Cách nói của Mười Tân cho người nghe hiểu rằng tất cả cái gì thuộc chế độ cũ đều xấu xa và đáng phải bị tiêu diệt, đặc biệt là nền văn học nghệ thuật miền Nam. Mười Tân là người ưa dùng thứ ngôn ngữ thậm xưng và cường điệu trong khi nói nhằm khích động người nghe theo cách mà ông ta muốn.
Tôi còn nhớ tháng trước tình cờ gặp nhạc sĩ Nguyễn Giang ở một quán cà phê vỉa hè nhà bà Luật Sư Ðại, Giang vô tình nhắc đến tên Mười Tân khi anh hỏi tôi có bao giờ nghe những ca khúc mới của anh không.
Giang nói mặc dù âm nhạc của anh luôn luôn được quần chúng ưa thích, nhưng Mười Tân đã có lúc cho người gọi anh đến và nói rằng âm nhạc của anh chẳng qua là thứ “nhân đạo chủ nghĩa.” Ðó là một loại hình văn học “kết án chiến tranh mà không cần phân biệt loại chiến tranh nào, kết án bạo lực mà không cần hiểu xuất xứ, tính chất mục đích của mỗi thứ bạo lực.”
“Âm nhạc của anh,” Mười Tân nói: “có chứa đựng những lời than thở phản chiến nhưng nó cũng làm đảo lộn mọi thứ, nó lẫn lộn trắng đen, trung và nịnh, yêu nước và cướp nước. Coi chừng âm nhạc của anh cũng là một hình thức tiếp tay với bọn phản loạn.” Nguyễn Giang rùng mình khi nhắc lại chuyện trên. Lúc đó tôi nhìn thấy hai bàn tay Giang run giật lên như người mắc kinh phong. “Ông ta làm cho mình có cảm tưởng chỗ nào cũng tội lỗi, cái gì cũng tội ác. Cõi tạm. Mình phải xem đời sống này chỉ là cõi tạm, trăm năm chẳng qua cũng chỉ là kẻ ở trọ của ngàn năm thôi.”
Con chim ở đậu cành tre,
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
……..
Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời
……..
hoặc
Em đi qua chuyến đò
Thấy con trăng đang nằm ngủ
Con sông là quán trọ
Và vầng trăng tên lãng du.
……
Ừ thì cũng chỉ là trọ thôi. Có lúc Giang thở ra, “Tôi như đứa trẻ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài…. Ðừng tin tôi nhé, vì tiếng cười.” Ðó là những lúc tôi thấy khuôn mặt Giang vốn nhỏ và nhô xương, hai con mắt sâu núp dưới đôi kính trắng, tối sầm lại. “Dường như quanh đây có điều gì tuyệt vọng.” Giang nói lửng lơ. Tôi hiểu bạn.
“Thầy Thăng!” Tiếng gọi tên tôi làm tôi giật mình.
“Thầy có sao không?” Nhị Hà hỏi tiếp.
“Không. Không có gì!”
“Em muốn hỏi sao thầy không ghi có liên hệ gia đình với đồng chí Mười Tân?”
Tôi nhìn thẳng vào mặt Nhị Hà. Tôi không trả lời.
“Thầy tốn bao nhiêu vàng trong chuyến vượt biên này?”
“Không tốn một xu.”
“Thầy là người tổ chức hay sao?”
“Không.”
“Thế thì ai là người tổ chức. Thầy ghi vào đây, chỗ này.”
Nhị Hà đặt tờ giấy xuống mặt bàn, để thuận chiều về phía tôi.
“Ðó là cách duy nhất để thầy sớm được khoan hồng.”
“Tôi không biết.”
“Tại sao?” Phải có người tổ chức vượt biên thì mới vượt biên được chứ!”
“Tôi không vượt biên. Chuyến đi Rạch Sỏi này là đi công tác đào giếng ở công trường An Biên.” Tôi nhắc lại những lời của ông Công dặn.
Nhị Hà không nói thêm. Cô lật lật mấy tờ giấy, trong đó có cái thẻ công nhân viên của tôi do ông Công cấp.
“Thầy không biết cái ‘Tổ Hợp Kiến Tạo’ của ông Công này là một tổ hợp ma chuyên bán giấy đi đường cho người vượt biên sao?”
“Không.” Tôi vẫn nhìn vào mặt Nhị Hà.
“Tại sao cô không đi chuyến này với thầy?”
“Tôi không đi vượt biên. Nhà tôi vẫn còn buôn bán làm ăn ở Sài Gòn .”
“Nhưng hồ sơ công an xã ghi thầy đi với một nhóm người Hoa, bị bắt vừa lúc xuống ghe mà.”
“Không. Tôi không hề đi với nhóm người Hoa nào. Tôi đi một mình.”
Nhị Hà cầm tờ khai trước mặt tôi:
“Thầy không gặp Kiệt sao?” Giọng cô nhỏ nhẹ, nhưng giống như cái búa đập lên đầu tôi, làm tôi ngã lăn
ra.
Tôi quên khuấy chuyến đi có Kiệt, quên khuấy Kiệt là bạn học của Nhị Hà, dù chỉ là bạn học của một tháng.
“Kiệt đâu rồi?” Cả tuần nay tôi không thấy cậu ấy đâu cả!”
“Kiệt đã được đưa xuống Kinh Làng Thứ Bảy lao động cải tạo trong tuần lễ thầy bị biệt giam.”



























































































