Ðất Trời (Kỳ 116)

Kỳ 116

Nam Dao

Cho đến quí thứ hai năm Ðinh Tị (1437) Thiệu Bình năm thứ tư, vị vua chưa được mười lăm tuổi muốn chứng tỏ mình là anh quân đã làm được những việc không phải nhỏ.

Trước hết là sách Nội pháp Ngoại nho. Quan lại sai nha phải tuân thủ phép nước, nếu sai trái, kiếm chác hay nhiễu nhũng là tịch thu tài sản đuổi về dân gian. Mặt hình pháp, xử chém chỉ có vài vụ. Vụ đầu, Khê người Bồ Châu Hóa bị vợ là Nguyễn Thị Ðồn và con nuôi là Nguyễn Lang tư thông với nhau rồi giết. Vụ thứ hai, Nguyễn Thị Ngọc ở lộ Quốc Oai đã tám con với chồng. Chồng bị hủi, Ngọc không nuôi nấng, trộm tài sản, tư thông với Khố Giám Nguyễn Chiểu. Vụ thứ ba, là vụ đào sâu vết nứt rạn giữa đám tháp bút và bọn giá gươm. Bảy tên cướp còn ít tuổi bị bắt, lại tái phạm, hình quan chiếu luật xin xử trảm. Nguyên Long ngần ngừ, hỏi Hành Khiển Nguyễn Trãi. Trãi tâu:

– Pháp luật không bằng nhân nghĩa. Nay một lúc giết bảy người e không phải là hành vi của bậc đại đức. Kinh Thư có câu “An như chỉ.” “Chỉ” có nghĩa là yên với chỗ đứng của mình. Hoàng cung là nơi của bệ hạ. Làm vua, đối với nhân nghĩa, thì coi nhân nghĩa như chỗ đứng. Tuy có lúc phải ra oai, nhưng không thể mãi được…

Không thấy Long phản ứng, Ðại Tư Ðồ Lê Sát chen vào, nói mát:

– Ông có nhân nghĩa, cảm hóa kẻ ác thành thiện thì giao chúng cho ông, phiền ông cảm hóa cho…

Trãi biết thế của mình, cúi đầu thưa:

– Chúng trẻ con ranh mãnh ương ngạch, đến pháp chế chúng còn chẳng sợ. Tôi đức mỏng, cảm hóa thế nào được…

Lúc ấy, Nguyên Long mới phẩy tay ngắt lời Trãi, ra lệnh chém hai, còn lại xử đi đày.

Về mặt đối ngoại, nước Chiêm Thành, Lão Qua, La La Tư đều sang cống. Dụng võ, chỉ bắt buộc vây đánh Cầm Quí ở Châu Ngọc Ma, phía Tây Nghệ An giáp giới với Lão Qua, bắt đóng cũi đưa về Kinh. Ðối với nhà Minh, nay đã có sắc phong cho Nguyên Long là An Nam quốc vương, tiếp tục lệ xưa của Trung Quốc với hai triều Lý-Trần thuở trước. Về việc học, đã khắc xong sách Tứ thư Ðại toàn từ năm Bính Thìn. Việc đào tạo giám sinh ở Quốc Tử Giám vẫn tiếp tục. Trong triều, nay đã định chế triều phục, bắt trăm quan xưng hô nghiêm chỉnh, phép tắc, cấm dân không được tôn gọi quan lại là “quân gia” và xưng “thần.” Nguyên Long truy tôn mẹ là Cung từ Quốc mẫu, rước tượng làm bằng vàng về đặt cạnh tượng Thái Tổ trong Thái Miếu rồi mời sư trụ trì Báo Thiên vào làm lễ điểm nhãn. Cùng lúc, Long sai đúc sáu chiếc ấn, tế cáo với trời đất, rồi ban chiếu yên dân khắp nơi.

Lễ điểm nhãn là dịp Trãi hàn huyên với Ðạo Khiêm. Khi mọi việc xong xuôi, Khiêm mời Trãi vào phương trượng, giọng vui vẻ:

– Này, đến lúc chia tay rồi đấy! Thoáng chốc, cái duyên của thí chủ và ta đã xấp xỉ ba mươi năm ròng…

Nhìn nét mặt hồng hào của Khiêm, Trãi ngạc nhiên, chắp tay:

– Xem sắc diện, Trãi nghĩ cao tăng phải thêm ít là chục năm nữa!

Khiêm lại cười:

– Huyền cơ, ai rõ? Chỉ xin quan hành khiển một điều. Kẻ thay bần tăng trụ trì là Huệ Hồng, ngài để ý châm chước cho, giúp hoằng hóa Phật pháp.

Trãi cúi đầu nhận lời. Mấy ngày sau Trãi nhận tin báo Ðạo Khiêm đã qui cửa Phật. Vào xin, Nguyên Long thuận lời Trãi, cho làm lễ quốc táng, chỉ định Huệ Hồng làm sa môn trụ trì chùa Báo Thiên và ban cho áo tía thuộc hàng quan ngũ phẩm. Lần đó, Long lại hỏi lại:

– Thầy có thấy nước ta đã ai là anh quân chưa?

Lần này, Trãi đã sắp sẵn câu trả lời:

– Muôn tâu bệ hạ, Hồ Quí Ly là bậc thế thượng anh hùng. Tiếc một điều là khi lên ngôi lòng trời chưa thuận, tuổi lại quá cao!

Ngước mắt nhìn Trãi, Long định nói nhưng lại mím môi dằn lòng kìm lại. Lát sau, Long bảo:

– Thầy tìm cho trẫm huấn mệnh di từ của Hồ Quí Ly. Ðể trẫm đọc, rồi sẽ hỏi lại thầy xem trẫm hiểu được đến đâu.

Trãi cúi đầu nhận mệnh. Khi Trãi lùi ra đến cửa, Long gọi giật lại, giọng có chút buồn bã:

– Phu nhân vẫn khỏe chứ?

Không đợi Trãi đáp, Long tiếp:

-…Hạ chỉ khiến phu nhân vào cho ta hỏi chuyện chiều ngày rằm, vào giờ Thân, nghe chưa!

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT