‘Ngày mai, con không có đi học’

 

La Quốc Tâm



LGT: Trong cuộc sống có nhiều chuyện mình muốn nói với ai đó, nhưng lại không thể nói trực tiếp được. Không nói được với nhau thì hãy viết cho nhau. Âu đó cũng là cơ hội để giải tỏa những tâm tư, những nỗi niềm. Mục “Viết Cho Nhau” do phóng viên Ngọc Lan phụ trách. Thư từ xin gửi về: Người Việt (Viết Cho Nhau), 14771 Moran St., Westminster, CA 92683, hay email: [email protected]








“Tâm ngày mai, con không có đi học. Ở nhà có người đến rước đi”.


Cái điệp khúc này tui thường nghe mẹ tôi nói với mấy anh tôi vài năm trước đó, và đã vài lần với tôi trong những chuyến đi vượt biên không thành. Hôm nay lại nghe thì biết là tôi phải làm gì để chuẩn bị cho chuyến ra đi: nghĩa là tôi phải thuộc nằm lòng số quân nhân của ba tôi với chức vụ cuối cùng và địa chỉ ở Mỹ của anh tôi. Mẹ nói những chi tiết này tôi cần và sẽ giúp tôi khi “qua đến bên đó”.


Sau Tháng Tư 1975, anh em tôi chưa ai vào tuổi trưởng thành, nhưng cũng bị liệt kê vào thành phần xấu. Tụi tôi đã làm nên tội gì? Đơn giản chỉ vì chúng tôi là con của sĩ quan chế độ cũ.


Khi các anh tôi gần đến tuổi nghĩa vụ, cái lo của mẹ tôi càng thôi thúc tìm đường vượt biên, tìm tương lai cho dù sự nguy hiểm, cơ hội lạc mất hoặc chết ở ngoài biển khơi rất cao. Ba mẹ tôi nhận ra điều đó và chấp nhận mọi hiểm nguy để đánh đổi cuộc sống mới cho anh em chúng tôi.


Ngày đi, tôi được đưa xuống trú ẩn ở một chòi nhà bằng lá xiêu vẹo, ở một nơi nghèo nàn miệt thôn quê. Chờ cho màn đêm buông xuống, mẹ nắm tay tôi dẫn đi trên con đường đất, giữ khoảng cách với người đưa đường đến ‘taxi’ (ghe nhỏ) để ra ‘cá lớn’ (tàu vượt biên). Đêm tối ở đồng quê, tiếng côn trùng bắt đầu trỗi nhịp, leo lét, lưa thưa những ngọn đèn dầu càng làm tăng thêm cảnh buồn, cảnh biệt ly não lòng không hẹn ngày gặp lại. Càng đi mẹ càng siết chặt tay tôi hơn như muốn nhắn nhủ thêm, nhưng phải giữ im lặng tuyệt đối để không gây sự chú ý của dân làng. Khi ra đến bờ sông, mẹ tháo gỡ chiếc nhẫn đang đeo trên tay trao cho tôi, không quên khẽ dặn: “Qua tới đó bán đánh điện tín về liền.” Tôi chưa kịp trả lời, mẹ đã đẩy tay tôi xuống chiếc ghe bảo leo lên. Phút biệt ly lần cuối của tôi là vậy đó.


Ra đi trong im lặng. Trong màn đêm tôi chỉ thấy hình dáng mẹ lờ mờ. Khi chiếc ghe nổ máy chạy vài phút thì dáng mẹ tôi không còn, chỉ thấy những hàng cây dọc theo bờ sông phủ trùm dầy đặc bởi màn đêm.


Không quen với sóng biển nhấp nhô lúc cao lúc thấp, tôi bị say sóng, nằm ngủ li bì từ lúc nhảy qua tàu lớn để ra cửa biển. Cho đến lúc quá đói, tôi choàng mắt thức dậy để cảm nhận mọi việc xung quanh. Tôi muốn nhúc nhích, di chuyển cũng không được. Sự lắc lư, đong đưa của con tàu đã đưa mọi người vào vị trí ở đâu ở đó. Người nằm la liệt, san sát và khép nép bên nhau như những con cá mồi được sắp xếp trong hộp. Con tàu thì quá nhỏ mà số người thì đông hơn mức dự liệu và sức chứa của con tàu. Tôi có cảm giác như máy tàu không đủ mã lực để đưa con tàu mỏng manh tiến về phía trước. Định mệnh của những người trên tàu bồng bềnh theo sóng biển để mặc con sóng đưa.


Say sóng, đói lả, và chật chội nằm san sát bên nhau, sống bằng những ngụm nước ít ỏi được phân chia cho cả tàu.


Khi tôi thấy hơi tỉnh, một anh lớn hơn ngoắc tôi vào buồng lái và trao cho tôi một cái ca bằng nhựa từ tay của một người đang tát nước dưới lườn tàu và bảo anh kia nghỉ một chút để tôi vô thay việc tát nước. Từ cửa sổ tôi thấy sóng nước mênh mông, đưa đẩy con tàu nhỏ nhoi lên xuống theo từng đợt sóng. Mỗi lần tàu dập xuống thì bị một ít nước tràn vào nên tôi được giao cho việc luân phiên tát nước ra. Không biết vì nước tràn vào hay là lườn tàu bị rỉ nước, mà sức tát của tôi thấy không vơi được lượng nước. Vài người nữa được điều động vào buồng máy tát nước để giữ con tàu không bị đắm chìm.


Từ phòng lái tôi thấy cảnh một vài người cháu gái ôm chầm bà cụ, ôm chặt vào lòng với những hàng nước mắt lăn nhòa của người thân. Họ than khóc nhưng tôi không nghe tiếng khóc vì tiếng sóng vỗ vào thành tàu hay là vì tiếng than khóc của họ đã khan cả tiếng chỉ còn lại những đớn đau trên nét mặt của họ. Bà cụ đã ra đi vĩnh viễn vì không thể chịu đựng được cái khát, đói và sức đánh chòng chành vào con tàu.


Ngày hôm sau, một biến cố nữa lại xảy ra. Một thiếu phụ trầm tư ôm xác người chồng. Đứa con gái chừng mười mấy tuổi ngồi bên xác người cha. Mắt họ đỏ hoe, nước mắt không còn, ngậm ngùi, bi thương tiễn đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng.


Khái niệm về thời gian, ngày đêm cũng khó mà phân biệt. Tôi sống trong tâm trạng nửa mê nửa tỉnh vì say sóng, vì khát và đói cho đến một buổi chiều khi thấy mọi người nhốn nháo tốc tấm poncho che nắng mưa và cố leo lên thành tàu. Rồi người người rời bỏ con tàu đang đắm chìm, nhảy xuống bơi vào bờ của một bãi biển gần đó. Tôi cũng theo dòng người nhảy xuống biển, dùng hết sức lực còn lại để bơi vào bờ. Khi chân tôi chạm được đất liền, thì lại bị những cơn sóng ào ạt đánh ngã quỵ. Ráng đứng lên, lại bị sóng đánh ngã xuống, cho tới lúc nằm soãi tay trên bờ cát thì tôi đã kiệt quệ sức lực, mặc cho con sóng cứ ào ạt đẩy đưa.


Tôi nghe văng vẳng một vài người nói lớn “Tới rồi, tàu tới Mã Lai rồi”.


Tôi nhắm mắt tận hưởng niềm vui sướng tột cùng là chuyến đi đã tới được bến bờ. Từ giờ phút đó, tôi và 81 người trong chuyến khởi hành còn sống sót mang cái tên thuyền nhân với số tàu MB279 được đưa vô làm thủ tục nhập trại tị nạn ở Pulau Bidong.


Vài ngày trên biển, vài tháng ở đảo rồi trại tị nạn Mã Lai và sáu tháng ở Phi Luật Tân, tôi đã sống với tinh thần đoàn kết, sự đùm bộc lẫn nhau của đồng bào tôi. Những khó khăn chật vật đã dạy cho tôi tính kiên trì, nhẫn nại, biết yêu thương chia sẻ với người cùng chung cảnh ngộ.


Mỗi dịp tháng Tư về, tôi luôn dành những giây phút yên tĩnh để nhớ về một cuộc hành trình đầy gian nguy mà tôi được may mắn đến được bến bờ, để thấy trân quý giá trị cuộc sống và thấu hiểu vì sao tôi có mặt ở đất nước này.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT