Viên Linh
Tháng 12 này, cách đây 13 năm, người viết bài đã không ngờ về sự ra đi đột ngột của Giáo Sư Nguyễn Ðình Hòa (1923-2000), vị khoa trưởng Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn lúc mới 34 tuổi, khi trường này còn tọa lạc tại đường Nguyễn Trung Trực. Ông ra đi tại Bắc Cali khi cuộc giải phẫu dự trù là bình thường, không ngờ đã kéo dài 6 tiếng đồng hồ, quá sức lâu và bất trắc so với một người 76 tuổi.

Thủ bút và ảnh Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Hòa, chụp tại làng Ðan Mạch ở Solvang, California, gửi riêng cho tác giả Viên Linh, 1999. (Hình: Viên Linh cung cấp)
Trước đó chỉ ba tháng tôi đã nhờ ông viết cho một bài đặc biệt, “Họa sĩ Cát Tường và Kiểu Áo Lemur,” [Khởi Hành số 47, tháng 9.2000] vì biết em trai ông là con rể của người họa sĩ tài ba này. Không cần phải nói bạn đọc cũng có thể biết rằng ông đã dùng dao mổ trâu để chặt thịt gà, nhưng sự thân mật trong một bữa tiệc trước đó đã khiến ông dành cảm tình riêng mà viết một cách dễ dàng, bài viết dù loại gì cũng không thể dở, khi tác giả là một tiến sĩ triết học ở Ðại Học Georgetown Hoa Kỳ, lại là một nhà ngữ học nổi tiếng. Chính trong bài viết của giáo sư trên tạp chí Khởi Hành mà người đọc được biết thêm một tấm tranh nhan đề “Bên Sông Ðợi Khách” của Nguyễn Cát Tường in trên bìa báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Ðoàn, tấm tranh của họa sĩ Mai Thứ vẽ sáu phụ nữ Việt Nam trong y phục cổ truyền và ảnh cô Nguyễn Thị Hậu trong áo dài Lemur (sau này cô trở thành thị trưởng thành phố Ðà Lạt): nếu tác giả không phải là Nguyễn Ðình Hòa, không ai có thể cung cấp một bài viết vài ngàn chữ mà nhiều chi tiết và dữ liệu như thế. Sự ra đi của ông quả là bất ngờ, nhưng cũng lại khiến tôi sau này suy đi nghĩ lại: ông đã gửi lại cho tôi khá nhiều tài liệu, hình ảnh, thư từ, bốn chương sách dịch ra Việt ngữ chưa từng đăng báo của ông, thơ, và lạ thay, cuốn gia phả dòng họ Nguyễn mà ông tổ là công thần nhà Lê, sau là Thượng Tướng Nguyễn Xí của Quang Trung Nguyễn Huệ, đã có công dự các trận đánh Vương Thông, bắt Hoàng Phúc, chém Thượng Thư Trần Hạp của nhà Minh.
Dường như có thể là trong một thoáng suy nghĩ, về những rủi ro, ông đã gửi cho tôi một phong bì màu vàng rất lớn, rất dầy, với cả trăm trang giấy đánh máy và viết tay, ba bốn tấm hình màu, biết đâu…
Mãi sau này ở Quận Cam tôi mới có giao tiếp nhiều với Giáo Sư Nguyễn Ðình Hòa, song biết ông lại qua tờ tạp chí Sáng Tạo vào cuối thập niên ’50 ở Sài Gòn, cụ thể là qua một bài thơ Anh ngữ của Henry Wadsworth Longfellow và một truyện ngắn ông dịch của Washington Irving. Cái truyện ngắn rất hay, nhan đề “Truyện Rip Van Winkle” kể lại giấc ngủ dài của một anh chàng vác súng đi săn, rồi như Từ Thức lạc tới đào nguyên, anh Rip cũng thế, khi anh thức dậy từ thiên thai trở về thì làng xưa ngõ cũ nói rằng chúng tôi không biết anh Rip là ai, ở đây không có anh nào tên như thế cả, nhưng ông cố tôi sống cách đây mấy chục năm thì có tên là Rip Van Winkle! Một thiếu niên đọc truyện này sẽ ngạc nhiên so sánh với một truyện tương tự của Á Ðông, nhưng đọc bài thơ dịch của Longfellow thì vô cùng cảm khái, và có thể sẽ yêu thơ Mỹ.
Người viết không còn nhớ đúng như in từng câu, nhưng nhớ rõ bài thơ kể chuyện một mũi tên và một bài hát. Ðại khái là tôi có một mũi tên, tôi dùng cái cung bắn mũi tên vào không gian, thì mất hút, không còn thấy nó đâu. Ðại khái là tôi biết một bài ca, tôi hát bài ca ấy, nó cũng rơi xuống đất, nhưng trong khi mũi tên bay vèo đi không tìm lại được, thì tôi vẫn tìm thấy lời ca cũ trong không gian, đúng hơn, tôi tìm lại được lời ca ấy trên đôi môi của bạn tôi, trong trái tim của bạn tôi.
I shot an arrow into the air
It fell to earth, I knew not where
For, so swiffly it flew, the sight
Could not follow it in its flight.
I breathed a song into the air
It fell to earth, I knew not where
For who has sight so keen and strong
That it can follow the flight of a song?
Long, long afterward, in an oak
I found the arrow, still unbroke.
And the song, from beginning to end
I found again in the hearth of a friend.
(Henry W. Longfellow, The Arrow and the Song)
Tôi không còn bản dịch Việt ngữ của giáo sư, đành phải tự dịch như dưới đây [trí giả nào còn giữ số Sáng Tạo in bài dịch ấy, khoảng 1957, vui lòng cung cấp cho]:
Tôi bắn một mũi tên trong không gian
Nó rớt xuống đất, tôi chẳng biết nơi đâu.
Như thế, thật lẹ nó bay,
Tầm mắt nào bắt kịp đường bay của nó.
Tôi hát một bài ca trong không gian
Nó rớt xuống đất, tôi chẳng biết nơi nào.
Như thế cho người dẫu nhìn sắc và xa
Cái nhìn liệu có thể theo lời ca bay tới?
Lâu thật lâu sau đó, trong một cây sồi
Tôi tìm thấy mũi tên chưa gẫy.
Riêng lời ca từ trước đến sau
Tôi vẫn thấy trong tim một người bạn.
(Viên Linh dịch)
Bài thơ dịch đã khiến tôi nhớ tên dịch giả, và đọc cặn kẽ những bài ông viết.
Nguyễn Ðình Hòa sinh ở Hà Nội, [do đó sau này ông viết cuốn hồi ký bằng Anh ngữ “From The City Inside The Red River,” – Từ Thành Phố Bên Trong Sông Hồng] – học tiểu học ở các Trường Hàng Vôi, Trường Bờ Sông, trung học ở Bưởi, từ lúc ấy đổi tên thành Chu Văn An, năm 1948 được học bổng qua du học Mỹ, năm 1952 đậu Cao học Giáo Dục ở Ðại Học New York và năm 1956 đậu tiến sĩ ở Ðại Học Georgetown. Sau một thời gian ngắn ở Miền Nam, ông xuất ngoại, đi học và đi dạy ở nhiều nơi với tư cách giáo sư biệt thỉnh, như ở Maroc, London, Trung Hoa Dân Quốc. Ðại diện cho Việt Nam Cộng Hòa ông đi họp các khóa thường kỳ về ngữ học ở hải ngoại thuộc UNESCO hay thuộc cơ quan Tương Trợ Ðại Học (World University Services) như ở Paris, Bangkok, Geneve,… Ông viết cho các báo ngữ học, và các tạp chí văn hóa như Phổ Thông của cựu sinh viên Luật ở Hà Nội, Văn Hóa Tập San ở Sài Gòn. Học và dạy học suốt đời, và kinh nghiệm mà ông truyền dạy cho các thế hệ sau được gói ghém qua vài câu trong một bài tựa của tập bút ký ông khởi viết năm 2000: người ta thu nhập kiến thức ở các vị thầy chưa đủ, vì: “Trong suốt thời gian năm chục năm nay,… tôi đã được may mắn học được nhiều điều bổ ích: học thầy, học bạn (trong nhiều lãnh vực tôi học bạn nhiều hơn học thầy, đúng như câu ‘học thầy không tày học bạn,’ học trong sách báo, học trong trường đời.” Những gì ông gửi cho tôi xét ra là những đóng góp cụ thể, từng bài nho nhỏ, viết đích xác về một câu, một chữ, dù là chữ Việt, chữ Anh, hay chữ Hán Nôm, như “mục túc” là rau gì – rau muống?; một bài viết của nhà văn Khái Hưng từ 1932; hay một chữ Anh, chữ Việt ông thấy trong một tờ báo, mà ông nghĩ là chưa chuẩn. Giáo sư là nhà văn hóa thận trọng, văn chương vụ sự thực, đôi khi có làm thơ, điều đáng quí là ở tấm lòng gửi gấm cho đời sau, ông viết đúng 20 năm trước khi ra đi ngoài dự định:
Tháng Giêng 1980
Năm nay năm sáu tuổi đầu rồi
Tính sống trăm năm mới chịu thôi
Chữ nghĩa tùm-lum làm tóc bạc
Giấy tờ bừa-bãi khiến da mồi.
Thượng-thư hồi ấy chưa vào bực
Tiến-sĩ ngày nay nếm đủ mùi
Quyết ôm nghề giáo hầu bạn trẻ
Rừng văn làng sách khoái trò vui.
Lam-sơn Nguyễn Ðình-Hòa
(SIU, Southern Illinois University)



























































































