Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 110)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 110


 


Zorba lắc đầu với vẻ khinh khỉnh:


– Tôi không biết ông chủ! Tự nhiên tôi nẩy ra ý nghĩa đó. Xem cách ông ngồi trong góc quán café, im lặng, xa cách, cắm cúi đọc cuốn sách nhỏ mạ vàng – tôi không biết tại sao chỉ cảm thấy ông thích súp, thế thôi. Tự nhiên tôi nẩy ra ý nghĩ đó, chẳng nên tìm hiểu làm gì!


Hắn im lặng lắng tai nghe:


– Im, có người đang đi lại!


Chúng tôi nghe những bước chân hấp tấp và hơi thở hổn hển của người đang chạy. Thình lình, dưới ánh lửa leo lét, một tu sĩ áo rách, đầu trần, râu đỏ hoe và ria con kiến hiện ra. Gã mang theo gã một mùi dầu hôi hắc. Zorba kêu to:


– Ê, mời cha vào đây, cha Zaharia! Sao cha đến nông nỗi này!


Gã thầy tu ngồi sụp xuống đất, gần ngọn lửa. Cằm gã run run.


Zorba cúi xuống và nháy gã:


– Vâng, gã thầy tu đáp.


Zorba la:


– Hoan hô ông thầy tu! Bây giờ chắc chắn bạn sẽ lên Thiên Ðàng; không xẩy vào đâu được! Và bạn sẽ lên Thiên Ðàng với một thùng dầu hôi trong tay.


– Amen! Gã tu sĩ vừa lẩm bẩm vừa làm dấu.


– Chuyện đó xẩy ra thế nào? Bao giờ? Kể đi!


– Tôi nhìn thượng đẳng thiên sứ Michael, đồng chí Canavaro. Ngài ra lệnh cho tôi. Nghe đây này: tôi ngồi bóc vỏ đậu trong bếp, cửa đóng kín. Có mỗi một mình tôi. Các Cha đã đi dự kinh vãn khóa, yên lặng hoàn toàn. Tôi nghe thấy chim hót bên ngoài tựa những thiên thần. Tôi rất bình tĩnh, tôi đã sửa soạn tất cả và tôi giấu nó trong tiểu giáo đường trong nghĩa trang, dưới Bàn Thánh, để cho thượng đẳng thiên sứ Michael ban phước lành cho nó.


Thế rồi trưa hôm qua, tôi ngồi lột vỏ đậu trong bếp đầu óc tôi chỉ nghĩ đến Thiên Ðàng. Tôi nhủ thầm: “Lạy Chúa Giê-su, con cũng xứng đáng được lên Nước Thiên Ðàng lắm chứ, và con bằng lòng ngồi lột vỏ đậu trong bếp Thiên Ðàng đời đời!” Ðó, tôi nghĩ đến điều đó và nước mắt tôi trào ra. Thình lình tôi nghe thấy tiếng vỗ cánh trên đầu tôi. Tôi hiểu ngay. Tôi vừa cúi xuống vừa run lên vì sợ hãi. Rồi tôi nghe thấy một tiếng nói: “Zaharia, ngẩng đầu lên, đừng sợ!” Nhưng tôi run và ngã dúi xuống đất. “Ngẩng đầu lên, Zaharia!” tiếng nói lại cất lên. Tôi ngẩng đầu lên và tôi thấy: cửa mở, trên ngưỡng cửa thượng đẳng thiên sứ Michael đang đứng, giống hệt hình vẽ ngài trên cửa giáo đường của tu viện, giống hệt: cánh đen, dép săng-đan đỏ và một vầng hào quang vàng. Có điều thay vì cầm gươm, ngài lại cầm một bó đuốc cháy: “Chào Zaharia!” Ngài bảo tôi. “Con là tôi tớ của Chúa” tôi đáp, xin ngài cứ sai khiến! “Cầm lấy bó đuốc cháy này và cầu Chúa phò trợ cho ngươi!” Tôi chìa tay ra và cảm thấy lòng bàn tay rát bỏng. Nhưng thượng đẳng thiên sứ đã biến mất. Tôi chỉ nhìn thấy một tia lửa xẹt ngang bầu trời tựa một ngôi sao băng.


Gã thầy tu lau mồ hôi trên mặt, gã đã trở nên tái xanh. Gã nghiến răng như thể gã lên cơn sốt rét.


Zorba hỏi:


– Sao nữa? Can đảm lên, Zaharia! Sau đó ra sao?


– Ngay lúc đó, các Cha đọc kinh vãn khóa trở về và đi vào phòng ăn. Khi đi qua, tu viện trưởng đá tôi như đá một con chó và cả bọn thầy tu cười. Tôi lặng thinh. Từ khi thượng đẳng thiên sứ đi qua, trong không khí phảng phất mùi lưu huỳnh, nhưng không ai nhận thấy. Họ ngồi vào bàn ăn. Lão thư lại nói: “Kìa Zaharia không lại ăn à?” Tôi câm như hến.


“Bánh của thiên thần đủ cho y rồi!” Demetrios, tên thú dâm nói. Bọn cha cố lại cười. Thế là tôi đứng lên đi thẳng tới nghĩa địa. Tôi nằm sấp dưới chân thượng đẳng thiên sứ. Tôi cảm thấy bàn chân ngài đặt trên cổ tôi suốt mấy giờ đồng hồ. Thời gian trôi qua nhanh như chớp. Giờ khắc và những thế kỷ sẽ trôi qua trên Thiên Ðàng như vậy. Ðã đến nửa đêm. Tất cả đều yên lặng. Bọn thầy tu đã đi ngủ hết. Tôi đứng dậy. Tôi làm dấu và hôn chân thượng đẳng thiên sứ. “Xin vâng lĩnh ý Chúa!” Tôi nói. Tôi cầm lấy thùng dầu, mở nút. Tôi nhét đầy giẻ vào trong áo. Tôi đi ra.


“Ðêm đen như mực. Trăng chưa lên. Tu viện tối om như địa ngục. Tôi vào sân, trèo lên thang, tôi đến phòng tu viện trưởng, tôi đổ dầu trên cửa ra vào, cửa sổ, tường. Tôi chạy tới phòng Demetrios. Bắt đầu từ đây tôi đổ dầu tràn ngập các phòng và dọc theo hành lang bằng gỗ dài – đúng ý như bạn bảo tôi. Ðoạn tôi vào nhà thờ, châm một ngọn đèn cầy từ cái đèn chầu của Chúa và phóng hỏa!”


– Cảm tạ Chúa! Gã vừa rống lên vừa làm dấu. Cảm tạ Chúa! Trong giây lát toàn thể tu viện đã ở trong biển lửa. “Lửa Ðịa Ngục!” Tôi la lên và chạy vắt giò lên cổ. Tôi ráng sức chạy và tôi nghe thấy tiếng chuông rung, bọn thầy tu la hét… Tôi chạy miết…


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Thanh Nam, giấc ngủ cô đơn

Nhà văn Thanh Nam tên khai sinh Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định, Bắc Việt Nam, mất năm 1985 tại Seattle, Hoa Kỳ, vì bệnh ung thư.

Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài

Một thứ tự do hoang dại

Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây.