Nguyễn Xuân Hoàng
Tôi bị mất tự do, nhưng tôi không phải là người cô đơn. Những chấn song sắt kia, cái căn phòng giam hôi hám này, những bữa ăn nghèo nàn thiếu thốn trăm thứ… không đè ép nổi tôi. Những người bạn tù sống khốn khổ gấp trăm lần tôi, dạy tôi bài học kiên nhẫn. Và trái tim tôi luôn luôn ấm áp vì bạn tù và vì hình ảnh Quỳnh lúc nào cũng nồng nàn trong trí nhớ tôi.
Quỳnh không phải chỉ là cái phao của đời tôi. Quỳnh còn là cái mẫu ánh sáng duy nhất trong đêm tối của hồn phách tôi. Tôi ngã xuống đời Quỳnh. Cái lạnh lẽo của tôi tan trong khí hậu nhiệt đới của Quỳnh.
Chính là nhờ Quỳnh, tôi khám phá ra tôi, nhận ra sự yếu đuối và cả sức mạnh của mình… Nhưng mà bây giờ đây, nằm trong căn phòng của ông bà Ngô, tôi có cái cảm giác của một người bị té sông, tay chân quờ quạng, đập đạp lia lịa vào một thứ chất lỏng không có chi bám víu. Và nước cứ tha hồ chui vào mắt, vào mũi, vào miệng tôi, đẩy tôi xuống, xuống mãi. Tôi đã mất tấm ván, cái phao để bám lấy. Cũng không còn cái ánh sáng trong đêm để tôi trông theo mà sống, mà đi. Tôi run rẩy. Tôi lo sợ hãi hùng. Cái cảm giác lạnh lẽo chạy lan khắp cơ thể tôi, kéo tôi ra khỏi trạng thái mê man thần trí. Và tôi nghe tiếng tôi hét to. Tôi không rõ là mình la cái gì.
Cửa phòng mở. Ông bà Ngô chạy vào. Ánh sáng của ngọn đèn bỗng vụt chói mắt.
“Cậu Thăng! Cậu Thăng!”
Bà Ngô ngồi xuống mép giường nắm tay tôi.
Ông Ngô đứng ngay giữa cửa.
“Cậu làm sao vậy?”
“Thưa bác, không có gì!” Tôi để yên tay tôi trong tay bà Ngô.
“Cậu thấy trong người ra sao? Có đỡ không?”
“Thưa bác, tôi khỏe. Tôi muốn hỏi thăm bác, nhà tôi…”
“Cô Quỳnh, tôi biết. Mà cậu đã khỏe chưa?”
Bà Ngô đặt tay lên trán tôi.
Bàn tay bà ấm. Dưới gọng kính lão, đôi mắt bà hiền từ.
“Anh Tư, anh lấy dùm em lá thơ của cô Quỳnh.”
Bà nói với ông Ngô giọng ngọt ngào như hai người trẻ tuổi yêu nhau.
“Cô Quỳnh có để lại cho cậu một cái thơ, nói chừng nào cậu về đưa dùm. Cổ đưa nhưng mà cổ nói thêm
không chắc gì cậu trở lại đâu. Cổ nói cậu đã tới đảo gì gì ở Mã Lai rồi. Suốt mấy tuần nay, cổ ẵm con sang đây khóc lóc, nói với tôi là cậu tệ bạc quá, sao ra đi mà không nói với mẹ con cổ một lời…”
Những điều bà Ngô nói làm tôi sửng sốt. Tin đồn ở đâu mà kỳ quái. Nhị Hà, Sáu Phận, rồi Mười Tân… ai cũng hé cho tôi biết là đã gặp Quỳnh, đã cho cô biết rằng tôi đang ngồi tù. Ai cũng cho tôi cái cảm tưởng là tôi được Quỳnh đứng ra chạy chọt lo lắng. Vậy nghĩa là sao?
“Cô Quỳnh nói cậu đã bỏ hai mẹ con cổ. Ở tù Rạch Giá có một tuần là cậu được thả rồi, cậu ra bến xe tình cờ gặp một cô gì ở Sài Gòn xuống, hai người quen nhau từ hồi nào, bây giờ gặp nhau, cô ta rủ cậu, cho cậu một chỗ trên ghe, rồi đi luôn.”
“Trời ơi!”
Tôi xoay người lại, bước xuống giường. Tôi thọc tay vào túi quần. Tôi đi qua đi lại. Tôi nhìn bà Ngô, rồi nhìn xuống bàn chân không giày dép của tôi. Tôi gãi tóc, gãi đầu. Tôi cắn ngón tay trỏ. Tôi đan hai bàn tay vào nhau. Tôi vòng tay trước ngực. Tôi nghe lạnh run, lạnh từ trong xương tủy lạnh ra.
“Trời ơi! Sao đến cớ sự này?”
“Mà bác Tư ơi, mẹ con nó đi đâu?”
“Cổ nói cổ cũng vượt biên, cổ đi tìm cậu, cổ hỏi cho ra lẽ, tại sao cậu đi mà không nói với mẹ con cổ một tiếng. Cổ nói cổ tin cậu, nhưn cổ không ngờ…”
“Mà hai mẹ con Quỳnh đi hồi nào Bác Tư?”
“Mới hồi sáng này chớ mấy! Ði ngõ Phan Thiết. Cổ đã đình lại ba lần rồi. Lần này cổ đi thiệt. Cổ nói chắc là cậu cũng đã đi thiệt rồi, nếu cậu chưa đi thì hoặc là cậu còn ở tù, hoặc là cậu phải về nhà. Mà tù thì nói không có tên cậu. Vậy chắc là cậu đã đi.”
“Bác Tư à, bác có thể nào cho tôi mượn đỡ ít tiền.”
“Chi vậy? Bộ tính đi Phan Thiết tìm mẹ con nó hả?”
“Dạ phải. Tôi muốn đi tìm mẹ con nó. Tôi lo quá!”
“Mỹ Trân!”
Ông Ngô gọi bà Tư.
“Cái thơ của cô Quỳnh em để đâu anh tìm không ra.”
“Ở dưới tượng Phật Bà chớ đâu. Mà thôi, anh để em lấy cho.”
Bà Ngô đứng dậy trở ra phòng khách.



























































































