Ðồng Cỏ (Kỳ 17)


Kỳ 17



Phụng nhìn thấy mẹ đang nhìn mình trong tấm gương lớn. Trong đôi mắt bà, hình như tôi vẫn còn là một đứa nhỏ.


Mẹ tôi nói:


– Hễ đi xa thì lo ăn uống cho tử tế, kẻo gầy ốm.


Tôi cười:


– Con mới lên được hai ký.


– Bên đó người ta ăn uống khác mình, rồi làm sao mày ăn?


– Ở yên rồi, con sẽ lo liệu lấy.


– Ui giời, thế thì mày chết rồi còn gì.


– Thiếu gì người mình ở bên ấy.


– Có không?


– Có chứ ạ.


– Vậy cũng đỡ.


– Sinh viên mình qua học bên ấy rất nhiều. Ngay nơi con làm việc cũng thiếu gì người được cử đi chỗ này, chỗ khác. Ðâu phải chỉ có mình con.


– Ờ, xem ai người ta ở bên đó biết, nhờ người ta chỉ cho, chứ cái ngữ mày lạ nước lạ cái, tao không yên tâm tí nào.


Phụng lấy giầy đi vào chân, ngắm mình một lần nữa trước khi cầm cái ví nhỏ lên tay rồi đi ra.


Phụng hỏi mẹ:


– Mẹ có biết chỗ mua cà cuống không ạ?


– Biết. Nhưng nhà đã có sẵn rồi khỏi lo.


– Ăn cháo cá mà không có cà cuống thì dở lắm.


– Mang áo mưa đi. Còn mưa đấy.


– Tí nữa con quên mất.


Chương Ba


Phụng đi qua những đống gạch vụn, đi trên cái lối đi cỏ đã mọc trùm hai bên, vào trong sở.


Kể từ hồi Tết Mậu Thân, cái cơ sở này, bề ngoài trông có vẻ buồn, vì bị súng đạn làm hư nát, riêng đối với tôi nó quen thuộc và thân thiết như căn nhà thứ hai, mỗi khi phải bước qua đống vôi vữa, vào làm việc, tôi không khỏi đau lòng.


Trong nhiều ngày sau vụ Tết Mậu Thân, tới nơi làm việc này, ngồi trước máy vi âm, tôi đã không thể nào đọc được một cách bình thường nữa. Mỗi dòng chữ đọc lên tôi tưởng chừng đều vương vất tro bụi, cỏ dại trên cái nền cũ phải bước qua để vào đài. Tôi e rằng, tôi đã không giấu hết được những hình ảnh đổ vỡ nhìn thấy, nên chắc nó đã hiện ra trong giọng nói.


Hôm nay, tôi sẽ nói lời giã từ cả với những những vật âm thầm đó trước khi đi.


Tôi vào phòng vi âm, ngồi dò lại bản tin, chờ đọc trong chốc lát.


Dù biết chưa đến giờ, nhưng theo thói quen, tôi vẫn liếc nhìn cái bóng đèn đỏ được lắp sau tấm kính kẻ hai chữ on air cũng bằng sơn đỏ, báo hiệu phát thanh.


Chúng tôi luôn có một bản tin vào mỗi đầu giờ. Và xướng ngôn viên bao giờ cũng được các hòa âm viên báo trước giờ phát thanh bằng cách chớp chớp ngọn đèn đỏ có hai chủ on air đó.


Ðối với chúng tôi, những ngày đầu tiên làm cái công việc xướng ngôn này, ngọn đèn ấy là một sư đe dọa. Khi nó được bật sáng, xướng ngôn viên tập sự thường nói, họ muốn đứng tim. Hết sợ đèn, người ta sợ đến cái micro để trước mặt.


Qua các giai đoạn này, một xướng ngôn viên mới tự thấy được những điều cần thiết để giọng nói của mình có thể rõ ràng hơn. Chẳng hạn mỗi người sẽ tự định lấy cái khoảng cách giữa miệng mình và máy vi âm thế nào là vừa. Công viện này, nghe nói, ở các đài phát thanh lớn của các nước khác, đều do các chuyên viên kỹ thuật ở ngoài phòng vi âm sắp xếp.


Chúng ta chưa đủ các nhân viên như thế, nên chúng tôi phải tự lo liệu lấy việc này, và ai có nhiều kinh nghiệm hơn thì chỉ dẫn cho người khác. Phát âm với một cường độ đều đặn cũng là điều tối cần đối với một xướng ngôn viên. Bằng kinh nghiệm người ta có thể biết khi nào miệng nên ghé gần micro hơn một chút. Tôi còn nhớ kỷ niệm đầu tiên khi vào phòng vi âm, thấy những chiếc bàn dùng để đọc tin, mặt bàn không liền mà được ráp bằng những thanh gỗ thành những ô lủng cách nhau chừng mười phân, đối với tôi khi ấy là một điều kỳ lạ. Tôi hỏi người nam xướng ngôn viên cùng làm với tôi, tại sao người ta lại làm cái bàn như vậy?


Anh đã nhìn tôi cười bảo, để xướng ngôn viên có lỡ bỏ sót chữ nào thì nó rơi ngay xuống gầm bàn khỏi phát ra ngoài. Dĩ nhiên tôi ngẩn mặt không hiểu.


Cả tháng sau tôi mới được Sơn giải thích cho hay, bàn phải làm như vậy, cho tiếng nói khỏi bị dội lại máy. Sơn cũng cho tôi biết, tại sao, việc mở cửa phòng vi âm trong lúc đang lúc phát thanh cũng tuyệt đối bị cấm, không phải chỉ vì sợ tiếng động lọt vào mà còn vì sự xáo trộn không khí có thể gây ảnh hưởng tới phẩm chất của chương trình phát thanh, gây khó chịu đối với thính giả.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT