Ðất Trời (Kỳ 96)

Kỳ 96


Nam Dao


9 Ðịnh Nghiệp
 
Rời Côn Sơn, nàng ghé vào Nhị Khê, xin với Ðào Nương lên thắp hương mộ tổ. Ngạc nhiên, Ðào Nương hỏi, vỡ lẽ là Lộ trên đường đi sông Cầu. Lộ bảo, “…tôi về thăm họ hàng!” rồi không nói gì thêm. Hai hôm sau, Lộ lên đường. Hai đứa cháu gái Ðỏ Mỏ và Vành Khuyên rất quí Thị Lộ, một phần vì tuổi tác chênh lệnh không nhiều, một phần vì Lộ giỏi thi văn, thích giễu cợt, làm thơ nhạo cả vua, quan lẫn ông sư, bà vãi, níu tay kêu ca “…lâu mới gặp bác, bác vội gì?”


Thị Lộ tìm đường đi về mạn sông Cầu. Sau hai ngày mò mẫm, nàng mới tới nơi. Về lại căn nhà của tuổi thơ, Lộ ngẩn ngơ nhìn hàng dậu bìm leo xiêu vẹo, hồi tưởng lại thuở gia đình chạy loạn. Thuở còn có mẹ. Thuở còn đủ chị đủ em. Thuở Nguyễn lão ngày ngày đi đánh dậm, tối về khêu đèn dạy cho đàn con dăm chữ vỡ lòng. Thuở nàng còn là con bé câm, muốn nói nhưng thanh âm tắc nghẽn cần cổ, đông đặc như kẹo mạch nha ở cuống họng, để chỉ cho bật ra những thanh âm ú ớ. Cho đến một hôm, cha kể, cái tiếng hát xé lòng giữa một đêm đông cất lên. Và từ đó nàng mới nói được. Nghe, rồi nàng quên. Cuộc sống rải rác những tình cờ trùng hợp, làm sao mà tiếng hát kia khiến cho nàng, con bé câm, thốt được lên lời. Nhưng khi về ở với Nguyễn Trãi, nghe kể lại câu chuyện bên bờ sông Cầu, nàng mới giật mình, hỏi: “Thầy ơi, câu hát trên dòng sông… hát thế nào?” Trãi nghẹn giọng thầm thì “…chèo quơ nước ngược chuyến đó ngang.”


Ra đến bờ sông, Thị Lộ cảm thấy cái lạnh ẩm buốt đầu Ðông thấm vào người. Tay run rẩy thắp ba nén hương cắm vào nắm cơm để cạnh một quả trứng luộc, dăm cái oản và một nải chuối ngự, nàng chắp tay nhắm mắt lại. Khói hương bay lên uốn lượn, tỏa ra rồi loãng dần trong không, chỉ để lại mùi trầm thơm ngát một khoảnh đê trườn theo dòng nước. Chim trảo trảo từ phía Bắc hàng đàn bay về. Chim sà xuống kiếm mồi nơi mực nước còn thấp dưới chân đê. Chúng lông đen, nhưng không to như quạ, mỏ vàng nhạt nhọn hoắt, kêu từng tiếng quang quác như cãi vã nguyền rủa lẫn nhau. Gió ở đâu về đẩy hàng lau mọc trên đất bùn dạt xuống trồi lên, dập dềnh uốn theo chiều thổi bất chừng lúc dọc lúc ngang. Lộ chắp tay, miệng khấn:


“Chị phù hộ, chứ cứ thế thì rồi thầy sớm muộn lại mắc vào cái bẫy thế cuộc. Em từng nghe thầy nhắc lại lời chị khi xưa, đừng chỉ lo chuyện đại sự, hạnh phúc trong từng cái nhỏ nhoi. Em nghĩ, đại sự cho một đời người chính là hạnh phúc của người đó. Giản dị thế, nhưng tại sao thầy không hiểu nổi? Chị phù hộ cho thầy, vạch lối chỉ đường để thầy biết rằng thế cuộc như bọt nước, ao bèo, chớp mắt là chìm, chớp mắt là nổi, trong khi đời người thì chỉ một thoáng phù du…”


“Ðời người, một thoáng phù du.”


Thị Lộ nhắc đi nhắc lại, tay nắm chặt vào nhau như níu lại một cái gì vuột qua trôi chìm tăm tích. Lộ lại khấn:


“…Lạy chị, chị phù hộ. Nước ngược, đò ngang. Kẻ sang sông xưa chở huyễn hão đổi đời. Nhưng rồi thầy đã làm. Làm chưa xong, người ta hạ ngục. Về Côn Sơn, thầy vẫn khắc khoải. Em nhắc, nhưng thầy không nói gì nữa. Em bảo, thầy ơi, thế cuộc là phù du. Xưa đuổi giặc, ai cũng một lòng. Nay giặc ở chính trong lòng người, nào ai muốn đuổi. Vua Nghiêu-Thuấn, dân Nghiêu-Thuấn là huyền thoại. Và phải là thiên tài mới tin vào và sống được với huyền thoại…


Thị Lộ bỗng giật mình. Tiếng chí chóe đâu đây vẳng lại, mỗi lúc một gần. Nhìn về phía sau, Lộ thấy một người, tay nải, lưng bị, trên vai có một con khỉ lông vàng. Thấy Lộ, người ấy đứng lại, vẻ sững sờ. Lộ khẽ gật đầu chào người lạ. Ông ta hỏi, giọng có chút ngần ngại “…bà người ở đây?” Lộ lắc đầu. Ba cây hương đã tàn. Lộ lẳng lặng châm lửa hóa vàng. Gió rít lên, lửa bắt phừng phực cháy, tàn bay ra sông như một đàn đom đóm. Con khỉ lông vàng sợ, kêu rồi rúc vào nách người lạ. Thình lình, ông ta nghe, cũng một giọng hát xé lòng ngày xưa. Ông ta hỏi, nhưng Lộ lại lắc đầu. Nàng không nghe thấy gì. Và nàng cũng không biết người lạ kia là Lý Tử Cấu, kẻ đã chứng kiến cái chết của Xuyến hai mươi năm về trước.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT