Hành trình từ trường làng đến Đại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 60)


Nguyễn Xuân Thu


Miền Nam trước đây không phải là thiên đường. Từ ngày chiến tranh do miền Bắc chính thức phát động gọi là “Đồng khởi” năm 1960 với mức độ leo thang nhanh khủng khiếp cho đến năm 1965 trở đi, khi quân đội Mỹ ồ ạt vào cứu miền Nam, xã hội miền Nam từ đó bị đảo ngược hoàn toàn.

Cô gái bán dâm tặng tiền “boa” cho bác sĩ. Đời sống đắt đỏ lên. Nạn nghèo đói, thiếu thốn gia tăng hầu hết trong mọi gia đình. Một công chức ban ngày đi làm cho chính phủ, buổi tối đi làm cho các khách sạn, nhà hàng để kiếm thêm thu nhập, vì đồng lương lúc đó ở các thành phố chỉ đủ cho gia đình chi tiêu trong nửa tháng hoặc khá hơn là 20 ngày. Có người cảnh sát phải làm nghề xe ôm buổi tối bị hành khách đánh vì tưởng là Việt Cộng vì có mang theo súng lục (quên không để súng lại cơ quan). Có một thầy giáo ở Tây Ninh chạy xe xích lô buổi tối đón phải học trò của mình. Nhận ra thầy, em học trò bối rối nhưng vẫn lễ phép vòng tay thưa thầy. Thầy giáo phải thú thật là lương hàng tháng của thầy không đủ sống nên thầy phải đi làm thêm buổi tối và yêu cầu em đừng nói với ai và lần sau nếu có gặp thì chỉ gọi là “bác,” đừng gọi “thầy.”

Một trong những kỷ niệm đẹp trong đời dạy học của tôi tại miền Nam (cụ thể là ở Huế năm 1962, 1963 và ở Tuy Hòa năm 1965, 1966) là những đêm cắm trại. Thầy trò chúng tôi có cả Lê Anh Triết tâm sự về chiến tranh, về đất nước, về sứ mệnh giới trẻ phải làm gì. Và trong những lần tâm sự như thế, cả thầy lẫn trò đều rươm rướm nước mắt vì sự bất lực của tuổi trẻ, sự tàn bạo của chiến tranh, sự tham vọng của các chủ nghĩa ngoại lai. Một số trong các em học sinh thời ấy sau tháng 4 năm 1975 là những quan chức lớn trong một số tỉnh ở miền Trung.

Và trong những đêm dài thao thức ấy, có cả những kỷ niệm của thời còn trai trẻ, trong đó có cả chuyện tình đơn phương kéo dài trong nhiều năm với một vài người con gái. Các mối tình đơn phương ấy như là những chỗ tựa bồng bềnh cho cuộc sống bớt cô đơn và để đứng dậy, vươn lên.

Rồi sáng hôm sau, bên ngoài trời bừng sáng, đường sá xe cộ tấp nập, các cháu học sinh vội vã đến trường, người cán bộ công chức đến sở làm việc, người công nhân ra công trường. Một xã hội đang tìm con đường ngắn nhất để vươn lên, để hòa đồng với thế giới sau quá nhiều thập kỷ vùi dập trong chiến tranh, bom đạn, chết chóc, nghèo đói.

Và những hồi tưởng trong đêm bị xóa nhòa đi như tâm sự tiếc nuối thời son trẻ của người kỷ nữ trong tác phẩm Tỳ bà hành (Tiếng đàn trên sông Tỳ bà hành) của Bạch Cư Dị: “Đêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ/Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son.”


Gia đình đổ vỡ


Trong gia đình, điều làm tôi vui nhất là các con. Tôi có năm con, bốn trai (Như, Hữu, Nhân và Vũ) và một gái (Quỳnh Hương). Khi tôi vượt biên, tất cả đều còn nhỏ. Bốn năm sau, tôi bảo lãnh được vợ và cả năm con sang Úc. Hiện nay, tất cả đều đã thành tài và đã có gia đình êm ấm.

Nhưng quan hệ giữa tôi và vợ tôi thì lại không hoàn toàn tốt đẹp. Chúng tôi thành hôn với nhau từ năm 1962. Trừ những năm đầu, thời gian về sau, chúng tôi có những lúc xa nhau thật lâu. Trước năm 1975, tôi đi du học ở Mỹ 4 năm; sau năm 1975, tôi đi cải tạo 5 năm; sau đó thì vượt biên, 4 năm sau mới bảo lãnh được gia đình sang Úc; từ năm 1994, tôi về Việt Nam làm việc một mình trong nhiều năm. Những sự xa cách ấy chắc chắn càng làm cho những bất đồng về quan điểm và tính cách càng lúc càng trầm trọng thêm. Giữa năm 2002, vợ tôi và tôi quyết định ly hôn sau hơn bảy năm sống gần như ly thân. Tôi biết rất rõ ly hôn là một đổ vỡ lớn trong đời và mang lại đau đớn không nhỏ cho chính những người trong cuộc, và còn là một vết thương âm ỉ lâu dài về sau. Thế nhưng những gì phải đến đã đến. Tôi giao hết nhà cửa cho vợ, chỉ mang quần áo và sách vở ra đi.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT