Kỳ 122
Nam Dao
Nguyên Long lúc ấy giận sôi lên. Mất bình tĩnh, Long cướp lời:
– Cái gì mà thầy gọi là phần hồn?
– Trước ngày về tụ nghĩa Lam Sơn, thần ở trại chè cuối sông Mã. Ở đấy, thần cảm nhận được phần hồn qua những bài hát dân gian, thần hiểu ra cái tình người, biết được óc thực dụng, sự dẻo dai, lòng kiên quyết, tính uyển chuyển của dân gian nước ta.
Khẽ cười, Trãi hắng giọng:
– Ðấy, đó là cái phần hồn và là động cơ vận động cho sự sống. Sự sống này bao trùm lên kinh nghĩa, triết học, tư tưởng qua một diễn trình gạn lọc tự do. Phần hồn một dân tộc nằm trong cách làm người, hành động ứng xử, và quan hệ với nhau. Nhạc chính là phương tiện chuyên chở cái phần hồn đó, tạo ra cái tình, vượt lên trên lý, ràng buộc con người qua sự tương thân tương ái giữa người với người, tạo chất keo gắn bó thành một dân tộc. Nó trở nên rõ rệt khi dân tộc này ma sát với một dân tộc khác. Sự ma sát này, ở lớp sâu nhất, là ma sát văn hóa. Từ đó dẫn đến phủ định chính mình là mất văn hóa. Và sự ma sát kia giản lược thành cách tiếp thu thô thiển toàn là bắt chước rập khuôn, thì hai mươi năm chống ngoại xâm vừa qua hóa ra vô nghĩa!
Nghẹn giọng, Trãi nuốt nước bọt, nói như nói một mình:
– Thế là thắng mà hóa ra thua, bởi thắng rồi mà không còn biết mình là ai, là gì. Ðó là sự bại vong văn hóa. Và là sự bại vong thảm thiết nhất cho một dân tộc!
Nghe Trãi nói, cơn giận của Nguyên Long bất ngờ lắng xuống. Hai người cùng im lặng. Một lúc lâu sau, Long thẫn thờ lên tiếng:
– Chắc thầy trách trẫm còn nhiều!
Trãi thở dài, hỏi lại:
– Sách do Hồ Quí Ly trước tác thần đã dâng, bệ hạ có đọc qua chưa?
Nguyên Long gật đầu.
– Bệ hạ hỏi, thần xin đáp!
Nguyên Long trầm giọng:
– Hồ Quí Ly biết, với người phương Bắc, ta hòa nhưng không đồng. Muốn hòa, phải tương đương. Nhưng thầy nghĩ xem: họ đông gấp mười lần ta, lại có một nền văn hóa rực rỡ. Thế thì làm sao tương đương được?
– Muốn hòa, nhưng không đồng tất phải khác, nghĩa là giữ được sự dị biệt của mình. Ðiều đó, thể hiện qua ngôn ngữ, văn từ, kiến trúc, âm nhạc. Bệ hạ cứ xem, nước Kim có chữ riêng, nên dẫu có thờ Chu Công, Khổng Tử là thánh nhân Trung Quốc, cũng vẫn là nước Kim. Người Thát Ðát vào chiếm Trung Nguyên lấy chữ Hán làm chữ của mình, chỉ nửa thế kỷ sau thì đâm thành người Hán cả. Vì thế, Quí Ly hiểu chí các vị văn thần triều Trần như Chu Văn An, như Trương Hán Siêu, Lê Văn Quát… thúc đẩy việc sử dụng chữ Nôm, chính mình trước tác để người ta theo. Giữ lấy ngôn ngữ, là cách bảo vệ sự dị biệt.
Không đồng, nhưng phải hòa. Hòa ắt cần tương đương. Trung Quốc đông hơn ta mười lần, vấn đề của họ là khó mà đồng nhất. Vì thế, họ tạo ra một chính quyền tập trung cao độ. Thời Lý-Trần, nước ta lại tản quyền, thường là các vị tôn thất cai trị từng vùng với chế độ điền trang và nô tỳ. Cuối đời Trần, tổ chức quyền bính rời rạc như vậy lâm vào tình trạng khủng hoảng không xa lắm với tình trạng sứ quân. Vì vậy mà Quí Ly phải tập quyền, nhằm giữ cái thế tương đương để mà hòa với nhà Minh!
Long ngước mắt hỏi:
– Nhưng tại sao Quí Ly thua nhanh đến vậy?
– Thuận miệng, người ta bảo lòng Trời. Nhưng không phải vậy. Chính là lòng dân. Và thời gian…
– Thời gian?
– Hồ Quí Lý nhận mình là người Trung Thổ, lại đổi tên nước là Ðại Ngu, ý muốn giảm áp lực từ phương Bắc để lấy thời gian. Vì Quí Ly biết rằng sửa soạn chiến tranh thì không thể chinh phục được lòng dân, khi đó thất tán vì đói khổ liên miên. Cũng hiểu thế mà tiên đế đã nhận sách Tâm Công, giữ sức dân, mang đạo nghĩa chống hung tàn, tránh đổ máu nên mới đuổi được giặc.
Nguyên Long cắn môi im lặng. Thình lình, Long hỏi:
– Thầy nghĩ liệu trẫm có thể là một bậc anh quân được không?
Lòng nhủ lòng, chết thì ai cũng một lần, Trãi nhìn thẳng vào mắt Long, từ tốn:
– Bệ hạ nghe bọn Nho học chưa đủ thâm sâu, dâng sách Thương Ưởng và Hàn Phi, nên quên Lễ trọng Pháp, coi Pháp không hơn Thuật. Lễ không bắt, mà người theo vì tự giác. Ðỗ chẳng đừng, phạt mới dùng Pháp, kẻ theo vì sợ mà ép mình, mầm mống loạn nằm sẵn trong lòng người. Còn Thuật. Trị người bằng Thuật không phải là Vương, mà là Bá đạo. Vương đạo là Nhân, Nghĩa. Bệ hạ cầu hiền đã một đôi lần, đến nay vẫn còn tiếp tục, thế là phúc cho xã tắc. Thần xin dâng hai câu thơ:
Trừ độc, trừ gian, trừ bạo ngược
Có nhân, có nghĩa, có anh hùng
Coi như những lời trăng trối. Bệ hạ bây giờ muốn xử thần là khi quân hay thế nào cũng được!



























































































