Viên Linh
Thời nước ta có quốc tính là An Nam, ngành xuất bản và báo chí văn học chưa có nhiều lắm, nhà văn ta đã bị so sánh khá thấp kém: “Nhà văn An Nam khổ như chó”.
Bây giờ thời thế thật là khó
Nhà văn An Nam khổ như chó
Mỗi lần cầm bút viết văn chương
Nhìn đàn chó đói gậm trơ xương
Rồi nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết
Mà thương cho tôi thương cho anh
Ðã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh
(Nguyễn Vỹ, gửi Trương Tửu)

Tranh Chóe, một người tự họa theo chân dung của mình, với thế ngồi của người bạn thiết. (Hình: Tài liệu của Viên Linh)
Cũng may đó là thời Tiền Chiến, những năm ’30 ở Hà Nội, khi nhà văn nhà thơ còn là những vương tôn công tử. Cũng ở thành phố ấy, hơn hai mươi năm sau, khi quốc tính An Nam không còn, biết bao người chỉ mong được là chó? Hãy đọc hồi ký Ghi của Trần Dần viết về thời Nhân Văn Giai Phẩm, sẽ thấy. Con chó thời ’50, như Nguyễn Tuân viết, còn phải biết sợ mới sống sót nổi. Song nếu Nguyễn Vỹ còn sống ở Hà Nội lúc đó, có thể ông sẽ không so sánh nhà văn với chó nữa. Vì con chó lúc nào cũng có một đức tính mà nhiều nhà văn “thời độc tài” không có: Sự trung thành. (Ðộc tài có 2 nghĩa: Chính trị là số một, và tiền tài cũng là số 1.) Loài chó vẫn được coi là loài vật trở thành gia súc đầu tiên sống chung một mái nhà với con người. Thuở tiểu học, nhi đồng Việt Nam phải học thuộc lòng những bài trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, đến nay còn nhớ. Khi muốn giết nó, người ta hô hoán lên nó là chó dại. Ðó là bài thứ 20: Người đi đường với con chó dại. Chó cắn người thì chó bị giết, ở đâu cũng thế; chuyện này đã được thi sĩ Oliver Goldsmith kể trong Elegy on the Death of a mad dog, Bi ca về cái chết của một con chó dại.
Các nhà khoa học tin rằng thời kỳ con chó trở thành bạn thiết của con người xảy ra cách đây khoảng 14,000 năm, tuy rằng cuộc khai quật khoa học nơi một ngôi mộ ở Israel chỉ cho thấy chó và người đã ở chung với nhau chỉ khoảng 12,000 năm. Người ta không rõ lý do vì sao, song theo nhà sinh vật học Raymond Coppinger thì phần lớn là do khả năng loài chó có thể cùng ăn với con người, hay bên cạnh con người. Ðó cũng là lý do răng chó sói -tổ tiên loài chó- to khỏe hơn răng chó nhà, vì chó sói vẫn tiếp tục phải săn thú hoang mà ăn, trong khi chó nhà sống bên con người, ăn những gì con người bỏ lại, hàm răng dần dần nhỏ đi. Vì con người ít khi cho người bạn thiết của mình những miếng ăn nguyên vẹn, mà chỉ là thịt thừa, gân dai, và miếng khó nuốt. Lão Tử (580-500 trước Tây lịch) cũng nói đến chó, mà là chó rơm. Ông nói đến chó không vì con chó, về con chó, mà là về con người. Ông hẳn đã biết câu phương châm: “Hãy cho tôi biết anh chơi với ai, tôi sẽ cho anh biết anh là ai”. “Trời đất không nhân từ, coi vạn vật như chó rơm.
Thánh nhân không nhân từ, coi trăm họ như chó rơm.” Chỉ mới hôm thứ tư 7 tháng 12 năm 2005, các nhà khoa học mới hoàn tất một bản đồ di truyền thể của loài chó, mục đích là tìm xem những liên hệ về bệnh tật giữa chó và người, cùng khám phá sự thân thiết giữa hai loài, loài người và loài bạn tốt nhất của con người. Tin này được tường thuật rộng rãi trên báo chí và bài viết khoa học đăng trên tờ Nature cùng tháng. Trong suốt hai năm, hơn mười nhà sưu tầm đã phân tích 19,300 đơn vị di truyền của Tasha, một con chó cái 12 tuổi, được chọn trong số 120 con chó được khảo sát, vì sự biến đổi genes ở Tasha ít nhất so với những con kia. Họ đã tìm ra sự tương quan khác thường giữa loài chó và loài người, Canis familiaris và Homo sapiens. “Loài người và loài chó trên bản chất có cùng những loại di truyền thể, genes.” Ðó là lời phát biểu của tác giả Kerstin Lindblad-Toh, đồng giám đốc chương trình phân tích thuộc Broad Institute, đại học MIT và đại học Harvard. “Mọi di truyền thể của loài này có cùng chức vụ trong di truyền thể của loại kia.” Ðiều này giải thích tại sao loài chó và loài người có cùng những thứ bệnh như ung thư, bệnh tim, bệnh mù lòa, phong hủi và tiểu đường. Tám căn bệnh quan trọng của con người được tìm thấy trong số mười căn bệnh thông thường của loài chó. Tức là nếu con người có tính hạnh “nhân cách” nào đó, con chó cũng có tính hạnh “khuyển cách” nào đó khá tương ứng. Không phải ai cũng giống ai. Và chưa chắc ai hơn ai. Nhà thơ Nguyên Sa tả con chó ốm là để tả một người yêu đang đau: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm.”
Con chó, trong các truyện có tính cách tâm linh, thường liên hệ tới người chết, cõi âm. Chó Ngao ở hỏa ngục, Thần Anubis đầu chó của Ai Cập, con chó, kẻ hướng dẫn thần chết, ở các đoạn 18, 22 của Kinh Coran.
Thần thoại thế giới và Việt Nam đầy rẫy các chuyện liên quan đến loài chó. Nghệ thuật Maya, một vương quốc đã biến mất một cách bí mật, còn để lại những điêu khắc, phù điêu (đắp nổi) hay tượng đá có diện mạo hình dáng chó. Thường là kẻ dẫn dắt linh hồn người chết về thế giới bên kia. Những con chó trong Kinh Coran (Qur’ân) có thể là những âm binh tương tự những âm binh của thần Anubis của Ai Cập. Nói thế vì Anubis có tên gọi còn trong đoạn kinh sau đây, những con chó hiện diện một cách bí mật. Người Mễ cũng có những con chó như thế. Nhiều ngôi mộ khi đào lên có hai bộ xương, bộ thứ hai là xương chó.
Kinh sách Phật Giáo có nói về chó không? Xin thưa là có. Ðó là câu thơ nói về sự biến đổi của mây trời, bụi đất, và lò luyện người, cụm mây trắng biến thành chó xanh (bạch vân thương cẩu):
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.
(Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều, Cung Oán Ngâm Khúc).
Như thế rõ ràng tả con chó cũng như tả con người, và ngược lại. Bài này được viết ra nhân lúc nhà văn quận Cam thấy mình không khổ như chó thuở nào, ngược lại là sướng như chó:
Bây giờ thời thế thật là khó
Nhà văn quận Cam sướng như chó
Mà vui cho anh vui cho tôi
Ðã viết tới rồi lại viết lui…
Tài liệu:
-Quốc Văn Giáo Khoa Thư, lớp sơ đẳng, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc, Ðỗ Thận soạn, nha Học chính Ðông Pháp xb, Hà Nội, 1935.
-Adventures in English Literature, J.B.Priestley và Josephine Spearr, tr. 340.
-Nguyễn Vỹ, Gửi Trương Tửu, thơ, Thơ Mới 1932- 1945, Hội nhà văn, HN, 2001.
-Trần Dần, Ghi, hồi ký.
-Karen E. Lange, Evolution of Dog, Wolf to Woof, National Geographic, Jan.2002.
-Karen Kaplan, Genetic Map of Dog may help Humans, Los Angeles Times, Dec. 8.2005.
-Kinh Qur’ân (Ý nghĩa nội dung), Hassan Abdul Karim dịch ra Việt ngữ.



























































































