Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 54)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 54


 


Mụ ngư nữ già bẽn lẽn lại gần và đặt bàn tay mập ú lên ức con vật như muốn ngăn cản không cho người yêu ra đi.


– Zorba… mụ vừa âu yếm gọi vừa kiễng chân lên, Zorba…


Zorba quay mặt đi chỗ khác. Hắn không ưa những lời lẽ lẩm cẩm giữa đường phố như thế. Mụ đàn bà đáng thương nhìn thấy cặp mắt hắn và sợ hãi. Nhưng tay mụ vẫn tỳ trên ức con la, khẩn khoản, dịu dàng.


– Em muốn gì? Zorba gắt hỏi.


– Zorba, mụ van nài, hãy ngoan ngoãn… Ðừng quên em nhé, Zorba… hãy ngoan ngoãn…


Zorba giật cương, không trả lời. Con la cất bước đi.


– Ði may mắn nhé, Zorba! Tôi nói to. Ba ngày thôi đấy, bác nghe rõ chưa? Không được quá đâu đấy!


Hắn quay lại, vẫy vẫy bàn tay hộ pháp. Mụ ngư nữ già khóc và nước mắt mụ đào thành những luống trong lớp phấn.


– Tôi xin hứa mà, ông chủ! Zorba la lên. Tôi đi đây.


Và hắn khuất dạng dưới những cây ô-liu. Mụ Hortense tiếp tục khóc, nhưng vẫn mải miết nhìn ánh tấm chăn đỏ tươi mà mụ đặt rất cẩn thận để cho người yêu ngồi được thoải mái lấp lánh và tắt dần qua vòm lá tráng bạc. Lát sau ánh tấm chăn cũng biến mất. Mụ Hortense đưa mắt nhìn quanh: thế giới hoang vắng trống trải.


Tôi không trở lại bãi biển. Tôi cảm thấy buồn và hướng về rặng núi. Khi tôi tới con đường lên dốc, tôi nghe thấy tiếng kèn trompette. Lão phát thư báo hiệu cho mọi người biết lão đến làng.


– Ông chủ! Lão vừa gọi vừa vẫy tôi.


Lão lại gần và đưa cho tôi một bó báo, tạp chí văn nghệ và hai lá thư. Tôi bỏ ngay một lá vào túi để đọc tối nay, khi ngày chấm dứt và tâm trí lắng dịu. Tôi biết ai viết cho tôi, và tôi muốn triển hạn nguồn vui của tôi để nó kéo dài hơn nữa.


Lá thư kia, tôi nhận ra nhờ nét chữ sắc sảo, đột ngột và những con tem ngoại quốc. Lá thư này đến từ Phi Châu, từ một ngọn núi hoang vu gần Tangangyika, do một người bạn học cũ của tôi – Karayannis gửi.


Hắn là một thanh niên kỳ lạ, dữ dội, ngăm ngăm đen, răng rất trắng. Một cái răng nanh của hắn chìa ra như răng lợn lòi. Hắn không bao giờ nói: hắn la. Hắn không bao giờ thảo luận: hắn tranh luận. Hắn sớm rời bỏ quê hương hắn, đảo Crete, nơi hắn là một giáo sư thần học và một tu sĩ. Hắn tán tỉnh một cô sinh viên và một hôm người ta bắt gặp họ đang hôn nhau ngoài đồng; người ta la ó đả đảo họ. Ngay ngày hôm đó, ông giáo sư trẻ tuổi dục áo thầy tu và lên lầu. Hắn tới nhà một người chú ở Phi Châu, lao mình vào công việc, mở một xưởng chế tạo dây thong và kiếm được rất nhiều tiền. Thỉnh thoảng hắn viết cho tôi, và mời tôi tới ở với hắn sáu tháng. Trong khi mở mỗi lá thư hắn và ngay trước khi đọc nữa, tôi cảm thấy từ xấp thư dầy cộm, bao giờ cũng được khâu lại với nhau, bốc lên một cơn cuồng phong khiến tóc tôi dựng đứng lên. Tôi luôn quyết định sang Phi Châu thăm hắn, nhưng không bao giờ đi cả.


Tôi bỏ đường đi, đến ngồi trên một tảng đá, bóc thư và bắt đầu đọc:


“Khi nào anh quyết định đến đây thăm tôi, đồ con hầu bám vào đá Hy Lạp kia? Anh nữa, anh cũng trở thành một thứ người hay la cà ở quán rượu như tất cả những tên Hy Lạp đê tiện khác. Anh ngụp lặn trong những quán café như trong sách vở của anh, và thói quen của anh, những ý thức hệ quí báu của anh. Hôm nay là Chủ Nhựt, tôi không phải làm việc; tôi ở tại nhà tôi, trong khu điền địa của tôi, và tôi nghĩ đến anh. Mặt trời thiêu đốt như một cái hỏa lò. Không một giọt mưa. Ở đây, khi trời đổ mưa, vào Tháng Tư, Tháng Năm và Tháng Sáu, đúng là một trận đại hồng thủy.


Tôi hoàn toàn cô độc và tôi thích vậy. Không thiếu những tên Hy Lạp ở đây (có nơi nào mà không có giống rệp này) nhưng tôi không muốn giao thiệp với họ. Họ ghét tôi, bởi vì các ông mẫu quốc thân mến, mong ma quỉ bắt các ngài đi, ngay cả nơi đây, các ngài cũng đem bệnh cùi của các ngài, những đam mê chính trị của các ngài, tới cho chúng tôi. Chính trị, đó là cái làm tiêu vong Hy Lạp. Có cả bài bạc, dĩ nhiên, nạn mù chữ và những tội lỗi của xác thịt.


“Tôi ghét dân Âu Châu; chính vì lẽ đó tôi lang thang ở đây, trong rặng Usumbara này. Tôi ghét dân Âu Châu, nhưng trên tất cả, tôi ghét dân Hy Lạp và tất cả những gì là Hy Lạp. Không bao giờ tôi đặt chân lên xứ Hy Lạp của anh nữa đâu. Tôi sẽ chết ở đây. Tôi đã xây xong mộ tôi, trước lều của tôi, trên sườn núi hoang vắng. Tôi đã đặt cả mộ chí nữa và chính tay tôi khắc bằng chữ hoa lớn:


“Ðây là nơi an nghỉ của một người Hy Lạp ghét dân Hy Lạp”


“Tôi phá lên cười, tôi nhổ, tôi nguyền rủa, tôi khóc khi tôi nghĩ tới Hy Lạp. Ðể không phải nhìn thấy dân Hy Lạp và tất cả những gì Hy Lạp, tôi vĩnh viễn rời xa tổ quốc. Tôi đến đây, tôi đã dẫn dắt định mệnh – không phải định mệnh dẫn dắt tôi: con người làm điều hắn muốn! – tôi dẫn dắt định mệnh tôi đến đây, tôi làm việc và tôi làm việc quần quật như một tên mọi. Tôi đổ mồ hôi và tôi tiếp tục đổ từng suối mồ hôi. Tôi chiến đấu với đất, với gió, với mưa, với thợ thuyền, với nô lệ đen và đỏ của tôi.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT