Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 64
Câu chuyện này khiến tôi rất đau lòng, bởi thế, khi nghe mụ Hortense nhắc lại câu hỏi đó, tôi rùng mình.
– Dĩ nhiên là tôi rất vui lòng, tôi đáp. Ðó là một điều vinh dự cho tôi, thưa bà Hortense.
Mụ đứng lên, sửa những lọn tóc xõa xuống dưới chiếc mũ nhỏ xíu và liếm môi.
– Chúc ông ngủ ngon. Chúc ông ngủ ngon và mong anh ấy về sớm với chúng ta.
Tôi nhìn mụ đi xa dần, đong đưa nhún nhẩy tấm thân già nua với tất cả điệu bộ nhõng nhẽo của một thiếu nữ. Nỗi hân hoan cho mụ đôi cánh, và đôi giầy cao gót cũ nhấn những lỗ sâu trong cát. Mụ chưa đi vòng hết mũi đất thì thấy những thì thấy những tiếng kêu la chát chúa và những tiếng than khóc đã vang lên dọc theo bờ biển.
Tôi nhỏm dậy và chạy tới chỗ huyên náo. Trên mũi đất đối diện, bọn đàn bà tru tréo như thể họ đang hát truy điệu. Tôi trèo lên một hòn núi đá quan sát. Ðàn ông đàn bà từ làng ùa ra, sau họ chó sủa vang. Hai ba người cỡi ngựa đi trước, bụi bay mù mịt.
“Có tai nạn gì rồi,” tôi nghĩ và tôi chạy vòng quanh vịnh.
Tiếng ồn ào mỗi lúc một lớn dần. Hai ba đám mây hồng mùa xuân đứng bất động trong ánh chiều tà. Cây vả của cô phủ đầy lá xanh non.
Mụ Hortense lảo đảo chạy trở lại, tóc rối bù, hổn ha hổn hển, một chiếc giày mụ văng ra. Mụ cầm ở tay và vừa chạy vừa khóc.
– Lạy Chúa tôi… Lạy Chúa tôi…
Mụ ta loạng choạng và suýt ngã nhào vào tôi. Tôi đỡ mụ.
– Sao bà khóc vậy? Có chuyện gì xẩy ra?
Tôi giúp mụ đi lại giầy.
– Tôi sợ… Tôi sợ…
– Sợ gì?
– Sợ chết.
Mụ kinh hoàng ngửi thấy mùi cái chết trong không gian.
Tôi nắm cánh tay mềm nhão định dẫn mụ tới chỗ đó, nhưng tấm thân già nua của mụ cưỡng lại và run rẩy.
– Tôi không muốn tới đó… Tôi không muốn tới đó… Mụ la lên.
Mụ già đáng thương không dám lại gần nơi cái chết đã hiện ra. Charon không được nhìn thấy mụ và không được nhớ mụ… Giống như tất cả những kẻ già cả, mụ ngư nữ đáng tội nghiệp của chúng ta cố gắng ẩn trốn bằng cách mặc quần xanh của cỏ, mầu nâu sẫm của đất để Charon không thể phân biệt mụ với đất và cỏ. Ðầu thụt trong đôi vai tròn và cong, mụ run rẩy.
Mụ lết tới gần một cây ô liu, trải cái áo khoác vá víu của mụ ra và nhào xuống đất.
– Chùm nó lên giùm tôi, chùm nó lên giùm tôi và đi tới xem đi.
– Bà lạnh à?
– Tôi lạnh, chùm cái áo lên giùm tôi.
Tôi cố chùm cái áo lên cho mụ thật khéo để mụ lẫn với đất và tôi bỏ đi.
Tôi tới mũi đất và bây giờ nghe rõ tiếng than khóc. Mimiko chạy vượt qua tôi, tôi gọi giật lại:
– Chuyện gì vậy, Mimiko?
– Y chết đuối! Y chết đuối! Gã la lên, không dừng lại.
– Ai?
– Pavli, con trai Mavrandoni.
– Tại sao?
– Mụ góa…
Danh từ đó treo trong trời chiều và tấm thân nguy hiểm và mềm mại của góa phụ lồ lộ hiện ra.
Tôi tới chỗ mỏm đá nơi cả làng tụ tập. Ðàn ông yên lặng, đầu trần, đàn bà, khăn quàng vắt vai, vừa dứt tóc vừa thốt lên những tiếng kêu nhức óc. Một thi thể xanh mét, trương lên nằm trên bãi sỏi. Lão Mavrandoni đứng nhìn, bất động. Tay phải lão tỳ trên cây gậy. Tay trái, lão nắm chòm râu xám uốn cong.
– Trời tru đất diệt mày, con mụ nạ dòng tội lỗi kia! Một giọng nói the thé bỗng nhiên thốt lên. Chúa sẽ bắt mày trả món nợ đó!
Một người đàn bà tiến lên và quay sang bọn đàn ông.
– Thế nào, không có một mống đàn ông nào trong làng dám đặt nó trên đùi và cắt họng nó như một con cừu à? Hứ! Một bọn hèn nhát!
Và mụ nhổ bọn đàn ông đang lặng lẽ nhìn mụ.
Kondomanolio, lão chủ quán café, trả lời mụ.
– Không được sỉ nhục chúng tôi mụ Deli-Katerina điên cuồng kia, lão quát to, không được sỉ nhục chúng tôi, làng còn nhiều người đàn ông can đảm, rồi mụ sẽ thấy!
Tôi không kiềm chế được nữa, la lên:
– Xấu hổ lắm, các bạn! Người đàn bà đó có trách nhiệm gì? Số phận đã định như vậy. Các bạn không sợ Chúa Trời sao?
Nhưng không ai trả lời.
Manolakas, anh họ kẻ bị chết đuối, uốn cong tấm thân lực lưỡng, ôm tử thi lên và đi về làng trước tất cả mọi người.



























































































