ điển Nhà Nguyễn”.


Gia Long lên ngôi năm 1802, bắt đầu sự nghiệp xây dựng cơ đồ Nhà Nguyễn. Từ Gia Long đến Bảo Ðại là vua triều Nguyễn cuối cùng (1945), tổng cộng có tất cả 13 đời vua, họ góp công tạo dựng kinh đô với biết bao kiến trúc. Suốt 143 năm cai trị, Nhà Nguyễn đặt ra những định chế mới, khác với các triều đại Ðinh, Lê, Lý, Trần… trước đó. Nếu kể cả chín đời chúa, họ Nguyễn hiện hữu trong lịch sử Việt Nam 387 năm, dài nhất so với các triều đại quân chủ khác từ trước. Trong những thế kỷ đó các định chế của triều đại này có ảnh hưởng sâu xa trong nhiều mặt như lịch sử, chánh trị, luật pháp, văn học, văn hóa, xã hội… đối với đất nước. Trong thời gian trị vì của các triều đại đó triều đình đồng thời cũng trải qua bao biến chuyển trọng đại, từ vụ thất thủ kinh đô năm 1858, đến trận Việt Minh tiêu thổ kháng chiến năm 1945, khiến hoàng cung bị cướp phá, thất thoát nặng nề. Rồi biến cố Tết Mậu Thân 1968 và cuối cùng là 30 Tháng Tư, 1975 nâng sự thiệt hại mất mát đối với di tích Nhà Nguyễn càng lớn lao thêm.


Sau mỗi biến cố quan trọng, một số đông người con dân Huế bỏ xứ kéo nhau đi lập nghiệp ở các nơi. Không lạ gì nhiều người Huế tha phương mỗi lần về thăm cố đô trở về than thở rằng, Huế bây giờ toàn là người xa lạ từ đâu đến lập nghiệp.


Hai yếu tố nêu trên góp phần cho những hiểu biết về Huế, về triều Nguyễn ngày mỗi mai một thêm.


Là con của một vị Nhất Ðẳng Thị Vệ triều Nguyễn, thuở ấu thơ tác giả Võ Hương An từng được cha dẫn cho đi khắp các cung điện trong Ðại Nội, nghe và thấy thật nhiều về nơi chốn thâm cung bí sử ấy. Kết hợp với kiến thức sử học, tác giả nhận thấy trong cách diễn giải về chữ nghĩa thời Nhà Nguyễn của nhiều bài viết về Huế hiện nay, có sự “không hiểu, hiểu sai hoặc ngộ nhận. Từ đó dẫn đến việc nhận định, giải thích, phê phán thiếu chính xác, nếu không nói là sai lầm. Hiện tượng này thường xảy ra như thấy được qua các ấn phẩm và truyền thông, không phải ở tầm mức kiến thức phổ thông mà ngay cả trong lãnh vực biên khảo chuyên môn”.


Với nỗ lực nghiên cứu qua nhiều sách vở trong hơn năm năm trời, tác giả Võ Hương An cho ra đời cuốn “Từ điển Nhà Nguyễn” cũng vì mục đích làm sáng tỏ những sai lầm đó.


Mỗi chữ trong “Từ điển Nhà Nguyễn” có gốc chữ Hán đều được âm chữ Hán, đôi khi còn được ghi nghĩa tiếng Pháp để làm rõ nghĩa hơn. Việc âm chữ Hán giúp người đọc cũng như người nghiên cứu hiểu nghĩa của chữ hay từ ấy đúng như ý của người đương thời. Âm chữ Hán được tác giả ghi chép lại đúng như tài liệu chính thức của Nhà Nguyễn hoặc tham khảo từ BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Hué). Theo tác giả, ban biên tập cũng như người đóng góp bài vở trong BAVH đều là người thông thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Hán, lại là những người sống vào thời chế độ quân chủ đang còn, do đó sự hiểu biết ngôn ngữ của họ có độ tin cậy cao so với thế hệ sau.


Ngoài ra, cạnh phần lớn các chữ trong “Từ điển Nhà Nguyễn,” tác giả còn kèm theo hình chụp hoặc ảnh minh họa, biểu đồ hoặc bản đồ xưa, khiến cho nội dung cuốn sách càng thêm phong phú. Về mỗi địa danh, tác giả không quên kèm theo bản đồ Việt Nam với vị trí của địa danh đó để người đọc dễ hình dung.


“Từ điển Nhà Nguyễn” ghi rõ chi tiết về mọi kiến trúc của Kinh thành Huế như các cung, điện, đài, lâu, các, tạ, am… những kiến trúc hiện vẫn còn tồn tại cũng như bị hư hại hay hủy hoại hoàn toàn qua bao lần binh biến. Ngoài ra tác giả cũng kê đầy đủ các lăng tẩm, chùa miếu, di tích cổ xưa nằm rải rác trên khắp địa bàn thành phố Huế.


Sách liệt kê rành mạch các phẩm hàm của hai quan chế, ban hành dưới thời Gia Long năm 1804 và quan chế Minh Mạng từ năm 1827. Trong khi giúp độc giả hiểu được sự phân biệt gọi là cửu phẩm đối với hàng quan lại, thì chín bậc khác nhau của các bà vợ vua, gọi là cửu giai.


Trong sách cũng nêu hệ thống lục bộ gồm binh, công, hình, hộ, lại, lễ (chỉ bộ Học mới thành lập vào đời Duy Tân). Phân biệt thế nào là chiếu, cáo, chỉ, dụ, sắc…


Tác giả cũng giải thích rõ về tổ chức binh chế thời Nguyễn gồm ba lực lượng căn bản: Bộ binh, tượng binh và thủy binh. Phân biệt thế nào là thuyền, đội, cơ, dinh. Việc trang bị vũ khí và quân dụng cho các đơn vị. Ðộc giả có dịp hiểu được về phép duyệt tuyển là phép duyệt dân để xếp hạng đánh thuế, tuyển lính và đóng sưu dịch, một cách điều tra dân số thuở xưa. Giúp người đọc phân biệt thế nào là lính khố xanh, khố vàng và khố đỏ.


Tác giả kê đầy đủ và giải thích về các bộ sách chữ Nho do Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn biên soạn, ví dụ Ðại Nam Nhất Thống Chí, Ðại Nam Thực Lục… Giải thích chi tiết về hệ thống cân, đo và đong lường.


Cho độc giả hiểu về triều phục, lễ phục gọi chung là quan phục của vua, hoàng thái hậu, hoàng tử, hoàng thân, các quan dùng trong các dịp.


Phân biệt cách gọi hoàng hậu, hoàng quí phi, hoàng tử, công tử, hoàng nữ, công chúa, phò mã đô úy… Thế nào là ngũ bất lập do Vua Minh Mạng đặt ra. Người ở các xứ khác vì không hiểu rõ cách đặt tên trong hoàng tộc nên thường cho rằng ở Huế có thêm cái họ lạ lùng như công tôn nữ, công tằng tôn nữ, công huyền tôn nữ, hoàng tôn, hoàng tằng tôn, hoàng huyền tôn… Chúng ta cũng hay nghe đến các họ như ưng, bửu, vĩnh, bảo… Ðó là lấy từ trong Ðế hệ thi và Phiên hệ thi, là những bài thơ 4 câu 20 chữ do Vua Minh Mạng làm ra năm 1822, để phân biệt rõ các dòng và thứ tự trên dưới các đời.


Về các nhân vật được nêu ra trong từ điển này, tác giả chỉ chọn những nhân vật được nhắc đến nhiều trong các bộ thông sử.


Sách còn kê rõ các chữ húy được đặt ra bắt đầu từ năm Gia Long thứ 2 (1803) và Bộ Lễ thông báo đi khắp nước để các nơi đổi có tên đất tên người trùng húy thì phải đổi đi.


Nói chung là còn nhiều, nhiều nữa không thể nào kể ra cho hết. Phải công nhận đây là một kỳ công đáng kính phục của tác giả, thiết nghĩ còn lâu về sau, nếu không muốn nói là chưa chắc có được nhà biên khảo nào sánh được với tác giả Võ Hương An.


“Từ điển Nhà Nguyễn” dày trên 760 trang, khổ lớn, bìa cứng, do Nam Việt xuất bản năm 2012, là một sách tham khảo cần có trong mỗi tủ sách gia đình. Xin trân trọng giới thiệu đến với độc giả người Huế, yêu Huế, thích tìm hiểu về Huế xưa, đặc biệt về triều đại Nhà Nguyễn, có cơ hội được biết và sử dụng chính xác hơn về chữ nghĩa thời Nguyễn.


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

‘Cái quan luận định’


 


 


Tạp ghi Huy Phương


 


 

 

 


Người xưa có câu “Cái quan luận định” là khi người chết, đậy nắp quan tài rồi thì lời khen chê, luận công tội mới chính xác, nhưng cũng có câu “nghĩa tử là nghĩa tận” chết là hết, mọi sự thù hận nên bỏ qua, tương tự như một thành ngữ Pháp: “Laissez les morts tranquilles” là hãy để yên người đã chết, nghĩa là không nói đến nữa!



Gia đình Ban Hợp Ca Thăng Long. Từ trái sang phải (hàng sau): Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung; (Hàng trước): Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh.


 


Ðối với người Việt ly hương, Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Duy là những tên tuổi lớn của Việt Nam, nói cho đúng là miền Nam một thời loạn ly, đều là những người Việt từ miền Bắc di cư vào Nam, vui buồn trong một đất nước chiến tranh, lại một lần nữa bỏ nước ra đi trong một lúc đau đớn tột cùng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng cuối cùng cả hai lại trở về chốn cũ, kiểu “nếu đi hết biển” thì trở lại ngôi làng xưa như luận điệu và cách nói của Trần Văn Thủy.


Dư luận đã không hề để cho hai ông này yên nghỉ sau khi nằm xuống. Những quân nhân đã sống chết dưới cờ để cho vị tướng nắm giữ vận nước, đã bất bình khi thấy ông phản bội lại họ. Phạm Duy lớn hơn tất cả các lãnh tụ chính trị một thời, nhạc của ông là mãi mãi, nhạc của ông “khóc cười theo vận nước nổi trôi” cũng như mảnh đời của hàng triệu người bỏ quê hương xứ sở lánh nạn cộng sản vào Nam, qua những ngày chiến tranh bom đạn hay thanh bình. Ai là người lính chiến mà không rung cảm thiết tha cùng buồn với Phạm Duy trong hình ảnh “anh trở về, bại tướng cụt chân” hay “anh trở về chống nạng cày bừa!” Tuổi Sài Gòn mới lớn ai mà không nhớ “con đường Duy Tân, cây dài bóng mát,” có ai mà không một thuở theo ai đó trên con đường: “Em tan trường về…” Họ yêu Phạm Duy đến mức nào, những danh xưng “đại thụ” hay “cổ thụ” chỉ mô tả phần xác, nhưng phần hồn còn cao đẹp, lớn lao biết chừng nào. Người Việt tị nạn cũng như Phạm Duy cùng là bầy chim bỏ xứ, cùng chung cái nỗi niềm đau đớn đánh mất quê hương. Thế mà thần tượng của họ một sớm một chiều xử sự như một cánh chim đơn lẻ, bỏ bầy để trở lại chốn xưa một mình, gây nỗi bất bình lớn cho thiên hạ.


Ở cái đất nước nhỏ bé này, sau năm 1954, miền Bắc hầu như đã quên hẳn Phạm Duy hay nhà nước đã không muốn người ta nhớ đến Phạm Duy, vì lý do chính trị, nhạc của ông bị cấm hoàn toàn tại miền Bắc Việt Nam sau 1954, và toàn Việt Nam sau 1975, nhưng ở miền Nam, nhạc Phạm Duy đến với mọi nhà, đó là thời gian Phạm Duy là ngôi sao sáng trong nền âm nhạc tự do của miền Nam.


Phạm Duy là khuôn mặt của công chúng, có yêu thì có ghét, hay vì quá yêu nên quá ghét, là thần tượng, khi thần tượng sụp đổ, thì người hâm mộ thất vọng, tưởng có thể tự sát hay chết theo thần tượng. Cũng có khi vì quá yêu, người ta sẵn sàng giết chết thần tượng của mình để giữ độc tôn sở hữu, hay như Chapman, người đã bắn vào ca sĩ nhạc Rock John Lennon 5 phát súng, đã khai rằng hắn muốn giết John Lennon để được nổi tiếng. Số người tự tử sau cái chết của Michael Jackson ước tính đã lên tới 12 người.


Cho nên, chúng ta không lấy làm lạ, chỉ sau khi nghe tin Phạm Duy qua đời, hàng trăm bài viết trên báo chí và trên “lưới” đã tung lời ca tụng ông hay nặng lời chê trách. Ðó là số phận của những người nổi tiếng trên thế giới.


Phạm Duy cũng là thần tượng của tôi. Năm 1951, khi Phạm Duy “Dinh tê” cũng như những thiếu niên mới lớn lên thời đó, tôi đã mê những bài nhạc kháng chiến như Bà Mẹ Gio Linh, Nương Chiều, Về Miền Trung… được phổ biến rộng rãi trong vùng đất tự do. Tôi cũng đã từng ngồi nắn nót chép lại một bài thơ nói là của một “bà mẹ” nào đó ở “bên tê” viết cho Phạm Duy khi ông trở về thành. Ở miền Nam tôi thích nghe những bài thơ phổ nhạc của ông, đã đưa nhiều thi sĩ trở thành tên tuổi, ra khỏi địa hạt của thi ca, “bên ni” như Nguyễn Tất nhiên, Phạm Thiên Thư, Lê Thị Ý, Linh Phương, Cung Trầm Tưởng, Phạm Văn Bình… hay “bên tê” như Huy Cận, Hữu Loan, Lưu Trọng Lư, Hoàng Cầm, Thế Lữ…


Sau cái tháng 4 oan nghiệt, khi đi tù, bị đưa ra Việt Bắc, không buổi chiều nào, trên đường thất thểu về trại, mà không liên tưởng đến lời nhạc của Phạm Duy “trâu bò về dục mõ xa xôi, hỡi chiều!” Hồi niên thiếu nghe câu hát này, tôi cứ ngỡ là vào buổi chiều, người ta đánh mõ để gọi trâu về, có ngờ đâu, ở Việt Bắc, người ta đeo mõ vào cổ trâu để theo dõi bước đi của đàn trâu, vì khi trâu gặm cỏ, tạo nên tiếng mõ lốc cốc.


Vậy thì tôi cũng có quyền phát biểu dăm câu về con người mà tôi đã yêu mến từ tuổi ấu thơ cho đến lúc biết yêu và trưởng thành, tù tội và… lưu vong.


Theo tôi, trong Phạm Duy có hai con người đối chọi, khác biệt và mâu thuẫn nhau mà một người bình thường như tôi hay các bạn không có được, hay không làm được, như giữa trắng và đen, cao thượng và thấp hèn, đẹp đẽ và xấu xa…


Nhiều khi tôi không hiểu nổi được Phạm Duy! Khi ông rời bỏ cộng sản, trong không khí tự do, mọi ưu đãi đã được dành cho người nghệ sĩ có tài, năm 1953, sau khi vào Nam, ông được đi Pháp học dự thính hai năm về âm nhạc, được cử đi Phi Luật Tân, Nhật Bản, Thái Lan để giới thiệu văn nghệ Việt Nam, và được Hoa Kỳ mời sang thăm viếng năm 1966, bốn năm sau ông lại có dịp đi Mỹ với tư cách là cố vấn cho Bộ Thông Tin VNCH.


Những năm 1967-1968, khi người Mỹ tham chiến đông nhất ở Việt Nam, hàng loạt ban nhạc lấy tên tiếng Anh ra đời trong đó có “The Dreamers” của các con Phạm Duy, đây cũng là thời gian băng cassette thịnh hành, giúp ông và gia đình trở nên giàu có.


Ra hải ngoại, Phạm Duy vĩ đại và tự do như cánh chim bằng đã đi nhiều nơi trên thế giới, tự do ca hát… vậy mà ở tuổi 85, ông lại muốn về nước, nộp đơn xin “Nhà nước Việt Nam” cho phép phổ biến 9 ca khúc cũ của ông vốn thịnh hành và phổ biến ở miền Nam, trong đó có 5 ca khúc viết trong “thời gian dân tộc kháng chiến chống Pháp”(!) và 4 bài thơ phổ nhạc, trong đó có tác giả ba bài thơ là người của đảng: Xuân Diệu, Huy Cận và Hữu Loan, nhưng không hề được nhà nước đoái hoài. Thậm chí cho đến 7 năm sau, trước lúc sắp chết, Phạm Duy còn nói: “Tôi là Phạm Duy, nhạc sĩ đã được hồi tịch và cư ngụ tại 349/126 đường Lê Ðại Hành, phường 13, quận 11, TP. Hồ Chí Minh, thực tế đã là một công dân Việt Nam từ năm 2005… Tôi nghĩ rằng tôi có quyền nuôi một nguyện vọng đóng góp vào sinh hoạt âm nhạc trong nước bằng một ca khúc có tính chất xưng tụng nước ta nhan đề ‘Việt Nam, Việt Nam’ sáng tác từ 1960, rút trong trường ca Mẹ Việt Nam là một tổ khúc kêu gọi sự đoàn kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ lượng. Sau đây là ca khúc đó. Tôi mong có ngày ca khúc này được phép phổ biến (kèm theo là một CD với hai bản hợp ca hát bài Việt Nam, Việt Nam!).” Khó mà chịu được thái độ này!


Tác giả những câu thơ mượt mà, “Tìm nhau trong hoa nở/ Tìm nhau trong cơn gió/ Tìm trong câu thơ cổ/ Tìm qua tranh Tố Nữ/ Tìm nhau trong thống khổ/ Tìm nghe câu than thở!” lại là tác giả của những câu “tục tĩu”: “Nhìn lồn”, “Cầm cặc!” Phải chăng trong thế gian, “có tài thì có tật!”


Phạm Duy từ Việt Bắc về Hà Nội không cần phải xin phép nơi đến. Ông từ Bắc di cư vào Nam không cần lệnh lạc của ai. Ông đến Mỹ không cần ai cấp visa. Vậy mà ông phải cậy cục, nhờ vả, vận động khi muốn trở lại Việt Nam. Hình ảnh thần tượng tân nhạc Việt Nam khoe cái CMND và miếng giấy “hộ khẩu” làm cho người ta, những người thương yêu ông, điên tiết.


Ông danh giá, cao sang, vĩ đại và bất diệt hơn mọi thứ ấy.


Ông đã từng phổ lời thơ “làm sao giết được người trong mộng…”


Ðã hơn nửa thế kỷ trôi qua, chúng tôi đã cùng ông “cười khóc theo mệnh nước nổi trôi,” giờ đây vận nước đang còn trôi nổi, không biết mất còn ra sao, ông không còn khóc cười, buồn vui với chúng tôi nữa.


Nhưng Phạm Duy là vậy; vĩ đại một bên, và đời thường, thậm chí tầm thường, một bên.


Thôi, “còn một chút gì để nhớ để quên!” Có thương thì có ghét!


Xin vĩnh biệt ông!

Nhật thả tàu cá Trung Quốc vi phạm hải phận

 


 


BẮC KINH (AFP News) Nhật hôm Chủ Nhật thả thuyền trưởng và thủy thủ đoàn một tàu cá Trung Quốc bị bắt vì nghi ngờ đánh cá bất hợp pháp, theo tin từ giới truyền thông Trung Quốc.



Tàu đánh cá Trung Quốc (trái) bị tàu tuần duyên Nhật bắt trong hải phận của Nhật. (Hình: AP Photo/Japan Coast Guard 11th Regional Headquarters)


Chiếc tàu cá trọng tải 100 tấn với thủy thủ đoàn gồm 13 người đã bị tàu tuần duyên Nhật chặn bắt hôm Thứ Bảy trong khu vực cách đảo Miyako trong quần đảo Okinawa chừng 45km về phía Ðông Bắc.


Thuyền trưởng và thủy thủ đoàn được thả sau khi tổng lãnh sự Trung Quốc ở Fukuoka đóng tiền thế chân, theo Tân Hoa Xã.


Nguồn tin này nói rằng chiếc tàu cá Trung Quốc rời Miyako về nước vào chiều tối ngày Chủ Nhật.


Tuần duyên Nhật cho hay hôm Thứ Bảy rằng thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc bị bắt vì tình nghi đánh cá trong khu vực hải phận kinh tế Nhật mà không có giấy phép. Vụ này xảy ra trong lúc có tranh chấp ở một quần đảo, nơi Nhật gọi là Senkaku và phía Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư.


Miyako nằm cách đảo lớn nhất ở Senkaku chừng 210km.


Vụ bắt giữ diễn ra cùng ngày Thủ Tướng Nhật Shinzo Abe đến thăm Okinawa, gần nơi có tranh chấp biển đảo trong vùng biển Hoa Ðông và khẳng định sẽ bảo vệ Nhật chống lại “mọi khiêu khích”.


Phi cơ và chiến hạm Trung Quốc thường xuyên lượn quanh khu quần đảo này khiến Nhật phải tăng cường tuần tiễu. (V.Giang)

Sinh hoạt Xuân Quý Tỵ trong cộng đồng Việt Nam






Hội Hoa Lan Việt Nam triển lãm hoa lan và tranh ảnh




  • Thời gian: 8, 9, 10 Tháng Hai.


  • Ðịa điểm: JC Penny, lầu 1 Westmininster Mall.
 



Hội Hoa Lan Việt Nam triển lãm hoa lan và tranh ảnh




  • Giám Mục Kevin Vann dâng thánh lễ giao thừa, Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, 4PM.






Chùa Phổ Ðà, 5110 W. Hazard Ave., Santa Ana, CA 92703


 




  • Văn nghệ vui Xuân: Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, 7PM-10PM 7, 9 Tháng Hai (30 Tết); Chủ Nhật, 10 Tháng Hai, 2PM-10PM, (mồng 1 Tết); Có chiêu đãi bún bò Huế theo truyền thống.


 






Chùa Ðiều Ngự, 14472 Chestnut St., Westminster, CA 92683




  • Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, 8PM, văn nghệ đón Giao Thừa do Trung Tâm Asia thực hiện, trực tiếp truyền hình trên hai đài SBTN và SET-TV 57.4.


  • Chủ Nhật, 10 Tháng Hai, 11AM, cầu an đầu năm.



 

 





 Chùa Huệ Quang, 4918 Westminster Ave, Santa Ana, CA 92703




  • Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, 8PM, văn nghệ đón Giao Thừa, trực tiếp truyền hình trên đài Little Saigon TV 57.7.









Chùa Dược Sư, 11111 Magnolia St., Garden Grove, CA 92841




  • Lễ Giao Thừa: Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, 9PM.


  • Tết Nguyên Ðán: Chủ Nhật, 10 Tháng Hai, 6AM-6PM.


  • Lễ Cúng Sao Hạn: Chủ Nhật, 17 Tháng Hai, 4PM-6PM.


  • Lễ Thượng Nguơn: Chủ Nhật, 24 Tháng Hai, 9AM-4PM.

 





Tu viện Hoa Nghiêm, 3222 W. First St., Santa Ana, CA 92703




  • Ðón Giao Thừa, Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, 11:30PM.


  • Mùng 1, 2, 3 Tết Lễ Vía Ðức Phật Di Lặc, 7AM.


  • Hành Hương Chiêm Bái Thánh Tích các Chùa Việt Nam và Ngoại Quốc, Chủ Nhật, 17 Tháng Hai, 7AM.


  • Ðại Lễ cúng Rằm Tháng Giêng, Chủ Nhật, 24 Tháng Hai, 9:30AM.



 



Thiền Viện Sùng Nghiêm, 11561 Magnolia St., Garden Grove, CA 92841



  • Tặng Kinh Sách từ Ðêm Giao Thừa Quý Tỵ, Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, 500 Bộ Kinh Sách “Tiếng Chuông Ngân” gồm 2 Quyển.

 





Chùa Bát Nhã, 803 S. Sullivan St, Santa Ana, CA 92704



  • Hành Hương Xuân Quý Tỵ, Thứ Bảy và Chủ Nhật, 16 và 17 Tháng Hai, 7AM-7PM.



 



Tịnh Xá Giác Lý, 14471 Titus St., Westminster, CA 92683



  • Hành hương thăm các chùa vùng San Diego và Orange County, Thứ Bảy, 16 Tháng Hai.


 



Ðại lễ ngày Tây Sơn, nhà hàng Moonlight, 15440 Beach Blvd, #118, Westminster, CA 92683



  • Tưởng niệm Ðại Ðế Quang Trung và kỷ niệm 224 năm chiến thắng Ðống Ða, Chủ Nhật, 17 Tháng Hai, 11AM.
 


 






Tân Cổ Nhạc Quê Hương chào mừng Xuân Quý Tỵ




  • Thời gian: 11AM-7PM, 17 Tháng Hai.


  • Ðịa điểm: Thư viện Việt Nam (góc Euclid & Westminster).


 


  


 


 


  


 


 


 


 


 


  


 

Khu Rừng Lau (Kỳ 62)

“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.


 


Kỳ 62


 


III


Việc cán bộ “tam cùng” về bắt rễ tại một làng thôn nào thường được các cán bộ khác giải thích bằng những lời mập mờ cho dân chúng khỏi sao xuyến:


– Ðó là đồng chí – lời giải thích – về đây để phát động quần chúng.


Các cán bộ tam cùng đi bắt rễ đều theo nguyên tắc này: Không bao giờ bắt rễ với người nghèo vì nhất thời bị rủi ro. Bần cố nông đó phải là hiện thân của một thứ ngu độn có huyết thống và ba đời không liên lạc gì với cơ quan hành chính của Pháp. Sau khi đã bắt rễ, thời gian nghiên cứu thường lâu chừng một tháng, rồi cán bộ chọn một xã làm thí điểm. Tại xã thí điểm đó, cán bộ tam cùng phát động quần chúng bằng cách triệu tập một cuộc họp toàn xã để định thành phần. Giai cấp địa chủ lập tức bị cô lập nghĩa là phải cung khai tài sản, đi đâu phải xin phép, con cháu ra vào thăm hỏi đều bị khám vì sợ chuyển của đi. Thường thì một địa chủ đã bị cô lập, bè bạn, họ hàng lánh xa họ như lánh hủi. Chào hỏi, không ai đáp; muốn bán thứ thừa không ai mua, muốn mua thứ thiếu không ai bán. Nói một cách khác họ đã là một tên tội phạm, có điều tên tội phạm của thế giới tự do thì bị giam vào khám xây bằng gạch hoặc bằng đá để cắt đứt mọi liên lạc của hắn với thế giới bên ngoài, ở đây tội phạm bị giam vào một nhà ngục tân kỳ hơn, nhà ngục xây bằng những người đồng loại, đồng hương đã biến thành gỗ đá hoặc cố làm như gỗ đá. Không có một sự cô độc nào bi thảm và rùng rợn hơn sự cô độc này!


Vẫn tại nhà bần cố nông đó nay được dùng làm trụ sở để mọi giới trong làng trong xã hàng ngày đến học tập kể khổ. Nơi đây cán bộ tam cùng đặc biệt kích thích giai cấp bần cố nông căm thù địa chủ để chuẩn bị ngày ra đấu trường. Thành phần phú nông không được tới học tập vì không phải bạn của bần cố nông. Chiến thuật của đảng là: “Dựa vào bần cố nông, liên minh với trung nông, trung lập hóa phú nông để đàn áp địa chủ”.


Miên và một số chị em trong cơ quan có được cử đi dự mấy buổi kiểm thảo địa chủ ở mấy xã gần đấy, nói là để rút kinh nghiệm. Qua mấy lần dự như vậy, Miên quan sát thấy có những người nông dân thuần túy vẫn giữ nguyên được tâm hồn chất phác trung hậu của họ. Có lẽ chính họ đã từng bị áp bức thực, nhưng khi phải kể khổ họ nói là không biết gì cả mặc cho cán bộ mớm lời hoặc xui lên xui xuống. Quyết liệt nhất là lũ lưu manh, chúng tích cực kể xấu người trước đây đã không cho chúng vay mượn hay đã quá tinh khôn không sa vào bẫy lừa lọc của chúng. Thứ tới những chuyện thù oán giữa mẹ chồng con dâu, giữa thím chồng cháu dâu, giữa chị dâu em chồng. Họ đứng ra kể khổ ngỡ là lợi dụng được dịp may này để cướp không tài sản của nạn nhân. Sau cùng hạng thanh niên học dở dang kẻ chỉ có bằng cơ thủy (Certificat d’étude primaire franco-indigène), kẻ học thêm được một hoặc hai năm trung học. Những thanh niên này có cử chỉ cùng lời ăn tiếng nói bợ đỡ xu thời ra mặt. Họ ngỡ như vậy sẽ được đoàn thể nâng lên cán bộ liên xã, hoặc cán bộ huyện.


Lần thứ ba Miên đi dự kể khổ, nạn nhân là bà Luân, một góa phụ có hai con ra học tận Hà Nội. Bà có nuôi anh em mồ côi người làng bên. Người anh được bà lấy vợ cho khi kháng chiến anh ta vào bộ đội và bị tử thương tại mặt trận Vĩnh Yên. Thằng em tới ngày kể khổ đó mới mười ba tuổi. Nó được cán bộ cho việc canh giữ bà mẹ nuôi. Lúc kiểm thảo nó bắt mẹ nuôi phải gọi nó bằng “ông”.


Nó chỉ vào mặt bà Luân hỏi liên tiếp:


– Tại sao mày không cho tao đi học, lại bắt tao đi chăn trâu?


– Mày có nhớ mày đã từng bắt tao đứng vào đống kiến lửa?


– Mày có nhớ một lần nghi tao ăn cắp tiền, mày đã đổ nước mắm vào mũi tao?


Căm uất hiện lên vẻ mặt già nua và đau khổ, bà Luân chối, giọng bi phẫn nhưng gọn và cương quyết.


Miên nghĩ có câu hỏi giản dị nhất lẽ ra thằng con nuôi bất nhân kia phải nêu trước là: Tại sao bà Luân lại đem anh em nó về nuôi mà không để mặc kệ cho chúng chết đói hoặc tha phương cầu thực nơi đâu?


Cán bộ đã cúi đầu xuống giải thích rất lâu cho bà Luân nghe những gì Miên ngồi xa không nghe rõ, chỉ biết khi lần thứ hai thằng con nuôi lên chỉ vào mặt bà kể mấy tội trên, bà nghẹn ngào đáp gọn:


– Bẩm ông, vâng!


Chỉ có ba tiếng “Bẩm ông vâng” mà chứa chất biết bao tủi nhục đau đớn của người chợt thấy mình đã nuôi ong tay áo, nuôi rắn trong nhà.

Khu Rừng Lau (Kỳ 61)

“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.


 


Kỳ 61


 


Ðêm nào trước khi nhắm mắt ngủ Miên cũng nghĩ đến Hiển, nhớ lại những ngày nàng tiễn anh tới bờ sông Ðáy, nhớ tới vóc người cao lớn, dáng đi hùng dũng mà hiền hòa của anh ở bên kia bờ đê và nhất là nhớ tới hình ảnh anh quay lại một lần cuối cùng, thân yêu vẫy nàng.


Khu rừng lau. Trong trí tưởng tượng của Miên, Hiển đã đi vào khu rừng lau ngút ngàn đó và không bao giờ trở lại nữa, Miên tin là thế. Trời ơi, sao không là rừng mía mà lại là rừng lau?


Nhiều đêm Miên đã ứa nước mắt mà nghĩ rằng: Thà đừng bao giờ anh trở lại nữa còn hơn anh trở lại để nàng chứng kiến sự thay đổi từ nét mặt, cử chỉ đến lời ăn tiếng nói như Tài, hay như bất cứ một tên cán bộ cuồng tín nào. Chúng giống nhau như những hòn gạch, như những đồng xu.


Ðã có lần Miên nấc lên khi trí tưởng tượng quá mạnh khiến nàng như có nghe thấy Hiển lên tiếng theo luận điệu của Tài khuyên nàng:


“Ðảng chú ý xây đắp hạnh phúc cho nhân loại. Trong nhân loại có cha mẹ mình, anh em mình. Ðể bảo tồn quyền lợi của nhân loại người sáng suốt phải biết nhìn xa mà hy sinh mọi tình cảm nhỏ hẹp…”


Lại có đêm Miên nghĩ đến thoát ly khỏi thế giới này. Nghĩ để mà nghĩ thôi, Miên biết thế! Nhưng có lẽ càng biết thế Miên càng phóng trí tưởng tượng đi thật xa để thỏa niềm ước ao. Nàng mơ trốn được sang phía trời Âu; nơi đây sau trận đại chiến thế giới thứ hai con người đã tỉnh ngộ, đã biết ghê tởm bàn tay vấy máu của mình. Rồi sẵn kỹ thuật cao, họ xây dựng lại sự đổ náy bên ngoài cho xứng đáng với sự giác ngộ bên trong. Miên nhớ tới một tờ báo Âu (tờ Paris Match thì phải) mà nàng đã đọc lướt tại phòng mổ bác sĩ T. bên trong có trang ảnh chụp một vườn hoa tại Luân Ðôn; nằm dài trên bãi cỏ là những cặp tình nhân ôm sát nhau trong khi đó vẻ mặt những người qua lại ngay bên vẫn nghiêm trang nhìn thẳng; đó không phải là thái độ lạnh lùng mà là thái độ kẻ biết kính trọng tình yêu.


Ở tuổi Miên hiện giờ, việc nàng lưu luyến những hình ảnh của tình yêu nào có gì là lạ? Những hình ảnh trai gái ôm ấp nhau trong yêu đương đó xuất hiện trong trí tưởng tượng của Miên cao đẹp làm sao, những kẻ đạo đức nửa mùa chẳng thể hiểu nổi. Trong thâm tâm, Miên khao khát tình yêu mà đối tượng có thể là Tài. Miên có ao ước được Tài đưa đến xem khu rừng lau bên Bỉnh Di trên núi Sáng. Miên không quên nàng đã nói với Hiển: Sao không là rừng mía mà lại là rừng lau?! Với những kẻ bộ hành suốt ngày đi dưới nắng hè, câu hỏi trên thật là khẩn cấp, nhưng với cặp tình nhân đương thở hút bầu không khí dịu ngọt của yêu đương thì đi vào màu xanh uyển chuyển đó là đi vào một Mùa Xuân bất tận, tóc Miên sẽ lẫn với tơ trời, hơi thở Miên sẽ lẫn với nắng và gió.


Mộng đẹp yêu đương của Miên còn đáng thương và chua xót hơn giấc mộng chinh phụ gặp chồng ở bến Lũng thành Quan bởi ít nhất người chinh phụ đó đã có một thời kỳ được sống thực sự với mối tình lý tưởng, còn với Miên, bạn của nàng là Tài đã chuyển hướng. Viên chính ủy trẻ tuổi trong cơ quan đôi khi có ý đưa đẩy câu chuyện với nàng, nhưng làm sao Miên có cảm tình được với y? Khuôn mặt sát tận xương, quầng mắt thâm, môi thâm, lợi thâm, miệng luôn ngậm điếu thuốc lá của hãng Bắc Sơn, Miên có cảm tưởng con người y bốc ra mùi hôi ẩm của khói thuốc và nàng rùng mình. Miên có nghĩ tới Tân mà nàng được gặp trong chuyến đi chiến dịch vừa rồi. Nàng quý mến Tân như quý mến Hiển và cách Tân đối với nàng cũng như hệt người anh đối với em gái nhỏ. Tân há chẳng đã gọi nàng là “cô em gái nuôi” đó ư? Tân chẳng hề hỏi tuổi Miên để được biết rằng mặc dầu dáng nàng thon nhỏ nhưng nàng đã trên hai mươi tuổi rồi, tuổi ưng làm vợ mà chẳng ưng làm em gái.


Miên thấy thôi thế là tuổi hoa niên của nàng đành chịu thui chột vì thiếu tình yêu, điều thê thảm đối với nàng là sự thui chột đó vô phương cứu chữa, nó kéo dài một cách tuyệt vọng như con tàu va phải băng sơn, mất liên lạc với mặt biển, đương chìm dần… chìm dần… cho đến ngày mất tích hẳn dưới khối nước băng giá.

Hoa Kỳ buộc phải can thiệp vào Phi Châu

 


 


Hà Tường Cát/Người Việt


 


Những nhóm vũ trang Hồi Giáo quá khích xưng danh “Thánh Chiến đã xuất hiện từ hàng chục năm trước” trong vùng Tây Bắc Phi Châu với nhiều hoạt động phức tạp từ ăn cướp, bắt cóc tống tiền, và nổi loạn cho đến khủng bố.



Binh sĩ Pháp tuần tra trong thành phố Diabaly, Mali. (Hình: ISSOUF SANOGO/AFP/Getty Images)


Nhưng chỉ gần đây, sau vụ tấn công hồi tháng 9 năm ngoái vào Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Benghazi, Libya, dư luận quốc tế mới chú ý và nhận ra mối hiểm họa tiềm tàng trong sự bành trướng của những nhóm vũ trang ở vùng Maghreb (Tây Bắc Phi Châu) từ Libya đến Algeria và Mali. Nhiều nhóm có liên hệ với al-Qaeda bằng chừng mực khác nhau. Có những thủ lãnh hay thành viên là người từ Afghanistan hay Pakistan chạy về, số khác chỉ là dân địa phương “tự phát”, noi theo ý thức hệ khủng bố của al-Qaeda. Những nhóm này cũng không có lãnh đạo thống nhất và sự va chạm xung đột lẫn nhau không phải là hiếm. Al-Qaeda ở Tây Bắc Phi Châu hay AQIM (Al Qaeda in Islamic Maghreb), trong thực tế chỉ là một trong số ấy dù có thể là nhóm mạnh nhất.


Mặc dầu người ta lo ngại rằng Tây Bắc Phi Châu có thể trở thành một cứ địa kiểu Afghanistan khác của khủng bố, các chuyên gia phản tình báo Hoa Kỳ đồng ý rằng những nhóm này không có lợi ích và không có khả năng thực hiện những cuộc tấn công quy mô tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên Hoa Kỳ cũng như các nước Tây phương có nhiều quyền lợi ở Phi Châu bao gồm căn cứ quân sự, phái bộ ngoại giao, cơ sở kinh doanh, khai thác tài nguyên; tất cả đều có thể là mục tiêu đánh phá và mối đe dọa cho du khách hay doanh nhân đã gia tăng tới mức đáng lo ngại. Các đoàn chuyên viên Trung Quốc hoạt động ở Bắc Phi cũng đã từng là những mục tiêu bị tấn công.


Dường như không có nhóm võ trang nào ở Maghreb, kể cả AQIM, nhận lệnh trực tiếp của al-Qaeda, hiện nay do Ayman al-Zawahri lãnh đạo sau khi Osam bin Laden chết. Nhưng hành động của họ đều có một lý tưởng chung là chống Tây phương. Sau khi xảy ra vụ Benghazi, các giới chức tình báo Hoa Kỳ tin là một số chiến binh khủng bố tham gia trong đó là thành viên AQIM từ Mali đến. AQIM đã chở nhiều vũ khí các loại từ Libya về cho lực lượng của họ và võ trang cho các nhóm đồng minh ở Mali, Niger.


Vùng sa mạc Sahara phía Nam Algeria và phía Bắc Mali hiện nay là hai khu vực tập trung chính của những nhóm Hồi Giáo cực đoan và thành viên của họ bao gồm nhiều sắc dân kể cả một số dân bộ tộc du mục Tuareg.


Dân Tuareg bao gồm nhiều thị tộc đã sinh hoạt hàng ngàn năm trong vùng sa mạc Sahara và hơn ai hết là những người hiểu rõ địa thế cũng như cách thức sinh hoạt trên địa bàn khắc nghiệt này. Họ đã từng là những thương nhân hiền từ chở hàng hóa trên lưng lạc đà băng ngang sa mạc, rồi cũng là dân buôn lậu hay có khi là kẻ cướp, đã làm lính đánh thuê cho các nước thực dân chiếm thuộc địa và cho Muammar Gaddafi khi nhà độc tài này có ý đồ trở thành ‘ông vua’ của Phi Châu.


Dân Tuareg có khoảng 1.3 triệu người nhưng họ không có một quốc gia riêng. Khi người Âu chiếm Phi Châu và phân chia ra thành nhiều thuộc địa cũng như sau này khi trao trả độc lập cho các xứ thuộc địa ấy, dân Tuareg không được chia phần lãnh thổ riêng nào. Tùy theo phần đất trên sa mạc Sahara được cắt cho nước nào thì dân Tuareg đương nhiên trở thành công dân nước đó. Dân Tuareg ở Niger nhiều nhất, khoảng 800,000, rồi tới Mali 450,000, còn lại sống rải rác từ Tây Phi (Burkina Faso) đến Bắc Phi (Algeria, Libya, Tunisia, Morocco). Với bản chất là dân du mục, họ di chuyển thường xuyên và khó có thể xác định là công dân của nước nào. Dân Tuareg đã từng nhiều lần nổi loạn ở nhiều nơi từ thời Phi Châu còn là xứ thuộc địa, cho đến gần đây nhất là đầu năm 2012 tại Mali.


Tháng 1 năm 2012, Phong Trào Giải Phóng Azawad (Mouvement National pour la Liberation de l’Azawad), gọi tắt là MNLA, của dân Tuareg đã chiếm được miền Bắc Mali, lãnh thổ hầu hết là đất sa mạc có diện tích ngang tiểu bang Texas. Kết quả này tạo được bằng sự hợp tác với Ansar Dine, nhóm Hồi Giáo cực đoan có liên hệ chặt chẽ với al-Qaeda. Nhưng sau khi thành công, MNLA xung đột với Ansar Dine và Ansar Dine loại MNLA khỏi lãnh thổ Azawad và cai trị lãnh thổ này bằng luật Hồi Giáo khắt khe mà dân Tuareg cũng không chấp nhận được.


Thật ra người ta cũng biết là sự hợp tác giữa Tuareg với AQIM chỉ mang tính cách giai đoạn, như người ta đã từng thấy giữa các phe nhóm phức tạp ở Phi Châu. Tuareg cũng muốn chứng tỏ rằng họ không liên kết với al-Qaeda vì như vậy họ sẽ trở thành mục tiêu để bị Tây phương đánh. Vả lại chính Hoa Kỳ trước kia cũng đã từng có lúc bí mật trợ giúp cho Tuareg để ngăn ngừa sự bành trướng của AQIM.


Sự kiện Ansar Dine làm chủ miền Bắc Mali (lãnh thổ Azawad) gây báo động vì nơi đây có thể thành một căn cứ địa của khủng bố và phương hại đến quyền lợi của Tây phương, trực tiếp là Pháp. Mali sản xuất vàng đứng hàng thứ ba ở Phi Châu, và quặng uranium ở Niger vào hàng thứ nhì trên thế giới. Về sản phẩm nông nghiệp, bông vải ở Mali và cacao ở Côte d’Ivoire đều là những nguồn cung cấp quan trọng cho Pháp.


Ngày 10 tháng 1, 2013, Tổng Thống Pháp Francois Hollande làm thế giới ngạc nhiên khi ông loan báo đưa quân đội Pháp đến Mali để trợ giúp chống lại quân phiến loạn Hồi Giáo đã chiếm miền Bắc quốc gia Tây Phi này. Ðiều này đánh tan những dư luận vẫn chỉ trích ông Hollande là một nhà lãnh đạo yếu kém trong 8 tháng kể từ sau cuộc bầu cử đánh bại Tổng Thống Nicolas Sarkozy hồi năm ngoái. Nhưng sự kiện này thể hiện tầm quan trọng của vấn đề các nhóm Hồi Giáo quá khích đang bành trướng ở khu vực.


Quân Pháp không khó khăn đánh đuổi được loạn quân Hồi Giáo ra khỏi Bắc Mali sau 3 tuần lễ vì hầu hết các nhóm này rút lui tránh đụng trận. Ðêm 30 tháng 1, một đơn vị lực lượng đặc biệt Pháp nhảy dù xuống đánh chiếm phi trường và sáng ngày sau liên quân Pháp-Mali tiến vào Timbuktu, thành phố quan trọng cuối cùng ở Bắc Mali. Pháp tuyên bố kết thúc chiến dịch Serval và có thể rút quân khỏi Mali, trao lại trách nhiệm quân đội Mali và lực lượng đa quốc Phi Châu.


Tuy nhiên người ta lo ngại rằng mọi chuyện chưa kết thúc đơn giản như vậy. Quân Hồi Giáo quá khích mới chỉ rút chạy chứ chưa bị đánh tan và trong vùng địa thế sa mạc mênh mông họ có thể tạm thời ẩn náu để bảo toàn lực lượng. Hoa Kỳ và nhiều nước NATO đã yểm trợ cho quân đội Pháp ở Mali và muốn Pháp tiếp tục sứ mạng an ninh. Nhưng có lẽ Pháp tránh bị vướng mắc lâu dài ở một vùng đất nhiều khó khăn và nhiều điều kiện phức tạp nên chắc chắn sẽ không tiếp tục duy trì một lực lượng triển khai nhanh tại đây.


Cuối cùng thì dù muốn dù không, Hoa Kỳ sẽ vẫn là nước phải can dự vào Phi Châu tới một chừng mực cần thiết. Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Johny Isackson tiểu bang Georgia, một chuyên gia về Phi Châu, nói: “Nếu chúng ta không can dự, một ngày kia chúng ta sẽ có một Afghanistan khác ở Bắc Phi”.


Phát ngôn Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Tòa Bạch Ốc Tommy Vietor nhìn nhận rằng chính phủ “rất lo lắng” về những nhóm vũ trang quá khích ở Phi Châu, nhưng chính quyền ở các nước ấy “có khả năng và ý chí đối phó bằng những mức độ khác nhau”. Ông giải thích: “Không có cách sửa chữa mau chóng, chúng ta cần phải tiến hành một loạt những bước và trong thời gian lâu dài. Một giải pháp quân sự thuần túy không loại trừ được hết những phần tử xấu”.


Cho đến nay Hoa Kỳ đã tài trợ, trang bị và huấn luyện cho quân đội Ethiopia, Kenya, Sierra Leone và nhiều nước Phi Châu khác để đánh những nhóm Hồi Giáo quá khích từ Somalia đến Maghreb. Nhưng nhiều nước, trong số đó có các nước vừa trải qua cuộc cách mạng dân chủ, quá bận rộn với tình hình nội bộ, khả năng chiến đấu chống khủng bố ngoài biên giới của họ bị kém đi.


Nhưng Hoa Kỳ không có quan hệ ngoại giao hay quân sự chặt chẽ với chính quyền nhiều nước Phi Châu khác, trong số có Mali. Gần đây Ngũ Giác Ðài dự tính lập một căn cứ máy bay không người lái ở Niger, để thu thập thêm tình báo và trợ lực cho những quốc gia đồng minh. Hiện nay mới chỉ có một căn cứ như thế ở Djibouti tại vùng Ðông Bắc Phi Châu. Nhưng ngân sách eo hẹp là trở lực cho dự án này, cũng như đã hạn chế kế hoạch triển khai các đơn vị lực lượng đặc biệt.


Hơn nữa, một giới chức cao cấp quân sự Hoa Kỳ nói rằng ít có quốc gia Phi Châu nào sẵn sàng để quân đội Mỹ đến hoạt động trong lãnh thổ của họ vì e ngại chủ quyền bị xâm phạm.

Báo Người Việt đối với cộng đồng người Việt (bài 2)




 


 


Phạm Xuân Ðài


 


Trong bài 1, chúng tôi đã viết cộng đồng người Việt ở quận Cam và báo Người Việt đã xuất hiện hầu như cùng một lần và cùng tương tác nhau mà lớn lên. Từ sau 1975, nhiều người Việt Nam di tản ở các nơi khác nhau trên đất Mỹ dần dần tìm về miền đất ấm Nam California để định cư. Yếu tố khí hậu và có lẽ đời sống kinh tế nữa, quyết định hiện tượng này. Và từ đầu thập niên 1980, một làn sóng tị nạn khác đến với quận Cam, đó là “thuyền nhân”, những người vượt biên bằng thuyền được đưa vào nước Mỹ từ các trại Á Châu. Người ta ước lượng rằng cứ hai người tới Mỹ thì có một người định cư tại quận Cam. Tập thể người Việt tị nạn tại đây nhộn nhịp hẳn lên với sự bùng nổ của đời sống xã hội, đời sống kinh tế và cuối cùng, đời sống chính trị. Khác với đợt đến Mỹ từ 1975, những người vượt biển đã sống với chế độ cộng sản, có nhiều kinh nghiệm ê chề, biết thế nào là sự độc tài toàn trị, thậm chí nhiều người từng là tù nhân của chế độ đó. Một cộng đồng tị nạn thành hình, với một dáng dấp và tinh thần mới mẻ.


Nhà văn Hoàng Mai Ðạt, người đã đến sinh sống tại quận Cam từ giữa thập niên 1980 sau khi đã qua giai đoạn học hành và trưởng thành tại những địa phương khác của nước Mỹ, đã nhớ lại:


“Phố Bolsa có cả hàng trăm ngàn tấm lòng muốn tạo dựng, xây đắp một Việt Nam tự do ở hải ngoại. Mỗi người đóng góp một cách, không chắc giống nhau mà đều đi đến một hướng. Từ nỗ lực đặt tên Little Saigon, các đồng hương của tôi mỗi lúc một tự tin hơn tiếp tục những dự án thăng tiến, mang niềm hãnh diện về cho cộng đồng.”


Khi đồng bào đã đến đủ đông và công cuộc làm ăn tương đối ổn định, thì báo chí xuất hiện càng nhiều, để một mặt, tạo thức ăn tinh thần cho cộng đồng, mặt khác làm dịch vụ quảng cáo để thúc đẩy công việc làm ăn tiến lên, và chính người làm báo cũng sống được nhờ dịch vụ ấy. Nhà văn Hoàng Khởi Phong, một sĩ quan QLVNCH sang Mỹ từ 1975, đã quan sát làng báo của thời kỳ sơ khai ấy:


“Trong khoảng thời gian mười năm từ 1983 cho tới 1993, có lẽ không một ai có thể liệt kê tất cả những tờ báo ra đời và chết đi ở quận Cam. Nếu tính cả những đặc san của các trường trung, đại học, các nội san của các đoàn thể, hội đoàn, các quân binh chủng của QLVNCH, các hội đồng hương… thì con số lên tới vài trăm tờ báo. Nếu chỉ kể các tờ báo ra đời vì người chủ trương trước kia đã từng có thời gian qua lại với báo chí ở trong nước, và giờ đây trên xứ người không thể làm một công việc gì khác hơn là đi xin quảng cáo là động lực chính cho tờ báo ra đời, và cả những tờ báo của những người chưa bao giờ sinh hoạt báo chí, nhưng nghĩ rằng làm báo quá dễ với một cái kéo để cắt dán những bài báo của những tờ báo khác. Nói chung trong thời gian mười năm này vì sự phát triển thương mại của cộng đồng Việt Nam tăng trưởng nhanh một cách lạ lùng, con số các tờ báo sống vì quảng cáo đã có lúc lên tới năm, sáu chục tờ (…)Mỗi tờ báo có một vóc dáng riêng, và có nhiều tờ báo trông như một xấp quảng cáo đóng lại thành tập, lác đác trong tập quảng cáo đó thỉnh thoảng có một bài báo thường là cắt từ những tờ báo khác. Khi nền thương mại của cộng đồng Việt Nam đã ổn định, nhu cầu quảng cáo bớt đi, thế tất phải có những tờ báo đã đình bản.”


Trong cái cảnh trăm hoa đua nở như thế, nhật báo Người Việt tự khẳng định mình là tờ báo tử tế và chuyên nghiệp, được sự ủng hộ của đông đảo đồng bào trong cộng đồng. Tử tế vì có mục tiêu rõ rệt là phục vụ cộng đồng, với ý thức rằng cộng đồng Việt Nam tị nạn tại Nam California cần có một tiếng nói xứng đáng bên cạnh những cộng đồng bạn như Ðại Hàn, Trung Hoa, Nhật Bản… Và muốn thế, phải làm báo một cách chuyên nghiệp, nghĩa là thông tin trung thực, mau chóng, bình luận xác đáng, bài vở phong phú. Không phải tình cờ mà báo Người Việt được một số các tờ báo khác cùng TV và radio Việt ngữ trong vùng “chiếu cố” rất kỹ trong việc “cắt dán,” nghĩa là chẳng cần tìm kiếm tin tức gì cả, chỉ việc lôi tờ Người Việt ra xem có tin tức bài vở gì mà mình thích thì cứ dùng kéo cắt nguyên bài rồi dán vào tờ báo của mình. Nhưng có những tờ báo khác, đặc biệt ở những địa phương xa với vùng quận Cam, thì lại đặt mua những bản tin do Người Việt sản xuất hàng ngày. Muốn thực hiện dịch vụ này, bắt buộc Người Việt phải có đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, có khả năng dịch thuật hoặc tự mình đi săn tin tức.


Ðó là về mặt chuyên môn làm báo. Về một mặt khác, thì từ khi có báo quán rộng rãi trên đường Moran, phòng sinh hoạt của báo Người Việt đã là nơi tổ chức nhiều sinh hoạt của cộng đồng. Thoạt tiên đó là nơi hội họp để bàn về nhiều vấn đề của cộng đồng, nhưng theo thời gian, các sinh hoạt có tính cách văn học nghệ thuật được tổ chức thường xuyên hơn để đáp ứng nhu cầu tinh thần của đồng bào. Những buổi ra mắt sách, những lần triển lãm tranh, những buổi trình diễn âm nhạc ở quy mô nhỏ, hoặc thuyết trình, hội thảo về các vấn đề chính trị, văn học, lịch sử, v.v… được tổ chức khá thường xuyên, vì thế cứ vài ba năm phòng sinh hoạt lại có nhu cầu được sửa chữa, nâng cấp, thêm dụng cụ âm thanh ánh sáng và nhiều phương tiện khác. Sẽ không quá đáng, nếu nói trong một thời, phòng sinh hoạt của Người Việt đóng vai trò như là phòng sinh hoạt của cộng đồng.


Báo Người Việt, như thế, dần dần kiện toàn và trở nên một cơ quan truyền thông có uy tín, được sự tin cậy của đồng hương. Tin cậy về mặt thông tin, bài vở, số người đọc báo ngày càng tăng, số in phải tăng theo. Tin cậy về mặt thương mại, các cơ sở làm ăn thấy có hiệu quả tốt nếu đăng quảng cáo trên báo Người Việt. Ðó là sự tương tác theo đúng quy luật phát triển. Sự tin cậy chỉ có khi có sản phẩm tốt, đáp ứng đúng nhu cầu. Quảng cáo có nhiều loại, có khi lớn cả trang, có khi nửa trang, rồi 1/4, 1/8, v.v… nhưng có một vùng rất đặc biệt, đó là những quảng cáo li ti, nằm trong một mục gọi là Rao Vặt. Hãy xem trang Rao Vặt của Người Việt: Nếu chịu khó đọc kỹ tất cả các mục rao trong đó, chúng ta tạm có một khái niệm về rất nhiều sinh hoạt làm ăn của người Việt Nam tị nạn tại địa phương. Có thể nói Rao Vặt chính là bộ mặt của các hoạt động vô cùng phong phú của vô số ngành nghề trong cộng đồng, mà mặc dù ở cùng cộng đồng hàng chục năm, một người không thể nào biết hết được. Nhưng khi cần thì giở mục Rao Vặt ra, hầu như cái gì cũng có. Bạn cần mua một chiếc xe cũ, vừa túi tiền của mình? Rao Vặt sẽ cho bạn biết hàng chục, có khi hàng trăm chiếc, đủ mọi hiệu, đủ mọi giá. Bạn cần mướn nhà, apartment, hoặc thậm chí chỉ “share” một phòng? Rao Vặt sẽ có đủ mọi loại, mọi giá, ở khắp mọi vùng địa lý trong vùng. Bạn là thợ nail cần việc làm? Rao Vặt sẽ cho bạn một số điện thoại để liên lạc ngay lập tức. Nhưng có nhiều món bạn phải có tờ báo ngay lúc báo mới phát hành lúc 5 giờ sáng thì mới kịp chọn đúng cái rẻ nhất, tốt nhất theo ý mình muốn, vì nhiều người cũng đang có nhu cầu giống như bạn. Nếu ví von đó là một cái chợ, theo cách người Việt Nam thường nghĩ, thì có lẽ cũng không sai.


Không thể kể hết mức độ phong phú của cả một “thị trường” có thể gọi là rộng lớn của mấy trăm nghìn người Việt Nam vùng Nam California. Bạn thử đoán trung bình một ngày có bao nhiêu lời “rao” trong mục Rao Vặt báo Người Việt? Thưa: 1,600. Dĩ nhiên không ai trong một ngày có thể đọc hết trên dưới 10 trang rao như thế, nhưng khi cần, ví dụ, giặt thảm, sửa ống cống, xe đưa đi phi trường, sửa tủ lạnh, v.v… chỉ cần xem đúng cái mục mình cần là giải quyết ngay nhu cầu. Mà không chỉ những cái cần thiết cụ thể trong đời sống, nếu bạn có một nhu cầu nào đó về tâm linh chẳng hạn, cũng có luôn, nếu muốn bạn cứ theo đó mà cầu nguyện. Cả những nhu cầu hơi… xa hoa một chút, “muốn thư giãn sau một ngày làm việc mệt nhọc” chẳng hạn, bạn có ngay một dọc số điện thoại để gọi. Tin tức, bài vở đem lại nhu cầu thông tin hiểu biết ở trình độ cao và đáng tin cậy cho mọi người, đó là việc qua nhiều năm tháng đã được khẳng định. Nhưng ngoài ra, sự tiện lợi mà báo Người Việt mang lại cho đời sống thường ngày của mọi người trong cộng đồng thì rất rõ ràng, đến nỗi có thể nói, nó không thể vắng mặt, dù cho chỉ một ngày.


Có thể nói, tin tức, bài vở đủ loại cộng với quảng cáo trên báo Người Việt, đặc biệt những trang Rao Vặt, là cả một bộ mặt xã hội thể hiện trên trang giấy. Chúng ta thử tưởng tượng, nhiều chục năm, hoặc nhiều trăm năm sau, một sinh viên muốn nghiên cứu đời sống của cộng đồng người Việt Nam đầu tiên tại quận Cam, Nam California, thì tài liệu gì sẽ giúp nhiều nhất cho sinh viên ấy? Tôi nghĩ đó sẽ là tờ báo Người Việt, lúc bấy giờ đã trở thành những trang giấy vàng úa nằm trong thư viện, nhưng qua đó, người của các thế hệ sau sẽ tìm thấy ông bà họ, trong những đợt di dân đầu tiên tới đây, đã tổ chức cộng đồng ra sao, làm ăn sinh sống thế nào… Có thể có những nghề hoặc những loại sinh hoạt bây giờ trong tương lai không còn nữa, hoặc đã biến dạng đi, và đó sẽ là những đề tài vô cùng thú vị cho sự nghiên cứu của con cháu chúng ta. Tờ báo Người Việt sẽ giúp đỡ họ rất nhiều.


Sự tưởng tượng này cộng với thực tế của bây giờ sẽ nói lên sự tin cậy hai chiều giữa báo Người Việt và cộng đồng người Việt Nam tị nạn tại miền Nam California, nhất là vùng quận Cam. Sự tin cậy chỉ có khi người ta hiểu rõ phẩm chất của nhau. Dù ai có nói ngả nói nghiêng thì sự tin cậy ấy vẫn vững như kiềng ba chân. Ðó là đề tài sẽ phân tích trong bài tới.

Phi cơ Pháp oanh kích phiến quân ở Bắc Mali



 


 


 


PARIS/BAMAKO (Reuters)Chiến đấu cơ Pháp oanh kích các vị trí tập trung của phiến quân Hồi Giáo trong vùng Bắc Mali, theo nguồn tin quân sự, chỉ ít giờ sau khi Tổng Thống Pháp Francois Hollande đến thăm quốc gia vùng Tây Phi này.



Tổng Thống Pháp Francois Hollande (trái) và Tổng Thống Mali Dioncounda Traore trong cuộc gặp gỡ tại Bamako hôm Thứ Bảy. (Hình: ERIC FEFERBERG/AFP/Getty Images)


Ông Thierry Burkhard, phát ngôn viên quân đội Pháp, cho hay tại Paris hôm Chủ Nhật rằng các cuộc oanh tạc trong đêm nhắm vào kho tiếp liệu và trại huấn luyện của thành phần phiến quân có liên hệ với al-Qaeda trong vùng Bắc thị trấn sa mạc Kidal.


Nguồn tin từ quân đội Mali cho hay các đơn vị quân đội Pháp và Chad đã giao tranh với thành phần võ trang thuộc nhóm phiến quân Ansar Dine trong vùng quanh Kidal hôm Thứ Bảy.


Các trực thăng võ trang của Pháp và phi cơ vận tải quân sự chở theo các đơn vị biệt kích đã rời thành phố Gao để đến tăng cường cho các đơn vị Pháp và Chad đang đóng tại phi trường ở Kidal.


Thị trấn Kidal hiện do thành phần phiến quân đòi tự trị MNLA Tuareg nắm giữ. Pháp đã đưa khoảng 3,500 lính bộ binh, các phản lực cơ chiến đấu và xe bọc sắt tới tham dự cuộc hành quân mang tên Operation Serval để ngăn chặn sức tiến của phiến quân Hồi Giáo.


Trong chuyến viếng thăm ngắn ngủi ở Mali, Tổng Thống Hollande cho hay Pháp sẽ rút quân sau khi quốc gia này thu hồi lại được các lãnh thổ đã mất và một đạo quân Phi Châu có sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc đến để nhận trách nhiệm gìn giữ an ninh từ quân đội Pháp. (V.Giang)

Hải quân Sri Lanka cứu 138 thuyền nhân trên tàu bị đắm


 


 


COLOMBO (AFP News)Hải quân Sri Lanka hôm Chủ Nhật giải cứu 138 người gốc Bangladesh và Miến Ðiện trên một tàu đánh cá đang sắp chìm, theo giới hữu trách.



Hải quân Sri Lanka đưa thủy thủ tàu bị đắm lên bờ. (Hình: AP Photo/Sri Lankan Navy)


Một người trên tàu thiệt mạng trong khi đa số trong số 138 người khác được cứu ở trong tình trạng khô kiệt, theo lời phát ngôn viên hải quân Sri Lanka, ông Kosala Warnakulasuriya. Ông cho biết thêm rằng chiếc tàu trôi dạt trong 10 ngày trước khi bị chìm hôm Chủ Nhật.


“Chúng tôi gửi ba chiến hạm đến cấp cứu tại khu vực cách bờ biển Akkaraipattu chừng 80km,” theo Phát Ngôn Viên Warnakulasuriya.


Cảnh sát nói rằng có 14 người trong số này gốc Miến Ðiện trong khi những người còn lại đến từ Bangladesh.


Các thuyền nhân này hiện đang được thẩm vấn và sau đó chuyển đến một nơi tạm trú trong thủ đô Colombo. Phát ngôn viên cảnh sát địa phương cho hay họ chắc chắn rằng những thuyền nhân nói trên không có ý định đổ bộ lên Sri Lanka nhưng vì tàu hỏng máy nên bị dạt vào nơi này. (V.Giang)

Ít người Mỹ hiểu rõ những rủi ro do mập phì gây ra

  


 



 


WASHINGTON (AP)Theo một thăm dò do The Associated Press – NORC Center for Public Affairs Research mới thực hiện gần đây, ít người Mỹ ý thức được rằng, dư cân có thể gây ra các bệnh như ung thư, đau khớp, ngạt thở khi ngủ, và ngay cả hiếm muộn, hoặc nếu đã mắc sẵn thì chúng sẽ trở nên tệ hại hơn.



Ba cô gái 17 tuổi trên đường đến lớp tại Wellspring Academy ở Reedley, California, để theo chương trình giúp làm giảm cân. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)


Một phần tư người Mỹ tin rằng người ta có thể dư cân nhiều nhưng vẫn cứ mạnh khỏe như thường.


Ðược hỏi hậu quả nghiêm trọng nhất do mập phì là gì, bảy trong mười người Mỹ nói đúng là dẫn đến tiểu đường và đau tim. Bệnh đau tim là sát thủ hàng đầu ở Hoa Kỳ, trong khi tiểu đường và mập phì là hai đại dịch mà chúng tiếp tục không ngừng gia tăng trong những năm gần đây.


Bà Jennifer Dimitriou, chuyên gia dinh dưỡng về bệnh mập thuộc Montefiore Medical Center ở New York, nhận xét: “Nhiều người kinh ngạc khi được biết mập phì lại có thể đưa đến hậu quả xa như vậy.”


Chỉ 7% số người được thăm dò tin rằng mập phì khiến người ta bị ung thư, mặc dù từ lâu giới y sĩ đã biết rõ, mỡ gia tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư đường ruột, vú, nhiếp hộ tuyến, tử cung và ở một số cơ quan nội tạng khác. Hơn nữa quá mập khiến khó truy tầm được sớm các vết ung thư để mà chữa trị kịp thời.


15% người được phỏng vấn nói, có biết dư cân khiến gây nên chứng đau khớp, nhất là ở đầu gối. Ðây là cái vòng luẩn quẩn oái oăm vì đau đớn ở các khớp làm người ta khó có thể tập thể dục để giúp giảm bớt cân.


Cao máu, cao mỡ, hiếm muộn và trụy tim là các chứng ít ai biết cũng là hậu quả của dư cân.


Cũng vậy, chỉ 5% biết dư cân đưa đến các vấn đề về đường hô hấp. Nghiên cứu còn cho thấy người dư cân có nhiều nguy cơ bị chứng ngạt thở khi ngủ (sleep apnea), kể cả bệnh suyễn, và rằng giảm cân khiến những triệu chứng này được nhẹ hơn.


Bà Dimitriou nói, hiểu được tác dụng ghê gớm của mập phì người ta mới cố gắng làm thế nào để có được cuộc sống lành mạnh hơn, bằng cách vận động cơ thể và ăn uống có chừng mực.


Tuy nhiên chỉ 52% được thăm dò nói họ có tham khảo với bác sĩ về các nguy cơ do dư cân mang đến.


Một điểm phức tạp khác nữa là, phân nửa người Mỹ tin rằng cân lượng của họ như vậy là được rồi, và chỉ 12% bậc phụ huynh tin rằng con cái họ bị dư cân, dù rằng con số do chính phủ đưa ra cho thấy, hết hai phần ba người Mỹ ở tuổi trưởng thành, và một phần ba trẻ con và thanh thiếu niên, đang trong tình trạng dư cân hoặc mập phì.


Bà Dimitriou nói: “Nếu quí vị sống chung quanh những người thân mà hầu hết đều bị dư cân, ắt quí vị sẽ nghĩ ngay rằng tình trạng của mình chỉ là bình thường.”


Cuộc nghiên cứu của AP – NORC Center được thực hiện trong thời gian từ 21 Tháng Mười Một đến 14 Tháng Mười Hai, qua cuộc phỏng vấn với 1,011 người lớn trên toàn Hoa Kỳ, với sai số trong khoảng cộng hoặc trừ 4.2%. (T.P.)

Tự kỷ trẻ thơ

 


Câu chuyện thầy lang



 


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


 


Tự kỷ trẻ thơ là bệnh gì?


 


Tự kỷ (Autism) là một rối loạn thần kinh với các đặc điểm là kém khả năng truyền đạt bằng lời nói, kém trí tưởng tượng, giới hạn và lập lại cách cư xử và chống đối lại các thay đổi nhỏ nhặt trong môi trường quen thuộc.


Bệnh thường kéo dài suốt đời và thường xuất hiện trong ba năm đầu của đời sống.


Trẻ em nam bị bệnh nhiều hơn nữ.


 


Triệu chứng


 


Bệnh nhân có một số rối loạn về:


 


a. Diễn đạt ý tưởng


Các em thường bị chậm trễ hoặc không có khả năng diễn đạt bằng lời nói. Khi muốn một điều gì, các em ra dấu tay thay cho ngôn từ và thường dùng các chữ không có ý nghĩa hoặc nhắc đi nhắc lại một câu nói.


Ða số các em có bộ mặt thông minh, có trí nhớ tốt. Một số em hay cười hoặc khóc mà không có lý do rõ rệt.


 


b. Quan hệ xã hội


Bệnh nhân thường thơ thẩn một mình, không muốn kết bạn, không hòa đồng, không nhìn mặt và ít cười nói với người khác.


Các em hay ngồi một chỗ, làm đi làm lại một công việc như gấp tờ giấy thành nhiều hình rồi lại mở ra, gấp lại.


Trong một số trường hợp, có em rất hiếu động, không những không hợp tác mà đôi khi còn chống đối, bướng bỉnh.


 


c. Rối loạn cảm giác


Bệnh nhân có những phản ứng bất thường về ngũ giác nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ mó, không đáp ứng với gợi ý, hành động như người điếc, không sợ nguy hiểm.


Nhiều em ngửi thấy một mùi thức ăn là nghẹn họng, đau đớn khi nghe một âm thanh.


 


d. Hành vi


Bệnh nhân có phản ứng thái quá hoặc tiêu cực, cho ăn thì ăn, không thì thôi, không đòi hỏi, đặt đâu ngồi đó.


Các em hay có thái độ giận dữ mà không có lý do hoặc ám ảnh với một vật dụng, ý nghĩ hoặc cá nhân.


Thường thường bệnh nhân không chấp nhận thay đổi trong lề thói hàng ngày, vật để đâu mà ai dời đi là bực mình.


Có khi các em ngồi hàng giờ xếp thành hàng một số đồ vật hoặc quyến luyến vuốt ve ôm một món đồ chơi, đắm mình trong một thế giới tưởng tượng.


Nhiều em không có ý niệm chung, thiếu tinh thần tự phát nhưng cũng có thể có hành vi thô bạo hung dữ.


Các em không có những hoang tưởng, ảo giác hoặc mất phối hợp suy tư như bệnh nhân tâm thần phân liệt.


Mỗi bệnh nhân có những đặc tính riêng biệt cũng như không biết sợ những hoàn cảnh hiểm nghèo.


 


2. Nguyên nhân


 


Nguyên nhân chính đưa tới tự kỷ chưa được biết rõ.


Nhiều ý kiến cho rằng bệnh gây ra do một bất thường trong cấu trúc và chức năng của não bộ. Các rủi ro gây tổn thương não bộ có thể là gen di truyền, nhiễm độc môi trường, rối loạn chuyển hóa, nhiễm virus hoặc biến chứng trong thời gian mang thai, sanh đẻ.


Tự kỷ không phải là hậu quả của quan hệ cha mẹ xấu như nhiều người trước đây nghĩ và cũng không phải là tâm bệnh.


Nhiều người cho là chủng ngừa các bệnh quai bị, sởi và ban đào (mump, measle, rubella, MMR) có thể gây ra tự kỷ trẻ em. Nhưng Hội Tiểu Nhi Hoa Kỳ cũng như Trung Tâm Phòng Tránh và Kiểm Soát Bệnh (CDC) đều cho biết là không có bằng chứng nào kết nối chủng ngừa MMR hoặc bất cứ chủng ngừa nào khác với bệnh tự kỷ trẻ thơ.


 


3. Chẩn bệnh


 


Sự định bệnh đều căn cứ trên sự quan sát về hành vi, ngôn ngữ của cá nhân. Cần phân biệt tự kỷ với chậm phát triển trí tuệ, rối loạn hành vi, rối loạn thính giác.


Cha mẹ nên đưa con em tới bác sĩ khám nghiệm ngay nếu:


– Tới 12 tháng tuổi mà không bập bẹ nói.


– Tới 12 tháng tuổi mà ra dấu, như là bye bye.


– Tới 18 tháng mà chưa nói được chữ đơn.


– Tới 24 tháng mà không nói được chữ kép.


Các nhà tâm lý có một số bảng trắc nghiệm để sàng lọc bệnh.


 


4. Ðiều trị


 


Không có thuốc đặc trị cho tự kỷ trẻ thơ. Một số thuốc chống trầm cảm, kiểm soát quá năng động đã được dùng và cần được sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.


Việc điều trị tập trung ở giáo dục đặc biệt để thay đổi hành vi, cách đối xử và sự học hiểu của bệnh nhân.


Các bác sĩ chuyên về tâm bệnh và các nhà tâm lý học là những người có thể mang bệnh nhân trở lại đời sống bình thường.


Cha mẹ có vai trò quan trọng để giúp con trở lại bình thường qua sự thương yêu, chăm sóc, khích lệ bệnh nhân.


Trẻ em bị tự kỷ ám thị có thể có tuổi thọ bình thường. Với sớm can thiệp và trị liệu, một số các em có thể hoạt động hữu dụng và sống đời sống tương đối tự lập.


Tại Hoa Kỳ, sau khi xác định chẩn đoán, bệnh nhân tự kỷ được hưởng các chương trình giáo dục công lập cho tới tuổi 22.


 


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


www.bsnguyenyduc.com


 

Thời cơ không thể để mất


 


 


Bùi Tín


(Nguồn: VOA)


 


Hiệp định Paris ký đã được tròn 40 năm. Lẽ ra đây phải là dịp toàn dân ta cùng nhau nhìn lại quãng đường dài vừa qua để rút ra những kinh nghiệm thiết thực quý báu nhất cho chặng đường sắp đến. Làm được như vậy chứng tỏ dân tộc ta đã trưởng thành và khôn ngoan.


Nhưng hình như chúng ta đã không cùng nhau làm như thế. Cuộc tranh luận để xác định ai thắng ai thua trong cuộc chiến tranh thực tế là huynh đệ tương tàn, là Bắc chinh Nam chiến, làm quân cờ phụ cho cuộc chiến tranh ý thức hệ vừa nóng vừa lạnh giữa hai trận tuyến thế giới Dân Chủ và Cộng Sản, cuộc tranh luận đáng buồn ấy vẫn diễn ra dai dẳng. Kẻ thắng không phát huy được thắng, còn lao đao lo sợ, bị dân khinh ghét, thì thắng cái gì? Mây mù tồn đọng của thế kỷ hỗn loạn vừa qua vẫn phủ mờ, làm lạc hướng nhận thức và tình cảm của cả một dân tộc được coi là có bản chất tinh anh, nhân bản.


Thật ra đây cần phải là dịp để nhìn lại cho minh bạch tình hình 40 năm trước để biết tiếc nuối một thời cơ hiếm có đã bị bỏ qua, từ đó không để vuột mất thời cơ hiếm có trước mắt hiện nay.


Bốn mươi năm trước đã có thời cơ lớn xuất hiện để thể hòa hợp dân tộc, thống nhất lòng dân, khôi phục và phát triển đất nước với tốc độ cao, cải thiện cuộc sống cho toàn dân, bù lại những năm tháng chiến tranh tàn khốc. Nhưng lãnh đạo duy ý chí, chủ quan, bị chiến thắng làm cho đầu óc quay cuồng, sinh ra mù quáng, đã có những chủ trương sai lầm có hệ thống: Bỏ tù không phân biệt quân nhân viên chức cũ, cải tạo vội vã công thương nghiệp, sáp nhập vội các tỉnh, quận, huyện, đổi tiền, tiến công chiếm đóng mười năm dài Campuchia, thất bại trong chống giặc nội xâm tham nhũng, lãng phí hàng trăm nghìn tỷ đồng trong quản lý các tổng công ty quốc doanh, kết quả là xã hội bị băng hoại, đảng CS thoái hóa bị khinh miệt và uy tín cầm quyền.


Nếu như lãnh đạo đảng CS hồi ấy tỏ ra thận trọng, sáng suốt, khôn ngoan, biết học tập kinh nghiệm hòa giải dân tộc ở Hoa Kỳ khi chiến tranh Bắc-Nam kết thúc, biết áp dụng bài học liên minh bền chặt giữa những kẻ thù truyền thống như Pháp-Ðức hay Mỹ-Nhật… thì tình hình nước ta hiện nay đã khác hẳn, quan hệ quốc tế sớm được mở rộng và thắt chặt với các nước dân chủ, và thế quốc tế của nước ta cũng đã khác hẳn.


Ðến những năm 1989, 1990, khi bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô tan vỡ, nếu như lãnh đạo đảng CS sáng suốt, tỉnh táo, biết nhận ra sai lầm về đường lối, học thuyết đã quá rõ ràng, chủ động từ bỏ ý thức hệ Mác-Lênin đã phá sản, trở về với dân tộc, thì tình hình cũng đã đổi khác hẳn. Lại một dịp tốt bị bỏ lỡ, chỉ vì tất cả Bộ Chính Trị bị nhiễm nặng bệnh giáo điều, cổ hủ, không một ai có tư duy đổi mới mạnh mẽ, dân chủ và sáng tạo. Trong hàng ngũ lãnh đạo không có một ai có tư duy độc lập, biết lùi để tiến khi cần, biết rẽ sang trái hay sang phải tùy theo chặng đường, cho nên cứ cắm đầu cắm cổ tiến lên với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, dưới lá cờ Cộng Sản, trong khi không một ai hình dung được chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng Sản hình thù ra sao, bao năm nữa sẽ đạt, con đường quá độ như thế nào, cũng không ước lượng nổi là qua mấy kế hoạch năm năm, mấy chiến lược mười năm. Nghĩa là mục tiêu lờ mờ, mơ hồ, huyền ảo ở phía trước.


Ðến nay lại một thời cơ mới được mở ra, nhân việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992 được đặt ra, dự định hoàn thành trong năm nay, có thể gọi là Hiến pháp 2013, Hiến pháp của thế kỷ XXI. Bản dự thảo được đưa ra có 95 điều khoản được sửa đổi viết lại, 13 điều hoàn toàn mới, chỉ giữ nguyên 18 điều. Ban dự thảo cho rằng đã làm được nhiều việc, thay đổi đến 108 điều khoản, nhưng thật ra chỉ sửa những vấn đề thứ yếu, có thể nói là lặt vặt.


Thay đổi lớn nhất là Ðiều 70 trong bản dự thảo mới nói về lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 ghi “Lực lượng vũ trang nhân dân là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc…” và “lực lượng vũ trang nhân dân trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu…” không có chỗ nào nói trung thành với đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) và có nhiệm vụ bảo vệ đảng CS cả. Trong dự thảo hiện nay ghi rõ: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với đảng CS Việt Nam, tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Những chữ không hề có trong cả 4 bản hiến pháp cũ. Vì sao vậy? Có thể hiểu là lãnh đạo đảng CSVN đang sợ quân đội và công an khi có khủng hoảng chính trị gay gắt xảy ra, như ở Rumania, Liên Xô, Tunisia, Ai Cập… quân đội và an ninh đã đứng hẳn về phía nhân dân xuống đường và nổi dậy. Trong lo sợ họ đang đặt đảng của họ lên trước tổ quốc và nhân dân.


Hiện đang có chuyện hệ trọng hơn nhiều. Ðó là nhân việc tu sửa Hiến pháp, một nhóm trí thức có uy tín xã hội cao đã đưa ra kiến nghị chuyển từ chế độ duy nhất một đảng sang chế độ đa đảng. Sáng kiến đưa ra vài ngày đã có hàng ngàn người đồng tình nhiệt liệt. Ðây là một đề nghị mạnh dạn, đúng đắn, khoa học, thiết thực, hoàn toàn trong sáng, vì dân vì nước, với những lý lẽ rất rõ ràng, rất khó bác bỏ.


Chưa có một chế độ độc đảng độc quyền đảng trị nào mang lại tự do no ấm cho nhân dân cả. Một nền “dân chủ độc đảng” là một nền dân chủ không thể có, một nền dân chủ mơ hồ, hoang tưởng. Chẳng lẽ thiên hạ ngu ngốc, điên dại cả chăng khi tất cả các nước giàu có, văn minh, phát triển cao đều theo chế độ dân chủ đa đảng? Họ lầm lẫn, mê muội dại dột cả chăng? Họ muốn tự sát cả chăng?


Ở nước ta, rõ ràng những yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế-tài chính, quản lý xã hội, trong lựa chọn nhân tài, thất bại trong chống quan liêu lãng phí tham nhũng đều có nguyên nhân thiếu vắng dân chủ, thiếu lực lượng chính trị ganh đua với đảng cầm quyền, thiếu thế lực kiểm soát làm đối trọng với đảng Cộng Sản.


Nguyên nhân cơ bản làm Liên Xô, các nước CS Ðông Âu sụp đổ là gì nếu không phải là chế độ độc tài đảng trị phi dân chủ kiểu Mác-Lênin? Nguyên nhân sụp đổ của chế độ độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Libya là gì nếu không phải là chế độ độc đoán đàn áp và tham nhũng, gây nên sự phẫn nộ, khinh ghét, căm thù của quần chúng đông đảo, tạo nên cuộc xuống đường hùng hậu do một bộ phận trí thức và thanh niên tiên phong lãnh đạo và làm lực lượng xung kích?


Nhất nguyên và đa nguyên, độc đảng và đa đảng, độc tài và dân chủ đang là hai quan điểm đối lập, hai trận tuyến lý luận và thực tiễn đối kháng nhau gay gắt, khi cần rất nên đặt ra trong một cuộc trưng cầu dân ý có quan sát của truyền thông quốc tế, của Liên Hiệp Quốc, trong không khí bình tĩnh tự tin của một dân tộc đã trưởng thành.


Ai cũng thấy lãnh đạo của đảng CS hiện nay là trở ngại chính cho việc chuyển đổi lịch sử theo hướng tiến bộ này. Họ sẽ viện ra đủ cớ, nhưng ai cũng thấy cái nguyên cớ thật sự là ở những đặc quyền đặc lợi quá lớn nhưng phi pháp mà họ đã thu được đang nuôi dưỡng lòng tham không đáy của họ. Mong rằng số người đặt tiền bạc cao hơn nhân dân ấy hãy ngẫm nghĩ về chữ “đủ”. Họ đã giàu gấp trăm ngàn lần người dân bình thường rồi. Hãy tự coi là quá đủ, để còn biết lẽ phải và trí khôn, lấy nền dân chủ đích thực, tân tiến của toàn dân làm trọng.


Về nhiệm vụ thuyết phục những đồ đệ trung kiên của học thuyết nhất nguyên độc đảng nên tự nguyện đi theo con đường cách mạng chân chính của nhân dân, không gì bằng xin để cho trong nội bộ đảng khuyên bảo, thuyết phục nhau, sẽ có hiệu quả hơn. Tôi mạn phép kể ra không ít cán bộ lãnh đạo cấp cao của đảng đã sẵn sàng chủ trương thực hiện nền dân chủ đa đảng trong trật tự theo một đạo “Luật về các chính đảng” sẽ được xây dựng. Ví dụ như ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội; ông Trần Phương và ông Vũ Khoan, nguyên phó thủ tướng; ông Nguyễn Ðình Hương, nguyên ủy viên Ban Bí Thư Trung Ương; các tướng lãnh quân đội Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Quốc Thước, Ðặng Quốc Bảo; tướng anh hùng công an Nguyễn Tài; các giáo sư, tiến sĩ Phan Ðình Diệu, Hoàng Tụy, Chu Hảo,Tương Lai, Việt Phương, Nguyễn Quang A, Ngô Bảo Châu, Lê Ðăng Doanh, Trần Ðình Thiên, Ðào Công Tiến, Ðào Xuân Sâm; các nhà nghiên cứu Phạm Chi Lan, Dương Thu Hương, Nguyễn Trung; các nhà văn hóa Nguyên Ngọc, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên; các luật sư Lê Hiếu Ðằng, Trần Quốc Thuận…


Sẽ được hoan nghênh nếu như báo Nhân Dân mở một chuyên mục “Nên độc đảng hay đa đảng?” để cho cuộc tranh luận được công khai, ngay thật, sôi nổi, vừa mang tính lý luận, hàn lâm, vừa mang tính quần chúng rộng rãi.


Bất cứ ai quan tâm đến vận mệnh của Tổ Quốc, cuộc sống có nhân phẩm và nhân quyền của toàn dân không thể bỏ qua thời cơ hiếm có hiện nay để nước ta có một hiến pháp tiến bộ xứng đáng với biết bao hy sinh gian khổ đã qua.


Phương án thuận lợi nhất có thể gọi là “Sự chuyển đổi có điều khiển trong luật pháp từ độc đảng sang đa đảng”,vừa từ dưới toàn dân đồng thuận đòi hỏi bằng được quyền tự do của mình đưa lên trên, vừa từ trên chủ động thấu hiểu nguyện vọng của bên dưới để có phương án lãnh đạo cụ thể có hiệu quả cao.


Ðảng CS cùng toàn dân hợp sức chuyển đổi cả hệ thống chế độ chính trị là một cuộc cách mạng ôn hòa mà sâu sắc nhất, là thắng lợi thật sự vĩ đại mang tính chất dân chủ đầy đủ và trọn vẹn, mở ra kỷ nguyên Dân Chủ trong lịch sử nước ta. Làm như thế, đảng CS sẽ được ghi nhận có công lao và vinh dự to lớn trong sự nghiệp cao quý này.


Nếu như lãnh đạo đảng vẫn một mực nhắm mắt bịt tai trước nguyện vọng chính đáng của nhân dân, từ chối phương án “Chuyển đổi có điều khiển”, cùng nhân dân làm trọn cuộc cách mạng dân chủ dân quyền, thì nhân dân quyết không cam tâm thất bại.


Lực lượng của cuộc cách mạng dân chủ sẽ đòi một cuộc trưng cầu dân ý công khai về vấn đề này. Nếu không đạt phương án này, nhiều cuộc xuống đường ôn hòa nhưng cực kỳ rộng lớn sẽ được đặt ra, hòa bình nhưng bền bỉ và quyết liệt để giành bằng được Quyền Con Người, quyền Tự do khao khát suốt mấy thế kỷ dồn nén lại. Tại sao nhân dân Liên Xô và Ðông Âu làm được, nhân dân Tunisia, Ai Cập, Libya làm được, nhân dân Miến Ðiện cũng làm được, mà nhân dân và sỹ phu Việt Nam ta lại không làm được?


Nhất định cuộc tranh đấu chính nghĩa này sẽ toàn thắng khi lòng dân đã đồng, lại đúng thời cơ, hợp thời đại.


 

Săn sóc ‘bộ giò’ của xe: Tìm hiểu vấn đề cân bánh


 


Phạm Ðình


 


“Bộ giò” của xe thường được gọi chung là bánh, thực sự phải được phân biệt ra 2 thành phần: Lốp (Tire) và Bánh (Wheel). Lốp là cái áo cao su khoác lên bộ xương, bánh chính là bộ xương đó, bao gồm khung, vành kim loại. Lần trước chúng ta đã nói về PSI, là một vấn đề của lốp: Muốn bộ giò khỏe, phải bảo đảm cho lốp luôn luôn có đủ PSI, nghĩa là đủ hơi, không quá căng và không quá thiếu. Hôm nay xin nói về bánh: Các bánh cần phải được cân bằng, bằng không sẽ dẫn đến tình trạng lốp mau hư do mòn không đều, xe chạy hao xăng, khó điều khiển tay lái, dễ đưa tới tai nạn.


 



Một trạm sửa xe có dịch vụ cân bánh xe ở West Berlin, New Jersey. (Hình minh họa: William Thomas Cain/Getty Images)


Khi xe mới xuất xưởng, các bánh (4 bánh, 8 bánh, 16 bánh) bao giờ cũng cân: Bánh xe thẳng góc với mặt đường, và song song với nhau. Nhưng trải qua thời gian sử dụng, nhất là sau các vụ va chạm trong tai nạn, bánh không còn cân bằng, cân đối với nhau nữa, mà bị lệch một cách nào đó (Misaligned). Vì thế lâu lâu phải kiểm tra, thường thì cứ sau mỗi 10,000 miles, là hệ thống trục bánh bị xê dịch, cần phải được xem lại. Xe chạy trên đường gồ ghề, lăn nẩy qua nhiều mô, nhiều lũng mà tài xế không cẩn thận lại cần phải kiểm tra thường xuyên hơn, để kịp thời điều chỉnh nếu cần thiết. Việc này gọi là cân bánh xe (Wheel Alignment), một công tác bảo trì ít khi được để ý đúng mức.


 


I. Triệu chứng bánh không cân


Có nhiều dấu hiệu cho thấy hệ thống bánh không cân, xin kể ra một số như sau:


 


1. Xe bị “bê” về một phía


Trong những điều kiện lăn bánh bình thường – đường thẳng, êm, không mô, không lũng – tài xế có thể buông tay lái mà xe vẫn đi thẳng về phía trước chứ không chạy chệch về bên phải hoặc bên trái. Trong thực tế, chiếc xe của chúng ta, cũng như hàng triệu người khác, không được như vậy. Nếu khi buông tay lái mà chiếc xe “bê” về một phía (pull, drift), điều đó chứng tỏ hệ thống bánh không cân. Ðể bù lại, tài xế buộc phải điều khiển tay lái luôn luôn. Nếu hệ thống mất cân bằng nhiều, tài xế phải lấy sức ghì lại, khiến cho đôi tay chóng mỏi. Ðây là triệu chứng sớm nhất và thông thường nhất, cảm giác được ngay ở bàn tay tài xế, nhất là khi bẻ cua gắt, hoặc xe leo đồi. Tài xế có cảm giác tay lái cứng, thậm chí bị khóa luôn.


Thế nhưng cũng có thể làm cho xe bị “bê” về một phía là do mặt đường không phẳng, chứ không phải là “tội” của hệ thống bánh xe.


 


2. Lốp xe mòn không đều


Một cách kiểm tra khác, cũng rất dễ dàng, là quan sát lốp xe: Cho xe đậu trên một mặt nền phẳng, cho các bánh xe hướng thẳng về phía trước để quan sát. Nếu thấy các đường rãnh chạy dọc theo lốp xe mòn đều theo chiều ngang thì có thể yên tâm về sự cân đối của hệ thống bánh. Nếu thấy lốp mòn không đều – các đường rãnh trên lốp xe sâu hơn ở bên này mà nông hơn ở bên kia – hoặc nhận ra lốp hư hại quá sớm, thì đó chính là dấu hiệu hệ thống bánh không cân. Bởi vì, bánh không nằm đúng vị trí, nên sức nặng của xe và diện tích lốp tiếp xúc với mặt đường không trải đều.


Thế nhưng, để đến nước này thì hơi quá trễ, sự mất cân đối xảy ra đã lâu và đã trở nên trầm trọng, có thể buộc chủ xe phải bỏ tiền ra mua hẳn một bộ lốp mới.


Cần phân biệt với hiện tượng lốp mòn không đều do PSI: Lốp bơm quá căng sẽ làm rãnh mòn hơn ở giữa; Lốp bơm không đủ hơi sẽ mòn nhiều ở 2 cạnh.


Có thể kiểm tra cụ thể bằng cách dùng một đồng cạch 25 xu (quarter): Ðặt đồng xu dưới các rãnh lốp ở các vị trí khác nhau – bên trong, bên ngoài và chính giữa lốp. Chúng ta sẽ có một ý niệm rõ ràng về độ mòn, và từ đó suy ra nguyên nhân.


 


3. Tay lái lệch


Tay lái (steering wheel) cũng gọi là bánh lái, nhưng phổ thông nhất là vô-lăng, như nhiều vẫn gọi. Khi bánh xe hướng thẳng tới phía trước thì vô-lăng phải cân bằng. Vô-lăng lệch, vô-lăng không cân bằng là khi xe chạy thẳng mà vô-lăng phải bẻ về một hướng nào đó, chứng tỏ hệ thống bánh không cân bằng. Tuy nhiên, tình trạng vô-lăng lệch có thể chỉ là “bệnh” của riêng vô-lăng do sự vô ý của người thợ máy đã không đặt vô-lăng đúng khớp. Có người tài xế cứ phàn nàn là vô-lăng xe của mình không nằm thẳng ở vị trí 6 giờ (trên mặt đồng hồ đeo tay), mà lệch về vị trí 5 giờ, hoặc 7 giờ. Trường hợp này không liên quan gì tới hệ thống bánh cả.


 


II. Ðiều chỉnh bánh không cân


 


Gặp những trường hợp bánh không cân, chúng ta cần phải đưa xe đi điều chỉnh lại tại một cơ sở chuyên môn. Ngay cả trong trường hợp vô-lăng lệch, không liên quan tới hệ thống bánh cũng vậy. Nhưng đối với thợ thì đây là công việc rất dễ dàng và đơn giản, bởi vì họ có những thứ máy móc mà người tài xế bình dân không sắm được. Tuy nhiên, là người chủ xe, chúng ta cũng rất nên tìm hiểu thêm về quá trình đưa đến các hiện tượng này.


Trái với tên thường gọi, tình trạng bánh cân hay không cân lại không liên quan gì tới bánh cả. Có nghĩa là nguyên nhân trực tiếp đến từ tình trạng của hệ thống Suspension. Có 4 yếu tố trong Suspension System ảnh hưởng tới sự cân bằng của bánh, đó là Caster, Camber, Toe và Height. Mặc dầu không tự chỉnh được tình trạng mất cân bằng, nhưng tìm hiểu về 4 yếu tố này là một điều không phức tạp, mà lại rất là lý thú.


-Caster là góc của trục lái.


-Camber là độ nghiêng của bánh.


-Height: Ðộ cao của khoảng trống giữa thân xe và mặt đường.


-Toe: Ðộ song song của bánh và car body.


 


Sau đây là một vài ý niệm


 


1. Ðộ Caster bị lệch


Caster là ‘góc’ của trục lái. Dù không phải là thợ chuyên môn, chúng ta cũng dễ dàng hiểu được rằng, tay lái phải được nối với bánh xe bằng một cái que gì đó thì khi người ở trên nhúc nhích cái vô-lăng thì bánh xe mới chuyển động. Cái que này gọi là trục lái (steering axis). Trục lái phải nằm đúng vị trí của nó mà không được quá nghiêng về phía trước hoặc phía sau. Người ta dùng chữ Negative để chỉ tình trạng trục lái nghiêng về phía trước, và Positive để chỉ trục lái nghiêng về phía sau. Người thợ sẽ dùng máy móc để chỉnh lại mức độ Negative hoặc Positive này để đưa trục về vị trí chính xác của nó.


 


2. Camber bị lệch


Camber là độ nghiêng của bánh. Nếu nhìn từ phía trước hoặc từ phía sau của bánh, chúng ta phải thấy nó đứng thẳng, chứ không thể nghiêng vào trong, hoặc nghiêng ra phía ngoài. Bánh nghiêng ra phía trong gọi là Negative, nghiêng ra phía ngoài gọi là Positive. Chúng ta có thể nhận định được bằng mắt thường, hoặc có thể dùng thước để đo độ lệch Camber.


Những lệch lạc về Caster và Camber, cũng như lệch lạc về Toe và Height, đều là do hệ thống Suspension. Cũng may (?),chúng ta không cần phải ra tay, có thợ làm cho cả… Quan trọng là phải làm gì để duy trì được tình trạng cân bánh lâu dài, điều đó lệ thuộc vào cách lái xe của chúng ta: Duy trì chuyển động đều hòa, kềm chế tốc độ khi gặp mô hoặc lũng, đừng phóng vội, dọt ẩu, cướp đường… Nên lưu ý những triệu chứng lệch bánh và sớm mang ra cho thợ chỉnh lại, để tránh những hậu quả tốn kém hơn về sau.


[email protected]


Xe lột dên, xe kêu lóc cóc, xe rỉ nhớt…? Xin xem Cẩm Nang Bảo Trì Tập III đã phát hành. Cùng với Tập I, Tập II, mỗi tập $6.00+$2.00 cước phí. Money Back Guarantee 3 tháng. Gửi cheque hoặc tiền mặt cho Phạm Ðình, PO Box: 9255, Fountain Valley, California 92728-9255. Tel: 714 675 8628 (số mới). Cho biết điện thoại và email, nếu có. Có thể hỏi tại nhà sách Tú Quỳnh 714-531-4284; hoặc Tự Lực 714-531-5290.

Vài cách khuếch trương tài sản


 


Luật Sư LyLy Nguyễn


 


LTS: Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Ðịnh Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang cũng như đã nhiều lần diễn thuyết về các vấn đề giao dịch thương mại, ngân hàng, thuế và điều hành tài sản tại nước ngoài. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 930 W. 17th Street, Suite F, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080.


 


Có nhiều vị chủ nhân cơ sở kinh doanh hay đầu tư tại Hoa Kỳ tự cảm thấy mình bị mắc kẹt quá nhiều gánh nặng điều hành công việc làm ăn mà tiền kiếm ra không được là bao nhiêu, chẳng như ý muốn. Nếu vị ấy biết khéo lập kế hoạch kinh doanh hay đầu tư thì có thể tạo được lợi tức hàng tháng gấp đôi, gấp ba là chuyện thường tình. Không những thế những vị này còn giảm bớt được trách nhiệm quản trị, và giảm nguy cơ làm ăn thất bại, đồng thời tránh được một số tiền thuế đáng kể.


Có năm cách khuếch trương tài sản đề cập sau đây:


 


1. Bảo tồn vốn liếng (preservation of equity):


Nếu hoạch định một kế hoạch kinh doanh hay đầu tư theo điều luật “trao đổi 1031 (1031 Exchange)” của bộ luật thuế vụ Hoa Kỳ thì sẽ giúp cho người đầu tư cơ hội hoãn “thuế lời tài sản (capital gain tax)” 100% cả thuế liên bang lẫn tiểu bang mỗi khi bán bất động sản của họ đang có trong tay. Tác dụng của luật trao đổi 1031 là một cách vay tiền miễn thuế giúp cho người đầu tư tiếp tục khuếch trương tài sản của mình để được giàu hơn do số tiền đáng lẽ mất về thuế nay trao đổi với tài sản thay thế được nâng cấp có giá trị cao hơn và đúng ý muốn.


 


2. Gia tăng lợi tức và khai giảm thuế (increase income and tax deductions):


Nhiều người đầu tư trao đổi từ một bất động sản mà người ấy trả nợ gần hết hoặc đã trả dứt nên có giá trị vốn liếng (equity) cao để lấy một bất động sản khác vừa ý hơn và dĩ nhiên có thể vay một số tiền nợ mới. Dĩ nhiên tài sản lớn hơn sẽ đem lại lưu lượng tiền mặt lớn hơn và có cơ hội tạo vốn tăng trưởng nhanh chóng đồng thời cũng đem lại lợi điểm che chở thuế nhiều hơn do mức khai giảm giá trị (depreciation) để đóng thuế ít đi.


 


3. Ða dạng hóa tài sản (diversification):


Người đầu tư vào bất động sản kiếm được tiền do tập trung tiền vốn vào một lãnh vực nào đó. Họ giữ của bằng cách đa dạng hóa tài sản. Ðể có thể đa dạng hóa tối đa và gìn giữ được của cải mà họ đã đổ bao công sức xây đắp từ nhiều năm trước, người đầu tư nên đổi tài sản theo vị trí địa dư và đổi thể loại thí dụ như chuyển thành cơ sở bán lẻ, chung cư cho nhiều gia đình thuê mướn, văn phòng dịch vụ, v.v. và cũng đổi theo từng loại nguy cơ có thể xảy ra nhiều hay ít.


 


4. Hoạch định tài sản (estate planning)


Khi truyền lại tài sản cho thừa kế thuộc thế hệ sau thì sẽ được miễn thuế lời tài sản đồng thời căn bản mới cũng sẽ được thiết lập trên tài sản truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Toàn bộ tài sản được đa dạng hóa sẽ không cần đến trách nhiệm điều hành quản trị hoặc giảm tới mức tối thiểu; và có tính chất linh động trong việc chỉ định một tài sản rõ rệt cho con cháu kế thừa nào vốn không có thời giờ hay không có khả năng quản trị.


 


5. Giải tỏa gánh nặng điều hành quản trị


Người có kinh nghiệm đầu tư thường làm giàu qua việc cai quản các bất động sản thuộc loại có vốn lớn thí dụ như cơ sở thuê mướn gồm cả chung cư nhiều gia đình cư ngụ lẫn loại nhà thuê cho một gia đình.


Dù đây là một phương cách rất tốt để làm giàu, nhưng rồi cũng có lúc các vị này cảm thấy “anh hùng thấm mệt” cần nghỉ ngơi để hưởng thụ công trình đã tạo dựng ra. Do đó muốn được nhàn hạ thì chủ nhân có thể giải tỏa gánh nặng điều hành quản trị cho người khác (nhưng vẫn làm chủ) bằng cách chuyển bất động sản của mình theo một trong hai hình thức: (1) “tài sản thuê bao dài hạn” (Net Leased Properties) hoặc (2) “tài sản sở hữu chung” (Tenant In Common Properties).


Trước hết nếu theo kiểu tài sản thuê bao dài hạn người đứng thuê bao sẽ hoàn toàn cáng đáng việc quản trị, chủ nhân của tài sản đó hàng tháng chỉ có việc thu tiền thuê mà không dính dáng gì đến chuyện điều hành cơ sở đó. Lối tài sản thuê bao dài hạn qui định điều kiện người thuê bao phải chịu tất cả mọi sở phí thông thường của người đứng chủ bao gồm các chi phí bảo hiểm, bảo trì, và thuế. Thời hạn thuê bao thường từ 10 cho tới 30 năm và có điều khoản tăng tiền thuê theo từng định kỳ.


Thứ hai, nếu theo kiểu tài sản sở hữu chung, chủ nhân cho người khác góp phần cùng làm chủ tài sản và giao cho đệ tam nhân hay công ty quản trị trách nhiệm thay mặt điều hành. Kiểu này là một hình thức chủ quyền chung trên một tài sản có hai hay nhiều cá nhân cùng có quyền sở hữu bất khả phân trên tài sản đó.


Tuy nhiên phần hùn của mỗi người không hẳn phải bằng nhau và mỗi sở hữu chủ đều có quyền truyền cho thừa kế. Ngoài ra mỗi sở hữu chủ đều có bằng khoán trước bạ (deed) riêng biệt cho phần của mình. Nói một cách tổng quát việc quản trị “tài sản sở hữu chung” thường được giao cho công ty chuyên môn cho nên trách nhiệm của các chủ chung thường rất ít.


Cả hai hình thức “tài sản thuê bao dài hạn” và “tài sản sở hữu chung” đều rất thích hợp trong việc áp dụng luật trao đổi 1031 đã đề cập trong các bài trước. Sau khi bán đi tài sản đầu tư nguyên thủy, nếu muốn mua một tài sản thuê bao dài hạn kể như tài sản trao đổi thay thế thì rất dễ dàng. Cách thi hành hay nhất là thảo một thư dự tính (Letter of Intent) trong giới hạn 45 ngày loan báo lai lịch tài sản dự định thay thế theo luật 1031.


Thư dự tính là một cách hữu hiệu để làm cho cuộc thương lượng giữa hai bên mua bán được dễ dàng, nhưng nói chung không có tính cách ràng buộc và hiển nhiên thư này chỉ có tính cách hướng dẫn thiết lập hợp đồng mua bán chính thức về sau. Sau khi hai bên mua bán đã đạt được thỏa thuận trên mọi điều khoản thương lượng lúc ấy sẽ soạn bản hợp đồng mua bán chính thức để hai bên thi hành các điều khoản đã đồng ý.


Nhiều người đầu tư theo luật trao đổi 1031 còn có thể đồng thời thương lượng cùng một lúc hai hay ba bất động sản. Tuy rằng nghe qua tưởng như có lợi vì người mua có vẻ được nhiều chọn lựa lấy bất động sản nào được giá nhất, nhưng trên thực tế người bán thường đòi hỏi một khoản tiền đặt cọc không trả lại, nếu mua thì sẽ được trừ vào giá bán vì vậy việc chọn lựa và thời gian cũng bị giới hạn. Ðiều này làm mất thời giờ cho cả hai phía mua lẫn bán, ngoài ra còn tốn kém nhiều khoản lệ phí linh tinh khác nếu hỏi rồi không mua.


Các chủ nhân tài sản sở hữu chung cần thận trọng đừng để kéo dài quá lâu rồi mới quyết định. Trong vòng 45 ngày phải biết chắc chắn bất động sản định mua thay thế thích hợp theo như hoạch định. Trường hợp phát giác bất động sản định mua thay thế không hợp thì chẳng thà đừng mua, chịu đóng thuế cho chính phủ còn hơn bỏ tiền đầu tư vào một dự án không tốt.


Ðối với các người đầu tư thích loại tài sản thuê bao dài hạn thì vẫn có thể dùng kế hoạch tài sản sở hữu chung làm dự phòng. Cả hai hình thức tài sản thuê bao dài hạn và tài sản sở hữu chung đều có đặc điểm hấp dẫn là tránh được trách nhiệm quản trị điều hành. Ðiểm khác biệt rõ rệt nhất của cả hai phương cách trên là quyền kiểm soát. Kiểu tài sản thuê bao dài hạn chủ quyền hoàn toàn nằm trong tay của người đầu tư cho nên người này nắm được quyền kiểm soát tối đa trên tài sản của mình.


Mặt khác kiểu tài sản sở hữu chung vì có nhiều sở hữu chủ nên quyền kiểm soát đặt căn bản trên giao kèo “chủ chung (co-ownership)” do đó mỗi quyết định đều phải có sự thỏa thuận của tất cả chủ chung biểu quyết. Dĩ nhiên tất cả mọi việc trên đời đều có thể thỏa hiệp, cho nên trong trường hợp so sánh hơn thiệt giữa hai kiểu tài sản thuê bao dài hạn và tài sản sở hữu chung, yếu tố cần cân nhắc giữa khả năng “đa dạng hóa” tài sản cho dễ thay đổi hình thức kinh doanh hay đầu tư đối lại với quyền hạn có tiếng nói chung cuộc khi bán tài sản chung hay vay tiền mượn nợ mới.


 


Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quí độc giả vẫn cần thảo luận với luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.


Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 930 W. 17th Street, Suite F, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080. Xin lưu ý đây là địa chỉ mới.


 

Câu chuyện một Ðặc Công hồi chánh


Chưa hề được nói tới trong Tết Mậu Thân


 


 


Vũ Ánh


 


WESTMINSTER (NV) – Phải thật là khó khăn và qua khá nhiều thủ tục, tôi mới được gặp người bộ đội Biệt Ðộng Thành tên là Mừng, một trong những người thuộc toán biệt động thành có nhiệm vụ đánh chiếm đài phát thanh Saigon, tức đài phát thanh trung ương của Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, vào Ðêm Giao Thừa Tết Mậu Thân 1968.


 Lý do là vì lúc đó anh ta đang bị giam giữ tại căn cứ 40, một trong những chi nhánh khai thác các tù binh phiến cộng của Hoa Kỳ tại gần trường đua Phú Thọ vào ngày mồng 3 Tết.


Trụ sở Ðài Phát Thanh Saigon tại số 3 đường Phan Ðình Phùng, góc Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phan Ðình Phùng, bị sập 2/3 sau đêm giao tranh giữa lực lượng Nhảy Dù và lực lượng Biệt Ðộng Thành do Mừng chỉ huy, chỉ còn lại văn phòng tổng giám đốc và thư viện. Chúng tôi, những phóng viên và biên tập viên cần thiết được di tản lên làm việc tại Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre, nơi có một đài phát thanh phòng hờ khi đài trung ương bị nguy hiểm, do bị sập bởi Việt Cộng tấn công hay đảo chánh.


Lực lượng tấn công Ðài Phát Thanh Saigon là biệt động thành chỉ với một nhiệm vụ: Chiếm đài và cho phát cuốn băng hiệu triệu của Hồ Chí Minh trước khi rút lui. Việt Cộng chỉ gồm một trung đội 21 người trang bị nhẹ. Họ tập trung và mai phục trong khoảng từ 6 đến 8 tháng trước, chỉ cách đài phát thanh Saigon và trụ sở Cục An Ninh Quân Ðội trong khoảng từ hơn 100 thước dưới hầm trong một tiệm may áo dài phụ nữ tên là nhà may Quốc Anh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tổng giám đốc Cục Vô Tuyến Truyền Thanh Quốc Gia giai đoạn đó là Trung Tá Không Quân Vũ Ðức Vinh, một người chỉ huy mà tôi cho rằng tài năng và bản lãnh của ông là có một không hai trong ngành dù ông là một quân nhân. Nay dù Trung Tá Vinh đã ra người thiên cổ, nhưng anh em cựu phóng viên và biên tập viên tin tức Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia vẫn nhớ đến ông như một người chỉ huy kiệt xuất.


Tết Mậu Thân là cái Tết lớn nhất sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 và lực lượng Hoa Kỳ có mặt trên chiến trường Việt Nam lên tới con số trên nửa triệu. Ðề nghị hưu chiến để dân chúng vui Tết được cả ba bên chấp thuận VNCH, Việt Cộng và Mỹ.


Theo thống kê, năm 1967 cũng là năm mà con số mặt trận lớn giảm hẳn xuống trong khi chiến dịch bình định được chính phủ VNCH quan tâm hơn. Nhưng có một chỉ dấu khiến Trung Tá Vũ Ðức Vinh lo ngại: Một vài đơn vị VNCH mà ông biết cho lính đi phép Tết quá tỷ lệ bình thường hàng năm. Trong một cuộc họp đặc biệt hai ngày trước Tết với chúng tôi, ông bày tỏ mối lo âu về những tin tức mà người cố vấn Mỹ của ông khuyến cáo phải tăng cường hệ thống an ninh. Kết quả của buổi họp là ông ra lệnh cho kỹ sư Trần Công Thân, chánh sự vụ Sở Kỹ Thuật, phải huy động những cán sự kỹ thuật thử lại hệ thống đài dự phòng ở Quán Tre, Phủ Tổng Thống, dinh số 2 Vũng Tàu một đài dự phòng mới lập ở Núi Bà Ðen, Tây Ninh. Ông Thân là kỹ thuật gia có năng lực và nhiệt tình đã làm việc và trải qua nhiều cuộc đảo chánh ở Saigon và vì thế có thể coi ông là tác giả của hệ thống đài dự phòng và những phương tiện để cắt sóng giữa đài Trung Ương và Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre và Phú Thọ. Ngành phát thanh cổ điển được tổ chức nhiêu khê hơn là ngành kỹ thuật số bây giờ. Tôi không phải là kỹ thuật gia, nhưng chúng tôi trong thời gian được huấn luyện để làm phóng viên vô tuyến truyền thanh cũng phải được cho biết khái niệm kỹ thuật: Ðài phát thanh Saigon là hạ tầng phát sóng với công suất thấp chuyển qua cable riêng và trung tâm phát tuyến được gọi là thượng tầng với những máy phát thanh công suất 50 kilowatts bắt sóng công suất thấp rồi khuếch đại bằng những máy công suất lớn để phủ sóng từ vĩ tuyến 17 xuống đến Mũi Cà Mau. Vì thế chỉ cần cắt sóng và báo động cho Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre, là cả hệ thống “tắt tiếng”. Hệ thống cắt sóng ấy ra sao thì cho tới nay, tôi cũng không hiểu được chi tiết vì đây là điều tối mật vào lúc bấy giờ chỉ có Tổng Giám Ðốc Vũ Ðức Vinh, ông Thân và một vài viên chức chỉ huy ngành kỹ thuật của hệ thống mới biết.


Phóng viên và biên tập viên được chia toán trực Tết cho biết những địa điểm tập trung để trực thăng bốc đưa đi một trong số những đài dự phòng khi có biến. Cho nên, khi toán biệt động thành của Việt Cộng vào được lầu 2 nơi đặt máy phát sóng hạ tầng và các cơ sở quan trọng của “master control,” các phòng vi âm chính vào đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân, chúng đã áp lực nhân viên chạy máy ráp băng vào máy rồi, nhưng người nữ nhân viên này vẫn còn đủ thời giờ để báo cho Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre biết bằng một cái nút nhỏ dưới chân và lập tức sóng phát thanh bị cắt đứt, đài dự phòng lập tức cho chạy nhạc quân hành, một cách loan báo có biến động, nhưng chưa biết là đảo chánh hay bị Việt Cộng tấn công. Tiếp theo đó là một thông cáo Ðài Phát Thanh Saigon bị tấn công, bọn Việt Cộng đã ở trong đài và đang bị lực lượng Nhảy Dù phản công để tái chiếm.


Tôi nhắc lại chi tiết kỹ thuật này để cho thấy những người nào đã làm cho kế hoạch phát băng hiệu triệu của Hồ Chí Minh bị thất bại, điều mà cho tới nay các công dân VNCH trước đây ít được nghe nói tới. Sau Tết Mậu Thân, những huy chương và tưởng thưởng cho những người có công trong việc đánh bại được ân thưởng đông đoài, nhưng những người có công nhất trong việc ngăn chặn kế hoạch phát băng hiệu triệu của Hồ Chí Minh thì không hề được nhắc tới. Mãi về sau này, sau 30 Tháng Tư năm 1975, khi bị đẩy vào trại cải tạo Z-30C ở Hàm Tân, câu chuyện trở nên rõ ràng hơn khi bản thân tôi gặp lại người cựu biệt động thành Việt Cộng tên là Nguyễn Văn Mừng (cái tên anh ta nói với tôi trong cuộc phỏng vấn và sau này tại Z-30C), người sống sót duy nhất trong số 21 biệt động thành Việt Cộng tấn công đài phát thanh Saigon hồi Tết Mậu thân, người mà tôi đã được gặp và phỏng vấn chớp nhoáng sau khi anh bị đưa về Căn Cứ 40.


Năm 1977, tôi bị chuyển đến trại lao cải nói trên, một trại nhốt những thành phần chính trị chống lại chế độ mới mà họ gọi chung là tội “phản động” gồm cả cựu sĩ quan, cựu đảng viên các chính đảng ở miền Nam Việt Nam, các thành viên của các đơn vị Thám Sát Tỉnh (gọi tắt là PRU – Provincial Reconessance Unit), cựu cán bộ Xây Dựng Nông Thôn và những thành phần Việt Cộng xin hưởng qui chế hồi chánh sau khi bị lực lượng an ninh hay quân đội VNCH bắt trước 30 Tháng Tư 1975.


Ðến trại Z-30C khoảng 4 tháng sau thì tôi bị cùm biệt giam vì cái tội “không an tâm cải tạo, hoạt động linh tinh trong trại giam, tuyên truyền chống chế độ” và sau khi ra khỏi biệt giam, tôi bị biên chế vào đội mộc. Tại sao tôi “được” đưa vào đội mộc thì cũng dễ hiểu: Phần lớn các thành viên Việt Cộng hưởng qui chế hồi chánh và cộng tác với ngành an ninh của VNCH sau khi hồi chánh đều bị chế độ mới trừng phạt, một số bị giết, một số bị đưa đi cải tạo lâu dài đã trở thành những điềm chỉ viên cho bọn an ninh trại. Họ có thể thay cán bộ canh chừng tôi. Người đội trưởng của đội mộc lúc đó tên là Tuấn một sĩ quan cảnh sát VNCH được chuyển sang làm việc với đơn vị PRU ở Gò Công đã nói đã khuyến cáo tôi như vậy, vì là chỗ anh em. Ông cho biết tôi bị chuyển về đội này cũng là để cho những ăng ten “trừng trị” tôi. Tuấn nói: “Tôi xếp cho ông nằm bên cạnh thằng Mừng, thằng chiêu hồi này không hại ông đâu. Nó cũng dân PRU cả. Ở đây anh em người ta cũng không đến nỗi, chỉ có mấy thằng cà chớn thôi. Tôi sẽ chỉ cho ông để ông tránh chúng nó”.


Tuy thế, tôi vẫn rất thận trọng ít tiếp xúc với ai trong đội, ngoại trừ Tuấn và một vài anh em thuộc lực lượng võ trang Dân Xã Ðảng của Hòa Hảo. Tôi thừa biết là chỉ ở đội mộc một thời gian rất ngắn để mấy tên an ninh theo dõi thêm xem tôi liên hệ với ai ngoài đội mộc. Họ đâu biết rằng tôi đã chấp nhận phần xấu nhất cho mình rồi nên chỉ không liên hệ với những anh em khác ở đội cũ vì sợ liên lụy đến họ, còn trong đội mộc tôi sống bình thường, vui vẻ và ăn nói vẫn “linh tinh”. Cũng chính vì thế mà tôi điểm mặt những anh nào chiêu hồi gian và anh nào chiêu hồi thật. Mấy lần bị kêu đi làm việc tức bị gọi lên thẩm cung ở ban an ninh trại và qua những lần ấy tôi biết những báo cáo tôi đến từ người nào trong đội.


Khi mới được đưa vào đội mộc để ăng ten kềm kẹp tôi, Mừng không nhận ra tôi, và ngược lại tôi cũng chỉ thấy Mừng trông quen quen, không biết đã gặp ở đâu rồi. Ba tháng sau tôi bị chuyển về đội 41 và một lần do bị thổ tả, tôi được đưa lên bệnh xá. Dịp này tôi gặp lại Mừng vì anh nằm giường bên cạnh tôi và đây chính là dịp chúng tôi nhận ra nhau 8 năm sau ngày tôi phỏng vấn anh ta lần đầu tiên. Tôi không hỏi anh nhiều chi tiết về vụ tấn công vào Ðài Phát Thanh Saigon và lý do tại sao anh và tôi trở thành người đồng cảnh trong khi trước 30 Tháng Tư 1975 tôi là người khác chiến tuyến với anh ta. Mừng kể cho tôi nghe chi tiết vụ tấn công và biết rất rành mạch về đường đi, nước bước và lối kiến trúc trên lầu 2 của Ðài Phát Thanh Saigon: Ði thẳng lên lầu, quẹo trái theo hành lang đến cuối dãy là phòng phát thanh. Thời gian từ 1978 cho đến nay, thời gian đã qua lâu, nhưng tôi vẫn còn nhớ đại khái mẩu đối thoại của tôi với Mừng về lý do anh ta bị chế độ mới bắt:


– Mà tại sao ông lại bị bắt. Lẽ ra họ phải đối đãi với ông như anh hùng sau 30 Tháng Tư chứ?


– Ð.M, tôi xin chiêu hồi với Mỹ và làm cho nó.


– Biệt động thành mà xin chiêu hồi là sao?


– Ấy thế, đánh nhau mãi chán rồi vả lại sau Tết Mậu Thân, bọn tôi cạn láng, mất phương hướng nên khi bị Mỹ dụ, khó cưỡng lại lắm.


– Này, đừng có nói linh tinh để gài tôi nghe – Tôi chặn họng Mừng.


– Ông cứ không tin đi, thời buổi này biết đâu. Nhưng nói thật với ông, nếu tôi không chuồn ra ăn phở trước Viện Pasteur là giờ này tôi ở Mỹ rồi. Những người chiêu hồi cộng tác với Mỹ như tôi được tập trung tại một căn nhà ở trên đường Nguyễn Ðình Chiểu để chuẩn bị di tản. Tôi đếch hiểu chữ chuẩn bị của Mỹ nó nói là phải thường trực có mặt ở đây và không đi đâu cả. Chuồn ra phở Hòa gọi phở, vừa hết tô ra trả tiền là đã nghe tiếng động cơ trực thăng phành phạch. Tôi hiểu là số phận đã an bài và cố gắng chạy bộ trở lại điểm tập trung, nhưng chiếc trực thăng đã cất lên cao và trước cổng dân chúng ùa vào khiến cho CIDG canh phòng đã phải rút vào trong nhà đóng cửa lại và nổ súng xua đuổi bất cứ người nào tìm cách xâm nhập vào căn nhà này. Không đi được, tôi trở lại Tây Ninh, nơi bố mẹ tôi đều làm lớn ở chế độ mới vì ông bà là người hoạt động nội thành ở Tây Ninh rất lâu. Họ khuyên tôi ra trình diện và tôi làm theo. Do ảnh hưởng của bố mẹ tôi nên tôi chỉ bị tập trung cải tạo “vĩnh viễn” dù tôi đã bị tuyên án tử hình.


– Mẹ kiếp, cải tạo mà vĩnh viễn tức là án cao su, là tử hình rồi còn đếch gì nữa. Chúng nó tùng xẻo cậu dần dần, có khi lại còn khổ hơn. Thà bắn cái đòm một phát – Tôi nói.


– Ừ, tôi cũng nghĩ như vậy.


Thời gian ở bệnh xá vài ngày là cơ hội để tôi và Mừng trao đổi với nhau nhiều hơn, tránh được dòm ngó vì lúc đó bác sĩ điều trị tại bệnh xá là BS Lý Trung Dung, người từng là cố vấn của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và sau khi cầu Thị Nghè sập trong Hội Chợ ở Sở Thú khiến một số người bị chết và bị thương nên mất chức. Bác Sĩ Lý Trung Dung bị tù cải tạo vì ông là đảng viên Cần Lao và là người thân tín của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Lên làm bệnh xá được ít lâu vì đối đãi tốt với các bạn đồng tù nên ông lại bị gọi trở về đội lao động như một sự trừng phạt. Trong suốt mấy ngày điều trị tại bệnh xá, tôi có dịp nói chuyện với Mừng kỹ hơn về chuyện làm cách nào mà anh ta thoát ra khỏi vòng vây của lực lượng Nhảy Dù. Mừng nói (tôi còn nhớ được những điểm chính, xin tóm gọn):


– Lực lượng Dù đóng chốt trên sân thượng của đài phát thanh để phòng khi có biến cố, còn lực lượng chính của Trinh Sát Dù đóng bộ chỉ huy bên Cục An Ninh Quân Ðội. Dưới sân thượng là lầu 2 nơi đặt máy phát. Ngày 25 Tết là bọn tôi rút ra khỏi nhà may Quốc Anh và đến điểm tập trung ở một tiệm phở trên đường Yên Ðổ vốn là “căn cứ cách mạng” từ rất lâu. Ðêm giao thừa, chúng tôi xuất phát từ căn nhà này trên một chiếc Dodge 4×4 giả làm quân xa và mọi người trong toán của tôi đều mặc giả đồ trận của bộ binh VNCH có quân cảnh (giả) áp tải. Từ Yên Ðổ chúng tôi theo Trần Quang Khải, rồi Ðinh Tiên Hoàng và tới nút chặn bằng hàng rào thép gai ở giữa ngã tư Ðinh Tiên Hoàng-Phan Ðình Phùng, tôi xuống xe và trình giấy nói với lính canh ở đây là vào tăng cường an ninh cho Ðài Phát Thanh Saigon. Lính canh không nghi ngờ gì và mở hàng rào dây kẽm gai cho chúng tôi lái xe qua. Ðến ngay cổng chính chúng tôi xuống xe và nhân viên an ninh chưa kịp phản ứng, chúng tôi đã nổ súng hạ sát và chạy thẳng lên lầu. Ðích thân tôi rút cuốn băng ra từ chiếc túi rết và dí súng buộc một nữ nhân viên chạy máy mắc cuốn bằng vào máy. Băng vừa chạy, thì cuộc tấn công của các chốt trên sân thượng bắt đầu. Tôi ra lệnh rút ra khỏi đài để thoát thân thì không kịp. Ðại đội Trinh Sát Dù từ bên An Ninh Quân Ðội được đưa qua đánh từ dưới lên. Phần lớn lính tôi đều bị giết chết trên lầu hai, một số leo qua tường chạy qua khu nhà kho phía sau (nhà của Bưu Ðiện trước 1963 do nhà văn Nhất Linh ở) cũng bị thiệt mạng, còn lại tôi len qua phía sau dãy nhà vệ sinh của đài qua cổng cư xá bưu điện phía sau trà trộn vào dân chúng bắt đầu chạy tán loạn tìm đường qua cầu Bùi Hữu Nghĩa, Ða Kao và trốn xuống dưới sàn của một căn nhà sàn. Ngày 3 Tết, một người đã di tản trở về nhà lấy gạo, khi đi ra sau tiểu chắc nhìn thấy tôi trốn dưới sàn nên lẳng lặng ra phía sau báo lực lượng Biệt Ðộng Quân án ngữ cầu Bùi Hữu Nghĩa, Ða Kao nên họ vào bủa vây và bắc loa kêu tôi ra đầu hàng.


– Ông không biết là chúng tôi có hệ thống cắt sóng khi có biến cố à?


– Không, làm đếch gì mà biết những điều bí mật ấy và nếu tôi biết được chuyện này thì đã không thành chuyện. Bên trên còn không biết rõ hết cấu trúc của máy phát thanh nữa là tôi. Cũng như các ông cũng không biết thời gian mai phục, bọn tôi ra ăn mì tại quán Lai Sanh Chành và cơm ruồi (quán cơm bình dân mà chúng tôi thường ra ăn hàng ngày gần tiệm may Quốc Anh bằng tên cơm ruồi, vì vừa ăn vừa phải đuổi ruồi) thấy mặt nhân viên đài phát thanh ra ăn hoài, nhưng đâu có ai để ý.


Tôi cũng chỉ hỏi qua quýt về thời gian cộng tác với Hoa Kỳ sau thời gian anh ta xin hưởng qui chế hồi chánh vì hiểu rằng biết nhiều về chuyện này không có lợi cho tôi và cho cả Mừng. Làm sao biết được lòng người trong khi sự tìm hiểu quá kỹ về chuyện cộng tác với Hoa Kỳ có thể tạo cho tôi cái ách giữa đàng mang vào cổ không chừng. Sau này cứ mỗi khi được thăm nuôi, Mừng lại mang sang cho tôi ít tán đường và gạo rang trộn muối sả. Mừng nói: “Những thứ này gia đình tôi làm theo kiểu biệt động thành ngày xưa đây, gởi ông ăn lấy thảo. Ông đừng ngại, bây giờ mình là đồng cảnh rồi, đồng cảnh của những thằng trước đây khác chiến tuyến”.


Trước khi tôi bị chuyển sang một trại khác, Mừng bị một tai nạn trong trại. Chiếc tủ để dụng cụ tại đội mộc đổ sấp xuống lưng anh ta làm Mừng bị gãy xương sống và bị liệt phải chuyển ra bệnh viện Bình Tuy. Từ đó cho đến những năm sau này, tôi không còn tin tức gì về Mừng nữa. Nhưng qua những năm được may mắn sống ở một đất nước tự do như Hoa Kỳ, mỗi lần nghĩ đến những kỷ niệm về cuộc chiến, về Tết Mậu Thân, Mừng là người làm tôi nhớ rõ nét nhất về những oái oăm của lịch sử cuộc chiến hơn 38 năm trước đây.

Tìm hiểu luật di trú

Tìm hiểu luật di trú


 


Darren Nguyen Ngoc Chuong, Esq.


 


Luật di trú Hoa Kỳ là loại luật rất phức tạp, do đó, theo yêu cầu của đa số bạn đọc cần am tường và thấu hiểu về luật này, tòa soạn nhật báo Người Việt mời Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong phụ trách mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú,” đăng hàng tuần trên Người Việt. Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tại Orange County, California được Luật Sư Ðoàn Tiểu Bang California công nhận chuyên môn về ngành Luật Di Trú Hoa Kỳ. Hiện nay California có trên 238,000 luật sư nhưng chỉ có 161 luật sư có bằng chuyên môn về luật di trú. Ngoài ra, Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong từng phục vụ lâu năm tại Sở Di Trú Hoa Kỳ (INS) nên rất có kinh nghiệm trong việc thiết lập hồ sơ và thường đại diện thân chủ trước các tòa án di trú. Ông là một luật sư đầy kinh nghiệm và uy tín, chuyên trách giải quyết và phục vụ đồng hương Việt Nam về lãnh vực di trú nhiều năm tại California và khắp các tiểu bang Hoa Kỳ.


 


Ðề tài: Nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện nghề nghiệp (VISA H-1B)


 


Diện visa H-1B là diện dùng để bảo lãnh những người có nghề nghiệp chuyên môn vào Hoa Kỳ làm việc.


 Sở dĩ diện này được lập ra vì rất nhiều công ty ở Hoa Kỳ thiếu chuyên viên, hoặc không đủ nhân viên chuyên nghiệp nên cần thêm những tài năng đã được đào tạo ở nước ngoài vào làm việc, vì thế chính phủ Hoa Kỳ đã dành một số chiếu khán cho những người có khả năng đó. Số chiếu khán mỗi năm được dành cho diện H-1B là 65,000 chiếu khán. Vì trong những năm qua Hoa Kỳ cần thêm nhiều nhân viên chuyên môn nên số chiếu khán được tăng lên là 195,000 chiếu khán và sau năm 2003 đã trở lại số chiếu khán thường lệ là 65,000. Số chiếu khán cho fiscal year (tạm dịch là tài khóa) 2013-2014 được bắt đầu cấp vào ngày 1 tháng 10 năm 2013 đến ngày 30 tháng 9 năm 2014. Nhưng chiếu theo tài khóa 2012-2013 (tức là từ ngày 1 tháng 10 năm 2012 đến ngày 30 tháng 9 năm 2013) số 65,000 chiếu khán đã hết vào ngày 11 tháng 6 năm 2012. Tức là số chiếu khán đã hết trước khi sự bắt đầu của tài khóa 2012-2013. Theo kinh nghiệm của những năm trước cho thấy thì để được một trong 65,000 số chiếu khán của tài khóa 2013-2014, chúng ta cần phải nộp đơn càng sớm càng tốt. Nhưng luật di trú đã định là hồ sơ không được nộp sớm quá sáu tháng của ngày đương đơn muốn xin chiếu khán. Tức là không thể nào nộp quá 6 tháng trước khi tài khóa bắt đầu. Ðiển hình thí dụ là ngày đầu tiên có thể nộp đơn xin chiếu khán H-1B với Sở Di Trú Hoa Kỳ là ngày 1 tháng 4 năm 2013 để xin chiếu khán của tài khóa 2013-2014. Vì lý do đó, những quí vị nào có ý định nộp xin chiếu khán cho tài khóa 2013-2014 thì phải tiến hành thủ tục ngay từ bây giờ để kịp nộp đơn vào tháng 4 sắp tới.


Diện visa H-1B đòi hỏi người nước ngoài phải làm việc với tư cách chuyên môn, bằng cấp tối thiểu là cử nhân, không được làm mất việc làm của công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân và phải được trả với mức lương theo thị trường hoặc cao hơn.


Theo luật di trú hiện nay, có một số nghề nghiệp mà Sở Di Trú cho là chuyên môn. Những nghề nghiệp ấy là: Kỹ sư, bác sĩ, kế toán viên, luật sư, cố vấn luật pháp ngoại quốc, nhà bác học, nhà bảo quản thư-viện, nhà tâm lý học, kiến trúc sư, giáo sư, ký giả, giám đốc biên tập, và giám đốc cố vấn. Ngoài ra còn nhiều nghề nghiệp khác có thể được coi là nghề nghiệp chuyên môn nếu chứng minh với Sở Di Trú rằng nghề nghiệp cần có một sự hiểu biết đặc biệt và bằng cử nhân là sự đòi hỏi tối thiểu để làm việc đó.


Nếu đương đơn không có bằng cử nhân hoặc cao hơn, có thể thế bằng 12 năm kinh nghiệm, (vì ở Hoa Kỳ tốt nghiệp cử nhân là 4 năm đại học, mỗi năm đại học được thế bằng 3 năm kinh nghiệm). Ngoài ra có nhiều nghề nghiệp đòi hỏi đương đơn phải có bằng hành nghề chẳng hạn như luật sư thì đương đơn phải là luật sư thực thụ thì hồ sơ mới được chấp thuận.


Còn vấn đề không được làm mất việc làm của công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân Hoa Kỳ, thì công ty tuyển nhận chuyên viên phải cam kết với Sở Lao Ðộng rằng việc làm đó không có ảnh hưởng tới công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân Hoa Kỳ.


Mức lương trả cho người nước ngoài phải cao bằng hoặc cao hơn mức lương của công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân Hoa Kỳ. Nếu quí vị hội đủ những điều kiện mà chúng tôi vừa nêu trên thì nên liên lạc với một văn phòng luật sư am tường về luật di trú để giúp quí vị xin vào Hoa Kỳ làm việc hoặc chuyển những diện khác sang diện H-1B.


 


Bản tin chiếu khán


 


Theo sự yêu cầu của quí bạn đọc, sau đây là bản thông tin chiếu khán cho tháng 2 năm 2013.


Ưu tiên 1 – priority date là ngày 15 tháng 1 năm 2006, tức là ưu tiên được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ.


Ưu tiên 2A – priority date là ngày 22 tháng 10 năm 2010, tức là ưu tiên được dành cho vợ, chồng, hoặc con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân.


Ưu tiên 2B – priority date là ngày 15 tháng 1 năm 2005, tức là ưu tiên được dành cho con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân.


Ưu tiên 3 – priority date là ngày 8 tháng 7 năm 2002, tức là ưu tiên được dành cho con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ.


Ưu tiên 4 – priority date là ngày 15 tháng 4 năm 2001, tức là ưu tiên được dành cho anh, chị hoặc em của công dân Hoa Kỳ.


Quí vị có thể tự theo dõi bản thông tin chiếu khán cho hàng tháng tại website của Tổ Hợp Luật Sư Nguyen & Luu, LLP tại: http://www.nguyenluu.com/vn/vnbulletin/2013-2%20luatditru_banchieukhan_dienthannhan.html.


Ghi chú: Ðể am tường về việc nhập cảnh Hoa Kỳ đầy phức tạp, mời quý vị đón đọc mỗi tuần mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú” và mục “Giải Ðáp Thắc Mắc” trên nhật báo Người Việt phát hành ngày Chủ Nhật ở trang Ðịa Phương, do Luật Sư Di Trú Darren Nguyen Ngoc Chuong phụ trách.


Mọi thắc mắc xin liên lạc: Luật Sư Darren C. N. Nguyen hoặc Luật Sư Thuong T.C. Luu của Tổ Hợp Luật Sư Nguyen & Luu, LLP địa chỉ số 1120 Roosevelt, Irvine, CA 92620. Website www.NguyenLuu.com. Ðiện thoại (949) 878-9888.

Tin mới cập nhật