Ðất Trời (Kỳ 74)

Kỳ 74


Nam Dao


Ðào Nương không thấy Trãi trả lời, sai con bé lớn trong nhà gọi là Vành Khuyên:

– Con để cái trái trong cho bác nghỉ vài hôm!

Trãi giật mình, giơ tay cản:

– Thím ạ, tôi có hẹn… Việc công cứ như con mọn, thím cho tôi bận sau. Sáng sớm mai lên khu mộ tổ, đến khoảng giờ Thìn thì tôi phải về Kinh.

Nhìn các cháu, Trãi đổi giọng làm vui:

– Còn các cô này, tiểu thư cả rồi, có còn hát hò gì nữa không?

Nghe ông bác giục, các cô lên dây đàn và lấy giọng. Thế là Trãi lại được nghe những điệu hát ví hát giặm, lòng chạnh tưởng đến Vàng Anh và lời hứa trên mộ cháu cạnh dòng sông Lam. Chàng ngậm ngùi, cả đêm trăn trở.

Tờ mờ sáng hôm sau, cả nhà họ Nguyễn lên khu mộ tổ ở sườn đồi. Trãi ngạc nhiên khi thấy nơi rặng đề đã bị Hoàng Phúc khai quật nay là một dãy cây con. Hỏi ra, Ðào Nương kể:

– Năm ngoái chú Viễn chú ấy về thuê người phát cỏ trồng cây. Rồi chú ấy còn cho khơi lại cái lạch ở dưới chân đồi. Em có hỏi nhưng chú ấy hềnh hệch cười rồi bảo trước khu mộ thế nào thì sau cứ thế vậy, có tốn kém gì đâu…

Mỉm cười, Trãi nhớ người nghĩa đệ đã bặt tin, dịu dàng hỏi:

– Viễn có nói nay ở đâu không?

– Chú ấy chỉ bảo ở Nghệ An, nhưng không nói rõ là nơi nào. Giọng Ðào Nương lên một thanh âm như hát, tiếp – rồi chú ấy khoe là năm vừa rồi lại đẻ thêm hai đứa, nhưng lần này toàn là con gái cả!

Trãi bật cười, vui miệng:

– Khiếp, con đông mà đẻ cứ như rươi đẻ!

Sự sống mỗi con người, Trãi nghĩ thầm, phải chăng được tái tạo kinh qua quá trình truyền giống đến đời sau. Ðó là phép mầu kéo cái hữu hạn đến vô cùng, đẩy niềm tuyệt vọng đến hy vọng, xô nỗi đớn đau hôm nay đến khả năng hạnh phúc một ngày mai. Mọi dở dang hiện tại đều có thể khu toàn nếu có một lớp người chia chung những hoài bão để tiếp nối tương lai. Ðá tảng làm nền là những hoài bão đó.

Trãi đưa mắt nhìn ra sông Nhị xa xa. Nắng mới rạng rỡ Trãi vàng những cánh đồng đầu vụ Ðông – Xuân chạy muốt mắt. Dưới chân đồi, lũ mục đồng vắt vẻo trên mình trâu gọi nhau ơi ới. Tâm hồn Trãi Trãi rộng đến chân trời, lâng lâng một niềm hân hoan chia chung với vạn vật. Chàng đưa mắt nhìn lũ cháu gái đang nhổ cỏ dại dưới chân những ngôi mộ nhà họ Nguyễn, lòng rưng rưng một nỗi thương cảm. Có tiếng Ðào Nương gọi. Mọi người lục tục kéo đến.

Trãi quì trước mộ tổ, ngậm ngùi tưởng đến thân xác cha chàng còn chôn ở Kim Lăng. Chàng thầm khấn, hứa sẽ bốc mộ cha về Nhị Khê, lòng đau như cắt. Ðến giờ hóa vàng, Trãi đến ngồi cạnh mộ Vàng Anh. Ngôi mộ nhỏ xíu nằm trong một góc, phía trước có độc một bát hương, nhô lên mặt đất mịn màng. Chàng nghe văng vẳng tiếng Vàng Anh hát. Rồi Vàng Anh nói, Vàng Anh cười. Chàng lại thấy dòng sông Lam lờ lững, mỏm đồi chè uốn lượn, những chiếc xe kéo thồ hàng trăm bao chè sấy khô lọc cọc lên xuống con dốc dẫn đến bến đò.

Trãi nhắm mắt hồi tưởng lại cái đêm chàng đã thủ thỉ với Vàng Anh đã lạnh cứng dưới ba tấc đất. Chính cái chết thê thảm của Vàng Anh đã là động lực cho chàng chống lại sự hủy diệt mù lòa lẫn nhau giữa con người với con người. Ðộng lực đó tạo ra cơ sở cho sách “mang đạo nghĩa chống hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo.” Ðiều này, chàng đã thực hiện được giữa một đám võ quan, bản chất là hung tàn và cường bạo. Nhưng còn lời hứa sẽ viết lại tập Nam Dao chí đã bị cháy khi quân Minh đến tập kích trại chè tám năm về trước? Thả hồn vào những làn khói xanh lơ lửng đầu ba cây hương đang cháy, chàng lại khấn “Vàng Anh ơi, bác không quên đâu. Cho bác thêm một ít thời gian!”

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT