Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 36
Tôi đã viết xong bức thư. Tôi đã trò chuyện với bạn tôi, và tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi gọi Zorba. Nép mình dưới một tảng đá cho khỏi ướt, hắn đang thử mẫu đường sắt treo của hắn.
– Ði, Zorba, tôi gọi. Ðứng lên đi dạo một vòng trong làng chơi.
– Ông có vẻ vui vẻ, ông chủ. Trời mưa, ông không muốn đi một mình sao?
– Không, và tôi cũng không muốn mất vui. Nếu chúng ta đi cùng với nhau thì sẽ không sao cả. Ði đi.
Hắn cười, nói:
– Tôi rất sung sướng vì ông cần tôi. Ta đi nào!
Hắn mặc áo choàng len kiểu Crete với mũ trùm đầu nhọn mà tôi đã cho hắn và chúng tôi lội bùn đến con lộ lớn.
Trời mưa. Những đỉnh núi bị che phủ. Không có một hơi gió; đá cuội sáng bóng. Ðồi than bùn bị ngộp dưới sa mù. Như thể khuôn mặt đàn bà của trái đồi bị khâm liệm trong nỗi ảo não thế nhân, như thể nàng tàn tạ trong mưa.
– Lòng người đau đớn khi trời đổ mưa, Zorba nói. Không nên oán trách trời!
Hắn cúi xuống chân một hàng rào và hái những bông thủy tiên dại đầu mùa. Hắn nhìn những bông hoa một lúc lâu, mê man không biết chán, như thể lần đầu tiên hắn nhìn thấy những bông thủy tiên; hắn nhắm mắt hít một hơi, thở dài rồi đưa cho tôi.
– Ước gì người ta biết những đất đá, cỏ hoa, mưa móc nói gì! Có thể chúng kêu gọi, kêu gọi chúng ta và chúng ta không nghe thấy. Khi nào tai người ta sẽ mở rộng, ông chủ? Khi nào người ta có cặp mắt mở rộng để nhìn? Khi nào chúng ta sẽ mở vòng tay ôm tất cả – đá, hoa, mưa, con người? Ông nghĩ sao ông chủ? Sách vở nhảm nhí của ông nói sao về điều đó?
– Ma quỉ bắt chúng, tôi nói, dùng thành ngữ ưa chuộng của Zorba. Ma quỉ bắt chúng. Sách vở chỉ nói có vậy.
Zorba nắm lấy cánh tay tôi.
– Tôi sắp nói cho ông nghe ý tưởng của riêng tôi, ông chủ, nhưng ông không được nổi giận: mang tất cả những cuốn sách nhảm của ông ra chất đống lên và đốt đi. Sau đó, ai biết, ông đâu ngu dại gì, ông là một mẫu người tốt… ông cũng có đôi chút lợi ích cho nhân quần!
“Hắn có lý, hắn có lý! Tôi la thầm trong tôi. Hắn có lý, nhưng tôi không thể làm được điều đó!”
Zorba lưỡng lự và đăm chiêu. Ðoạn hắn nói:
– Tôi thấy một điều…
– Ðiều gì? Nói đi!
– Tôi không biết rõ. Tôi chỉ biết tôi biết một điều, thế thôi. Nhưng nếu tôi cố gắng nói, tôi sẽ quay rối bời hết. Ðể hôm nào vui vẻ, tôi sẽ nhảy điều đó ông coi.
Trời bắt đầu mưa lớn. Chúng tôi đến làng. Những cô thiếu nữ dẫn cừu từ đồng cỏ về, những bác thợ cầy đã cởi ách bò, bỏ cánh đồng cầy dở dang, những thiếu phụ chạy theo con trong phố hẹp. Một sự kinh hoàng cuồng nhiệt nổ vỡ trong làng khi cơn mưa rào tới. Những người đàn bà thốt lên những tiếng kêu lanh lảnh và mắt họ cười; những hạt mưa lớn bám vào những hàm râu cứng, những bộ ria vểnh cong của bọn đàn ông. Một mùi cay nồng bốc lên từ đất đá và thảo dã.
Ướt như chuột lột, chúng tôi đâm bổ vào quán café hàng thịt “Khiêm Tốn.” Quán đông nghẹt. Người chơi bài belote, kẻ to tiếng tranh luận, như gọi nhau từ núi nọ qua núi kia. Xung quanh một cái bàn nhỏ trong cùng, trên một băng gỗ, những bô lão ngồi chễm chệ: bác Anagnosti với chiếc áo chemise trắng rộng tay; Mavrandoni lặng lẽ trang nghiêm, hút điếu cày, mắt trừng trừng ngó xuống đất, lão giáo viên đứng tuổi, đạo mạo, tỳ trên cây gậy lớn, lắng nghe một gã khổng lồ tóc tai rậm rạp vừa từ Candia về đang mô tả những kỳ quan của chốn đô hội với một nụ cười kẻ cả. Lão chủ quán café, đứng sau quay vừa nghe và cười trong khi vẫn để mắt nhìn những bình nấu café xếp hàng trên bếp lò.
Khi thấy chúng tôi vào, bác Anagnosti đứng dậy:
– Xin mời các ông lại đây, đồng bào, lão nói. Sfakianonikoli đang kể cho chúng tôi nghe tất cả những điều tai nghe mắt thấy ở Candia. Tức cười lắm, mời các ông lại cả đây.
Lão quay sang lão chủ quán café.
– Hai raki, Manolaki! Lão nói.
Chúng tôi ngồi xuống. Gã mục đồng rừng rú co vòi vào và nín lặng khi thấy khách lạ.
– Rồi sao nữa, sếp Nikoli, bác cũng tới cả nhà hát nữa à? Lão giáo viên hỏi để khiến gã mở miệng. Bác thấy ra sao?
Sfakianonikoli chìa bàn tay hộ pháp ra, cầm lấy ly rượu, tợp một hơi hết, lấy can đảm.
– Không tới nhà hát à? Hắn la lớn. Tôi tới mạnh chứ. Hết chỗ này nghe nói tới Kotopouli lại nghe chỗ kia nhắc tới Kotopouli! Thế rồi một buổi tối, tôi làm dấu và nói: mình cũng phải tới đó coi mới được. Xem cô ả mặt ngang mũi dọc ra sao mà chúng cứ làm ồn lên mãi. Hết Kotopouli lại đến Kotopouli.
– Và bác thấy gì, bác đỏ? Bác Anagnosti hỏi. Kể đi coi nào!



























































































