Nam Dao
Nhận được chỉ mời vào kinh gấp, Nhất Hạnh không biết chuyện gì, vội vã lên đường. Sư vốn là người thân thích với Lê Lợi, tu ở chùa Chân Phúc phía bắc Lư Sơn từ khi tóc để chỏm.
Ba năm cuối trước khi nghĩa quân toàn thắng, Lợi giấu Nguyên Long trong chùa. Lúc bị vây hãm ở núi Chi Linh, con gái lớn của Lợi là Thị Quyên bị Mã Kỳ bắt cóc đưa về Kim Lăng. Để tránh cái cảnh bị tướng nhà Minh tạo áp lực, từ ngày đó Lợi cho con cái ẩn vào các nơi chùa chiền dân dã.
Khi Lợi dọn từ dinh Bồ Đề về điện Vạn Thọ thì mới đưa Nguyên Long về kinh. Lên bảy, Long vẫn chưa biết đọc. Nhất Hạnh dạy vỡ lòng, giận đến phải đánh mắng, nhưng Long cứng cổ. Trêu Hạnh, khi viết Long viết ngược. Chỉ ba chữ Thiên-Địa-Nhân mà mất đến hai tháng Long mới viết được đúng có một lần. Hạnh rút cục chịu thua, mặc cho Long lêu lổng cả ngày đi lùng cào cào, châu chấu. Phá phách cây cảnh chán, Long lại tìm đủ cách chòng ghẹo người đi lễ chùa. Rầy la thì Long giả vâng dạ, nhưng thoáng một cái là đâu vào đấy.
Hạnh vào hoàng cung lúc trời vừa tối. Lê Lợi vẫn ở điện Cần Chính nhưng dặn hoạn quan Đinh Hối đưa Hạnh vào thư phòng. Đến khuya, Lợi mới tới. Gặp Hạnh, Lợi kể ngay chuyện ăn ngủ không yên, đêm nào cũng mơ thấy Ngọc Trần. Nhìn khí sắc Lợi, Hạnh phát sợ. Mắt hõm sâu xuống, lưỡng quyền nhô cao lên, Lợi đôi khi thất thần như ai cướp hồn bắt vía.
– Bây giờ phải làm sao? Lợi hỏi
Cúi đầu ngẫm nghĩ, Hạnh đáp:
– Cầu siêu, bẩm Hoàng Thượng. Để bần tăng gọi thêm một con đồng xem cái oan hồn kia muốn gì.
– Nhưng phải hạn hẹp, đừng để người ta biết!
– Bẩm Hoàng Thượng, chỉ cần những người trực tiếp liên quan đến việc này, là Tư Tề và Nguyên Long. Thế thôi!
Bốn ngày sau, một đội Thiết Đột bảo vệ ba cha con Lợi bí mật đi về Hà Đông sau bữa cơm chiều. Họ đến điện bà chúa Lừ, nơi sư Nhất Hạnh đã soạn lễ. Nhìn thấy Lợi, sư gập mình quì gối nhưng Lợi đỡ dậy. Sư nghiêng người chào Quốc vương và Hoàng thái tử xong, kính cẩn rước ngồi lên một chiếc sập gụ. Ngay dưới chân sập là hai chiếc chiếu cạp điều, ngồi xung quanh toàn những nhạc công, tay kèn, tay nhị. Họ không biết là vị chủ tể của cả nước đến, chỉ nghe Hạnh bảo rằng đây là gia đình một vị phú hộ ở Sơn Tây mới về kinh.
Cô đồng điện Lừ chạc ba mươi. Đầu đội một chiếc khăn đỏ, mặt mũi xanh xao gầy guộc, mắt cô lúc nào cũng lờ đờ như ngủ gật. Cô lắc lư đầu, thỉnh thoảng nhếch miệng cười, một cái cười lạnh lẽo vô cảm của người chết chôn rồi đội mồ sống lại. Phủ phục, cô nằm bất động khi sư Nhất Hạnh thỉnh chuông, cắm những bó nhang lên điện thờ, thỉnh thoảng niệm to:
– Án Lam sa ha, chí tâm đỉnh lễ, tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh, Tăng thường trụ tam bảo.
Chí tâm thỉnh lễ, Sa bà giáo chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni
Chí tâm thỉnh lễ, Tây phương cực lạc giáo chủ A Di Đà
Chí tâm thỉnh lễ, Đương Lai Giáo Chủ Di Lặc Tôn
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm bồ đề kiên cố
Xa bể khổ sông Mê
Chóng quay về bờ Giác…
Nhất Hạnh ê a, tay nhịp mõ một lúc thì trời đổ mưa. Tiếng mưa rào rào trùm lên những câu kinh kéo lê thê, thỉnh thoảng lại bị những cơn gió phần phật thốc vào mái điện át đi. Liếc mắt về phía Tư Tề và Nguyên Long, Lợi thấy chúng phảng phất nét giống nhau mặc dù Tư Tề hơn Long gần hai con giáp. Có khác, chỉ là cặp mắt. Mắt Tư Tề hai mí sụp xuống. Mắt Nguyên Long một mí xếch lên. Làm sao mà biết chúng là anh em hay là bố con với nhau? Lợi cố xua câu hỏi đó đi, quay lại chú tâm nghe. Nhất Hạnh vẫn ê a:
– …Nguyện tân duyên, cựu duyên
Oan trái duyên, mọi duyên giải thoát…
Tội từ tâm khởi cũng từ tâm diệt
Tội diệt, tâm không, cả hai triệt tuyệt…
Hồn chưa tiêu oan
Phách còn trói buộc
Về đây giãi bày…



























































































