Kỳ 2
Nam Dao
Ðất Cao
1. Tiếng Hú
Ðinh Hợi, Hưng Khánh năm thứ nhất, 1407
Mùa Xuân, tháng 2, ngày 20, Tả Tướng Quốc Hồ Nguyên Trừng bị quân Minh đánh kẹp từ hai bờ sông Lô, lui về giữ cửa Muộn. Quân Minh rời về cửa Hàm Tử lập doanh trại. Trừng cũng rời quân đến Hoàng Giang, đón Thượng Hoàng Quí Ly và Hán Thương Hoàng Ðế từ Thanh Hóa tới.
Tháng 3, ngày 13, Trừng cùng Hồ Ðỗ, Ðỗ Mẫn tiến quân về Hàm Tử, thủy bộ có bảy vạn người nhưng phao lên là hai mươi mốt vạn. Quân Trừng bị mai phục tan rã, chỉ thủy binh là thoát được. Quí Ly và Hán Thương vượt biển về Thanh Hóa.
Ngày 23, quân Minh đánh vào Lỗi Giang ở Thanh Hóa như chỗ không người.
Ngày 29, quân Minh lại đánh vào cửa biển Ðiển Canh. Ngụy Thức là tướng nhà Hồ, bẩm với Quí Ly và Hán Thương rằng, ‘‘Nước sắp mất, bậc vương giả không chết dưới tay kẻ khác.’’ Quí Ly sai chém Thức.
Tháng 4, ngày 11, bọn vệ quân nhà Minh chỉ có bảy đứa bắt được Quí Ly ở bãi Chỉ Chỉ. Một bọn khác bắt được Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La. Hôm sau, lại bắt được Hán Thương và thái tử Nhuế ở núi Cao Vọng, thuộc huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Người Minh thống kê những thứ thu được: không kể đám vua tôi và con cháu nhà Hồ, gom 48 phủ, châu; 168 huyện, 3129500 hộ, 112 con voi, 420 ngựa, 35750 trâu bò và 8865 thuyền. Chinh di phó tướng quân nhà Minh Trương Phụ sai Ðô Ðốc Liễu Thăng giải tất cả về Yên Kinh với đủ loại ấn tín. Có Quí Ly, kẻ đã soán ngôi nhà Trần, với các con là Thương, Trừng, Triết, Uông, các cháu là Nhuế, Lô, Pham, chắt là Ngũ Lang, Quí Tỳ, cháu gọi bằng bác là Cửu, Tuynh, Hoa, Tuấn, Việt, Hoảng… Ðám quần thần khá đông, có Ðông Sơn hưng hầu Hồ Ðỗ, Hành Khiển Nguyễn Ngạn Quang, Lê Cảnh Kỳ, bọn tướng võ là Bồng, Mông, Tài, bọn quan văn Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Cầu, Nguyễn Mão…
Tháng 5, hạ chí.
Ðoàn người vòng vèo như một con trăn khổng lồ trườn lên triền núi. Mặt trời như cái đấu lửa đổ dầu sôi lên cây cỏ bỗng lu đi từ đầu giờ Dậu. Gió ở đâu ùa về từng chập. Chim muông nháo nhác kêu, hàng đàn vỗ cánh bay chao trên đầu những ngọn cây nghiêng ngả trong gió. Tiếng vó ngựa. Tiếng quát. Không khí oi nồng đặc quánh lại. Rồi tiếng sấm. Sấm động đổ rền vào vách núi, tiếng vọng từng chập âm a dọa nạt. Ðầu núi, nóc ải Phá Lũy mới đây còn nhìn rõ nay lung linh trong màn hơi bốc lên từ mặt đất. Lát sau, nóc ải biến mất. Trên không chằng chịt những chớp xanh lè mắt mèo. Sét, sét nổ hàng loạt xé rách màn trời đục ngầu. Lại tiếng quát, tiếng hò hét. Ðám lính nhà Minh vừa chửi vừa chỉ trỏ. Con trăn khổng lồ chùn lại uốn khúc lẩn mình vào bìa núi dưới cơn mưa bắt đầu nặng hột.
Mưa quật xuống đất những làn roi trắng xóa. Dưới tàn lá cây rừng, đám người vội vã treo những tấm lán kết bằng lá gồi và xếp những mảnh liếp chắn nước theo gió tạt vào. Hai người lính dong ngựa từ đầu đến cuối dòng người, tay đánh chiêng, miệng hò. Lệnh cho cả đoàn người ẩn náu trú đêm tại chỗ. Lệnh nhắc, kẻ có tên trong sổ đày đi Kim Lăng nếu có ai trốn thì cả gia tộc sẽ bị xử trảm. Cả đoàn người im lặng. Chỉ có tiếng gió dập mưa sa. Và thỉnh thoảng, tiếng ngựa hí.
Một thiếu niên mình trần lẩm bẩm rồi hạ từ lưng xuống chiếc gùi đan bằng mây, miệng nói với lại kẻ đồng hành tay đang đỡ một lão niên mảnh dẻ. Lát sau, dưới tàn lá gồi, lão niên lẳng lặng nhìn về phía chân núi. Củi nhóm lên, lửa bắt đầu cháy phừng phực. Một người đổ nước vào chiếc nồi đất thổi cơm. Những mảnh khói sắc tím mượt lượn là theo triền núi thổi đi mùi củi thơm lừng một buổi chiều nơi địa đầu giông bão. Lão niên đằng hắng:
-Hay là Bảo đi xuống phía dưới xem anh mày đâu? Ðể Hùng ở đây là đủ… Ði đi!
Vâng lời, thiếu niên mình trần khoác lên vai chiếc áo tơi rồi lẳng lặng bước. Lão niên nhìn theo thở dài. Hùng cời lửa, rót nước ra bát đất, hai tay đưa cho lão niên. Cầm lấy bát, lão niên trầm ngâm:
-Có chuyện trò, thì bảo anh con phải về. Việc chăm nom cha có con với Bảo là đủ rồi! Anh con về cũng là để báo hiếu, nghe không?
Lẳng lặng gật đầu, thiếu niên mắt rưng rưng cúi xuống bắc nồi cơm, rồi vờ kêu:
-Khói quá, cay cả mắt!



























































































