SEOUL, Nam Hàn (NV) – Các nhà nghiên cứu vừa tìm ra phương pháp mới, thông qua việc sử dụng tính năng chụp cộng hưởng từ (MRI) để dự đoán nguy cơ phát triển ung thư vú lần thứ hai, đặc biệt là ở những người có mật độ mô vú dày, theo UPI trích dẫn nghiên cứu được công bố hôm Thứ Ba, 30 Tháng Tám, trên tạp chí Radiology của Hiệp Hội X Quang Bắc Mỹ (Journal of Radiological Society of North America).
Những cải tiến trong điều trị và phát hiện sớm giúp nhiều phụ nữ có khả năng sống sót sau ung thư vú, căn bệnh ung thư khiến nhiều phụ nữ tử vong nhất trên thế giới. Ngày nay những người phụ nữ còn phải đối mặt với nguy cơ mắc ung thư vú lần hai.

Những người sống sót sau ung thư vú lần một và có mật độ mô vú dày hơn thì nguy cơ ung thư vú lần hai cũng cao hơn. Bởi vì vú họ có mật độ mô sợi cơ nhiều hơn, mô mỡ ít hơn, những yếu tố có thể khiến kết quả chụp nhũ ảnh không chính xác vì các vùng bị tổn thương bị các mô sợi che lấp.
Khi đó MRI trở thành phương án phù hợp với những bệnh nhân từng mắc ung thư vú trước đó, vì những nghiên cứu trước đây cho thấy phương pháp này có khả năng phát hiện ung thư tốt hơn chụp nhũ ảnh.
Do đó trong bản đề nghị của mình, hiệp hội American College of Radiology khuyên những phụ nữ từng có tiền sử mắc ung thư vú, những người có mật độ mô vú dày, những người được chẩn đoán ung thư vú dưới 50 tuổi nên sử dụng biện pháp MRI hậu phẫu.
Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa nguy cơ ung thư vú lần hai là sự tăng lên của nhu mô nền (parenchymal enhancement), tức là việc tế bào nền sáng lên trong hình ảnh MRI sau khi sử dụng chất cản quang.
Mức độ tăng lên được chia thành bốn: tối thiểu, nhẹ, trung bình hoặc rõ rệt. Khi so với mức độ tối thiểu, thì nhu mô nền tăng lên ở mức độ nhẹ, trung bình hoặc rõ rệt đều có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư vú lần hai trong tương lai. Hay nói cách khác, mức độ nhu mô nền tăng lên có thể là một yếu tố dự báo về nguy cơ ung thư vú lần hai sau khi điều trị ở những phụ nữ có tiền sử ung thư vú, theo Bác Sĩ Su Hyun Lee, trưởng nhóm nghiên cứu, chuyên gia tại bệnh viện đại học Seoul National University ở Nam Hàn.
Ngoài ra, kết quả từ nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò tiềm năng của các phép đo mức độ tăng lên của nhu mô nền trong việc sàng lọc cho những người từng bị ung thư vú. Chẳng hạn, những phụ nữ có độ tăng lên của nhu mô nền ở mức tối thiểu khi chụp MRI hậu phẫu có thể không cần chụp MRI tăng cường cản quang hằng năm nếu cơ thể không có những yếu tố nguy cơ khác.
Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm việc bị chẩn đoán ung thư vú ở độ tuổi trẻ, đột biến gen liên quan ung thư vú, hoặc có thụ thể hormone trong lần ung thư vú đầu tiên.
Về cơ bản, bà Lee cho rằng sử dụng kết hợp chụp nhũ ảnh, siêu âm và MRI, cũng như các mô hình nguy cơ, sẽ là cách theo dõi tốt nhất đối với những phụ nữ có tiền sử ung thư vú. (V.Giang) [qd]
































































