Bụi và Rác (Kỳ 14)


Kỳ 14



Tôi đi chậm rãi dọc theo hành lang, trở lại phòng giáo sư. Tôi ngồi xuống chiếc ghế sát bên cửa hông. Ðám đất nhỏ vừa được mấy thầy cô giáo xới lên trồng rau. Một chuồng heo vừa mới được rào giậu. Những cái đó thật xa lạ với ngôi trường mà tôi đã từng có mặt hơn mười lăm năm nay, từ một đứa “học trò nhưng không sách cầm tay” ngồi ở dưới bàn học kia, đến lúc đứng trên bục gỗ này nhìn lại tuổi trẻ của mình.


Hai câu đối trước cổng trường, cây phượng trong sân che mát trạm của người gác dan, nơi có chú Phẩm hiền lành cục mịch như một củ khoai mở cửa cho chúng tôi mỗi sáng. Phòng y tế nơi có bác Thử làm việc người gầy nhom gầy nhách, nhưng lúc nào cũng tươi cười chăm lo sức khỏe cho cả trường. Thầy Ái dạy Pháp văn ăn nói lưu loát hoạt bát, ông Tổng giám thị Chương ưa nói chuyện thời sự, và còn bao nhiêu kỷ niệm đang quanh quẩn ở góc sân, ở vòm cây, ở mái ngói, ở đợt nắng sắp vào hè, ở cơn mưa dầm, ở khói lựu đạn cay tỏa đầy sân trường khi các em xuống đường.


Không, có thể tôi không phải là một người dạy học hội đủ những điều kiện của một người thầy tốt theo quan niệm Khổng Tử, nhưng tôi chắc chắn là lòng tôi tràn đầy niềm yêu mến công việc của tôi. Tôi hiểu tôi phải làm gì khi đứng trên bục gỗ. Tôi biết tôi cung cấp điều gì cho học sinh của tôi: những kiến thức tối thiểu cho việc thi cử và những bất đồng giữa trang sách và đời sống. Tôi yêu các bạn đồng nghiệp của tôi, các em học sinh mà tôi chỉ gặp mỗi năm một lần rồi đi qua ngưỡng cửa vào đại học, rất ít khi ngoái đầu lại. Chắc chắn các em đã mang theo trong lòng những điều đồng ý và bất đồng ý với tôi qua những gì tôi trình bày. Nhưng điều đó có hề gì. Ðiều mà lòng tôi muốn gửi đến các em là con người và những giới hạn của nó: sự đau khổ, nghèo đói, dốt nát, bệnh tật và nhất là cái chết. Tôi muốn các em chia sẻ cùng tôi bài học làm người. Bài học ấy chúng tôi cùng học, không ai dạy ai.


Nhưng mà tôi vui, vì tôi biết rằng từ nay tôi sẽ không còn phải đứng trên bục gỗ nói những điều hoàn toàn trái nghịch với những gì tôi đã từng nói trước đây cũng trên cái bục gỗ ấy. Tôi sẽ không còn phải đêm đêm chong đèn biên chép cái gọi là “giáo án” để sáng mai vào lớp đọc từng chữ như một học sinh không thuộc bài. Tôi sẽ không còn phải,… không còn phải,… không còn phải…


Ở lớp ra, tôi không về thẳng nhà như mọi khi. Danh biết tôi được nghỉ việc, hẹn tôi ra quán cà phê, uống mừng một ly. Quán cà phê vỉa hè lúc sau này, mọc khắp đường phố Saigon. Ở đường Trần Quý Cáp trước trường Tư thục Tân Văn, Danh hỏi tôi:


“Này, ông định làm gì?”


“Tôi chưa biết làm gì bây giờ. Có lẽ tôi sẽ về quê. Tôi muốn nhân dịp này thăm ông anh hiện bị bệnh nặng.”


“Tôi thì không về quê. Gia đình tôi không còn ai ở dưới. Tất cả bây giờ đều tập trung ở nhà tôi. Tôi đã liên lạc được với tòa Ðại Sứ Tây Ðức. Tôi đang hy vọng sẽ được đưa cả gia đình đi Ðức. Tôi tin tưởng và chờ đợi.”


“Thật tình là tôi chưa biết mình sẽ làm gì. Về quê thì được, nhưng sống bằng cách nào? Từ trước tới giờ tôi có nghề ngỗng gì đâu ngoài cái nghề đứng trên bục gỗ! Ông có khuyên tôi được gì không?”


“Tôi không dám khuyên ông điều gì đâu. Nhưng tôi nghĩ, sống ít lâu ở vùng biển cũng là điều hay. Ðó là nơi dưỡng sức lý tưởng.”

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Tuyển Tập 100 Năm Thơ Việt

Bài Thề Non Nước in trong truyện ngắn cùng nhan đề vào năm 1922, tới nay vẫn là một bài thơ giữ nguyên ý nghĩa và giá trị, và tác giả của nó vẫn là một thi bá trong làng thơ

Nguyễn Sỹ Tế, thơ, phao cứu sinh của người tù cải tạo?

Đa số thành viên nòng cốt nhóm Sáng Tạo, căn bản vốn là nhà văn, họa sĩ hay lý luận văn học như Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp,... không phải là nhà thơ...

Những người xa khuất dịp Xuân sang

Những người vĩnh biệt dương gian vào Tháng Hai Dương Lịch là những người ra đi vào dịp nhân gian đang bận rộn mừng Xuân đón Tết.

Hà Nội, những mùa Xuân phai

Tôi chưa hề nghe ai nói “yêu muốn khóc” bao giờ, chỉ độc nhất có một người làm thơ là Hoàng Anh Tuấn. Yêu đến như thế là... yêu quá là yêu.

Những cánh hoa cuối năm

Vào những ngày cuối tháng của năm, tôi có dịp lên thành phố Saigon, không khí sinh hoạt trông nhộn nhịp hẳn lên, bao hình ảnh xem như đã chuẩn bị trước từ nhiều tháng qua, những sắc màu,những...

Em có hay xuân về! – Thơ Mặc Phương Tử

Em có hay!/ Những chiếc lá thức tàn canh/ Cây chuyển mạch,/ Dòng đời thay sắc áo/ Hoa đương nụ dưới ngàn sương huyền ảo/ Cánh chim về chở trĩu ước mơ xanh.

Sương chiều ngồi nhớ bằng hữu – Thơ Trần Tuấn Kiệt

Sương lạnh chiều vây phủ/ Ngồi rồi nhớ cố nhân/ Độc ấm trà ra khói/ Thời gian quyện lững lờ.

Sắc màu tình yêu – Thơ Lê Minh Hiền

mùa đông lá đỏ/ mùa hạ lá vàng/ xuân hồng thấp thoáng/ thu nay mắt huyền

Dấu vết dòng sông – Thơ Phan Nam

Những con sông rời xa bến đợi/ Nặng trĩu nỗi niềm cỏ hoa/ Mùa chạp bay trong nhang khói/ Tháng giêng lặng lẽ đưa thoi.

Mùa Xuân đến – Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

Ban mai đến/ Ngày đưa tôi đến/ Lời hôm qua mối đùn/ Lời hôm qua xanh cỏ/ Mớ ý nghĩ nháo nhào tiếng sấm