Bài thơ đầu đời của Nguyễn Xuân Hoàng


Viên Linh



I. Trong cuộc sống, đọc thơ văn sách báo của cổ nhân là điều tất phải có đối với kẻ từng có dịp ngồi trên ghế nhà trường; và chiêm nghiệm thanh sắc đương thời cũng là điều hẳn sẽ tới với kẻ biết nghe biết nhìn trong cuộc hành trình.









Bìa hai số tạp chí Hiện Ðại năm 1960, do Nguyên Sa chủ trương. (Hình: Viên Linh)


Chưa kể có kẻ đã kín đáo thổ lộ với bà tiên hiện ra trong giấc mộng ba điều ước của cuộc đời, mà không hề nghi ngờ rằng bà tiên đó đôi khi là một mụ phù thủy hóa trang, mụ sẽ nhân đó bày ra một lộ trình trắc trở cho kẻ mơ mộng. Không còn nhớ lúc niên thiếu kẻ viết bài này đã ước ao gì, nhưng cô bạn học trường làng – không phải là cô thôn nữ cùng quê, mà là dân Hà Nội tản cư về trú ngụ ở chùa Ðồng Văn – trong lúc nghe sáo diều vi vu vẳng lại từ con đê cuối thôn, đã vạch ngực áo tôi ra, đập nhẹ bàn tay trắng muốt lên ngực tôi, nói rằng, “Về thể chất, mình cũng xứng đôi lắm;” tôi đã ngây thơ hỏi lại: “thể chất” là gì?

Khi nàng đứng trên mặt bàn lớp học, ở trên ngọn đồi đình làng, nhún nhảy xòe chiếc váy hoa ra, hát và múa theo bài “One Day” của Johanne Strauss [qua lời Việt của Phạm Duy], và dạy tôi hát theo. Nàng nói, “Gia đình Xuân sẽ về Hà Nội. Sau này anh nhớ lên Hà Nội cho sớm. Em dạy mình hát, mình sẽ cùng nhau thành danh ca nức tiếng Hà thành.” Tôi cho là không cần, nên nói rằng, “Chỉ cần Xuân hát cho anh nghe là được rồi.” Nàng tiên ấy còn dạy tôi một điều thứ ba nữa, sau hai điều về thể chất và danh vọng, ấy là tiền tài. Nay nhớ lại, dường như lần nào nàng cũng lừ mắt lộ vẻ gì đó như chán nản, khiến sau này nghĩ đến, có lẽ vì thế mà đến ngày nàng theo gia đình “dinh tê” [rentrer] về thủ đô, vào khoảng năm 1949, nàng không thèm từ biệt tôi chăng? Nhưng không hẳn thế, vì nàng vẫn nhét vào túi quần soóc của tôi một chiếc khăn mùi soa thêu thùa trắng tinh, và một bánh xà phòng “Dove” mãi khi đi Mỹ tôi mới thấy lại, hẳn là có điều gì đầy hứa hẹn chứ? Chị tôi khi thấy hai kỷ vật “của cái con bé ranh Hà Nội tản cư,” đã cười rằng: “Ðó là quà của con ông Quan thuế bắt hàng lậu có khác, chứ ý tứ gì!” làm tôi tức lắm. Xuân đẹp và chân thành. Xuân không thể là người như chị tôi phán, hay như cái anh giáo sư triết học nọ sau này phán: “Người ta nói sắc đẹp vốn là bạn đồng hành của dối trá và phản bội.” (1) (1. Nguyễn Xuân Hoàng, Người Ði Trên Mây, Người Việt 1987, trang 27).


II. Năm 1959, trong một lúc sa xảy với nghề báo, tôi theo bạn lên dạy học tư ở Ban Mê Thuột. Rời Sài Gòn tạm một thời gian, sách vở đồ đạc nặng gửi lại nhà một đồng nghiệp, thình lình một hôm nhà giáo dạy cùng trường Bạch Ðằng đưa cho tôi xem tờ tạp chí Hiện Ðại. Trên cùng một trang báo có “bài Phượng Liên” của tôi đăng dưới bài “Mang Mang” của Hoang Vu. Tôi không gửi thơ cho Hiện Ðại, mà do người bạn nơi tôi để lại đồ đạc sách vở, đã lấy bài thơ tôi viết cho em Phượng Liên ở Huế, cũng là bạn chung, và là bạn thư từ với tôi, đưa cho nhà thơ Nguyên Sa. Như Võ Phiến nhớ đúng khi anh viết đã đọc thơ phiếm của Thần Ðăng (Ðinh Hùng) và thơ Viên Linh trên nhật báo Ngôn Luận (giai đoạn 1954, 55). (2) (2.Võ Phiến, văn học miền Nam, tổng quan, Văn Nghệ 1986, tr.180). Tới năm 1960 tôi đã có vài chục bài đăng trên các tạp chí Văn Nghệ, Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Gió Mới, nhưng Nguyên Sa viết như đây là những cây bút lần đầu xuất hiện, mặc dù anh có thòng một câu kiểu búa lớn: “Có phải nỗi buồn tập hợp trên mắt những người trẻ tuổi ấy phảng phất niềm đau của thế kỷ bây giờ?” (3) (3. Nguyên Sa, tạp chí Hiện Ðại số 2, 5.1960, tr.102. [Cảm ơn thi sĩ Thành Tôn đã cho mượn tờ Hiện Ðại.]

Hoang Vu chính là Nguyễn Xuân Hoàng. Và thơ Nguyễn Xuân Hoàng hay không thua gì văn Nguyễn Xuân Hoàng; tôi sao lục bài thơ ấy nguyên văn như sau, chỉ chú thích thêm tên của thi sĩ:


Mang Mang


từ xa phố chợ đến giờ
chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
hoang vu chín đến độ thèm
lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lên đường


mùa sương phố núi mù sương
nhịp buồn hút gió hồn nương sao rừng
chuyện linh hồn với bản thân
bàn tay thượng đế mộ phần chiêm bao


đồi thông xanh tóc nghẹn ngào
ngập ngừng lạnh xuống từ bao lâu rồi
còn tôi, còn chỉ mình tôi
mây bay đầu núi kéo trời lên xa


bàn tay thoáng nổi da gà
thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi


Hoang Vu (Nguyễn Xuân Hoàng)


Bài thơ không viết hoa ở đầu câu, không dấu chấm xuống dòng, từ ngữ hay thi ngữ, đậm đặc nét thơ của giai đoạn ’60: “linh hồn, thượng đế, luân hồi, bản thân, mây kéo trời lên xa và mộ phần chiêm bao, lạnh tàn nhẫn”. Tiếc thay cái tên Hoang Vu không xuất hiện nữa, vì nếu Nguyễn Xuân Hoàng còn làm thơ, bầu trời thi ca Việt Nam sẽ thêm một vì sao sáng.

Bài này cũng như bài Phượng Liên của tôi nằm cùng một trang báo, mà hai tác giả của hai bài thơ trước sau có chung những khó khăn tương tự, những rắc rối tan tác thì đúng hơn, đều rất bi thương. Nguyên Sa vơ vào hai tên trên cùng một trang báo, như sự tình cờ run rủi hai toa tàu xuôi ngược ráp tạm nơi một sân ga xép. Hoàng đậu tú tài xong, thi tuyển thành công vào Quốc Gia Hành Chánh, song bỏ. Ðang học y khoa – vì bà mẹ muốn con trai thành bác sĩ – thì nhận lời thách đố của bạn học Hà Thúc Nhơn, – viên bác sĩ quân y ở Nha Trang sau này chống tham nhũng bằng súng đạn và chết vì súng đạn – chơi trò nghịch ngợm lỗ mãng của con trai thời mới lớn, nên một mặt thắng cuộc thách đố, (Hà Thúc Nhơn thua, sẽ phải trả tiền đãi bạn học ăn phở cả tháng), song Hoàng phải rời y khoa vì trò dại dột. Cuối cùng anh đi học sư phạm, ra làm giáo sư triết, một nghề anh từng xác định: “Giáo dục không phải ngành thích hợp của tôi. Từ tiểu học, qua trung học, lên đại học, các ông thày bà cô nhìn tôi như một đối tượng để trút lên đó những bực dọc của cuộc đời khốn nạn của họ. Tôi là tấm bia để họ bắn vào đó những mũi tên mặc cảm.” (5) (5. Nguyễn Xuân Hoàng, Người Ði Trên Mây, tr.19).

Ðó là lời nói thật của Nguyễn Xuân Hoàng, kẻ đã cùng tôi “Ði thật xa với …” trên báo Văn.* (*. “Va plus loin avec…” Một mục của tờ L’Express Hoàng đã đề nghị với tôi, và chúng tôi đã đồng ý nói hết, nói thật, nói thẳng, trong bài “Ði thật xa với Viên Linh” của báo Văn chủ đề Thơ ở Việt Nam năm 1972, đã đăng lại trên báo Văn hải ngoại số 95-96, tháng 1-2, 2004).

Nhìn Hoàng tôi biết con người của bạn không phải con người của khuôn thước, vâng dạ, mòn sáo, lễ phép vì xã giao, … Người nghệ sĩ sáng tạo mà theo nghề dạy học thì khó thành công, dễ mang tiếng, vì cung cách nghệ sĩ là tự do…Tôi thật sự không nhìn thấy ở thi sĩ Hoang Vu, hay ở nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, một nhà giáo khuôn mẫu. Như tôi cũng thật sự không bao giờ nhìn thấy ở các bạn nhà giáo của tôi một phong cách duy nhiên tự do phóng khoáng cởi mở khôn ngoan phục thiện giản dị tinh tế như ở Nguyễn Xuân Hoàng. Thuở còn niên thiếu chắc hẳn Nguyễn Xuân Hoàng đã nói ra ba điều ước với một mụ phù thủy mà chàng ta ngỡ là nàng tiên, nên mụ liền thiết kế cho chàng một mê cung, một nẻo đường chông gai trắc trở, gài tác giả Người Ði Trên Mây vào đáy tầng địa đạo, Bụi và Rác, châm chọc Orphee đa tình và chất phác ngứa cổ quay lui, khiến cho Eurydice tân thời tếch nẻo Tây phương, làm cho người cha thương con đau đớn ngàn trùng (+). (+. Thần thoại Hy Lạp: Orpheus là một thi sĩ, con trai của Apollo và nữ thần Calliope, khi chàng hát thì không những ai cũng mê say, mà muông thú cũng phải lắng nghe và cỏ cây, thậm chí mấy hòn đá, cũng phải rung động. Vợ chàng là Eurydice, chết vì nọc rắn. Orpheus đau khổ xuống âm phủ tìm vợ, lấy cây đàn lyre (đàn dây của Hy Lạp) gẫy cho Thần chết Hades nghe. Dĩ nhiên, đến sắt cũng phải nhỏ lệ vì thơ nhạc Orpheus, nên y bằng lòng cho Eurydice theo chồng trở về dương thế, với một điều kiện: trên đường ra cửa ngục, cấm quay đầu nhìn lại. Hai vợ chồng được thả ra, Orpheus đi trước. Khi sắp bước qua ngưỡng cửa Dương thế, như mọi thi sĩ ở đời, Orpheus hoài nghi quay đầu nhìn lại, xem quả thật có vợ đi theo sau không? Eurydice liền hóa đá). Với Hoàng, Eurydice của chàng bay lên mây, trở về kinh thành hoa lệ.

Bài thơ “Mang Mang” của Hoang Vu mở đường văn chương cho họ Nguyễn năm 1960, thì “bài Phượng Liên” khiến trung niên thi sĩ Bùi Giáng lù lù hiện ra, ôm lấy tôi, ồn ào nói:

“Ông đừng làm thơ tự do nữa nhá, chỉ làm thơ lục bát thôi nhá! Lần đầu tiên thơ lục bát Việt Nam đem tên người yêu vào trong thơ một cách bề thế nghiêm trang số dách là ông đấy nhá.”** Từ đó mà tôi có thêm một người bạn thơ, và không chỉ có một hành lang vây sầu, mà hành lang nào cũng vây sầu cả. Sau này một cô gái Huế cười như nắc nẻ, cho tôi biết Phượng Liên là ai dù thế nào, nàng cũng đã ở Chín Suối rồi.


** Bài Phượng Liên kết bằng hai câu:


Thôi còn giấc ngủ canh thâu
Một hành lang rộng vây sầu Phượng Liên.


(Viên Linh: Trích đoạn Hồi Ký)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT