Nguyễn Xuân Thu
Sau khi tốt nghiệp trường đại học Sư Phạm Huế, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm đi dạy tại trường trung học Nguyễn Huệ, Tuy Hòa. Hiệu trưởng lúc ấy là anh Nguyễn Ðức Giang. Tuy Hòa thời đó được xem là nơi xa xôi cách trở và các giáo viên mới tốt nghiệp như tôi không ai muốn lựa chọn. Các bạn trong lớp tôi đều được đưa đến dạy các trường ở những thành phố lớn như Huế, Ðà Nẵng, Nha Trang, Ðà Lạt.
Gia đình tôi gồm có vợ và một đứa con trai hai tuổi Nguyễn Xuân Như đến Tuy Hòa vào giữa tháng 9 năm 1964. Tôi được phân phối dạy các lớp từ đệ tứ đến đệ nhị (lớp 9 đến 11 bây giờ), trong đó, hai lớp quan trọng là lớp đệ tứ là lớp dạy cho học sinh thi để lấy bằng Trung học đệ nhất cấp và lớp đệ nhị để thi lấy bằng tú tài 1 (hai văn bằng này về sau đã bị bỏ).
Trong thời gian này cả miền Nam ngột ngạt bởi không khí chiến tranh. Rất nhiều thầy giáo phải đi quân dịch. Các trường tư thục thiếu giáo viên trầm trọng. Do đó, ngoài việc dạy tại trường công lập Nguyễn Huệ, tôi được mời dạy thêm môn quốc văn, lớp 11 (lớp thi tú tài 1) ở trường trung học tư thục Công Giáo Ðái Ðức Tuấn.
Trong năm học 1964-1965, công việc dạy học diễn ra khá thuận tiện đối với tôi. Tuy nhiên, lúc này không khí chiến tranh mỗi ngày một trở nên ngột ngạt cả miền Nam, đặc biệt là trong thành phố Tuy Hòa, một thành phố hàng đêm bị Việt Cộng bao vây ba phía, và phong trào Phật Giáo chống chính phủ miền Nam lan đến thành phố nhỏ bé này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của học sinh và sinh hoạt của người dân. Trong mỗi lớp có rất nhiều học sinh mang khăn tang đi học.
Trong kỳ thi trung học đệ nhị cấp (cuối lớp 11) vào tháng 6 năm 1965, giáo viên trường trung học Nguyễn Huệ được bố trí đi coi và chấm thi ở các thành phố có hội đồng thi. Tôi được cử làm trưởng ban chấm môn Việt văn của Hội Ðồng Thi Huế. Năm sau, tôi được cử đi chấm thi ở Quy Nhơn, một thành phố ở phía Bắc của Tuy Hòa, cách khoảng trên 100 cây số. Hàng năm thời gian đi chấm thi thường là lúc bạn bè nhà giáo tại nhiều tỉnh khác nhau gặp gỡ, tâm sự và trao đổi kinh nghiệm. Nhân dịp này tôi gặp một số bạn hiện đang dạy học và làm quản lý tại một số trường tại thành phố Sài Gòn. Một bạn tỏ ý muốn mời tôi về dạy học và làm quản lý tại trường sư phạm Kiểu Mẫu Thủ Ðức.
Trong thời gian hai năm đi dạy học tại trường Nguyễn Huệ, ngoài công việc dạy học, tôi còn viết một số bài đăng trên các tạp chí Văn Học (văn học), Minh Tâm (tư tưởng phương Ðông), và báo Chính Luận (trang giáo dục). Tôi cũng có viết nhiều bài đăng trên một tờ báo của tỉnh Ðoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Tỉnh Bình Ðịnh, tại đây một người anh vợ của tôi đang làm Phó Tỉnh trưởng Nội an. Chính vì những bài viết này, đến mùa hè 1966, tôi nhận được sự vụ lệnh (văn bản) của Bộ Giáo dục quyết định chuyển tôi đến làm việc trong Khối Nghiên Cứu và Phát Triển của trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu, theo đề nghị của Tổng Bộ Xây Dựng. Thế là từ đây tôi kết thúc nghề dạy học của mình.
Làm việc tại Bộ Xây Dựng Nông Thôn
Ðầu tháng 7 năm 1966 tôi đến trình diện tại trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu (TTHL/VT), một trung tâm huấn luyện trực thuộc Tổng Bộ Xây Dựng, từ năm 1969 về sau đổi thành trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Quốc Gia Vũng Tàu.
Ðể hiểu rõ vai trò của trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, cần biết nguồn gốc ra đời của quốc sách này.
Từ những năm 1959, 1960, cán bộ Cộng Sản nằm vùng bắt đầu nổi lên tấn công các xã ấp khiến miền Nam trở nên mỗi ngày một bất ổn. Ðể đối phó với tình hình này, từ cuối năm 1961 đầu năm 1962, chính phủ Ngô Ðình Diệm đã đưa ra quốc sách Ấp chiến lược nhằm cô lập cán bộ Cộng Sản nằm vùng ra khỏi người dân. Theo đó, các Ấp chiến lược được lập ra ở nhiều nơi tại miền Nam. Người dân trong các làng được đưa vào ở trong các Ấp chiến lược, có các hàng rào bao bọc, ra vào có sự kiểm soát của lực lượng bảo vệ.
Mục đích là tách Cộng Sản nằm vùng ra khỏi người dân. Tách ra khỏi dân giống như tách cá ra khỏi nước, cán bộ Cộng Sản nằm vùng khó có thể tồn tại lâu dài.

















































































