Nguyễn Xuân Thu
Cho đến năm 1994 có khoảng 120 trường đại học và cao đẳng công lập và gần 2 phần 3 trong số này là các trường cao đẳng sư phạm có nhiệm vụ đào tạo giáo viên tiểu học và trung học cơ sở.
Trước thời kỳ đổi mới năm 1986 không có trường dân lập hay bán công nào trong ngành giáo dục đại học. Bắt đầu từ năm 1991, có một số ít trường cao đẳng và đại học bán công được thành lập tại Hà Nội và sau đó tại thành phố Hồ Chí Minh.
Vì giáo dục đại học là miễn phí và lúc đó Việt Nam được coi là một trong những nước nghèo nhất thế giới, số lượng sinh viên nhập học hàng năm rất ít, ít hơn 100 ngàn em đối với một dân số trên 70 triệu người. Các trường đại học và cao đẳng cũng được bao cấp hoàn toàn và do đó cơ sở vật chất cho giảng dạy, các phòng thí nghiệm và thư viện đều được trang bị rất nghèo nàn. Vì vậy, chất lượng giáo dục rất thấp.
Các trường đại học và cao đẳng không cung cấp được những người có đủ những kỹ năng thích hợp phục vụ những yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam. Cũng không có liên kết nào giữa giáo dục và các ngành. Các trường đại học và cao đẳng chỉ làm công tác giảng dạy thuần túy. Hầu như không có các hoạt động nghiên cứu và phát triển bên trong các trường đại học. Khi đó nghiên cứu và phát triển chủ yếu thuộc về Trung Tâm Khoa Học và Công Nghệ Quốc Gia, và Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia (trước đó gọi là Viện Khoa Học Việt Nam và Viện Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn) với trên 200 viện và trung tâm trong khắp cả nước. Vì vậy các chương trình đào tạo sau đại học tại các trường đại học rất yếu.
Với tình hình như vậy trong ngành giáo dục đại học, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo được yêu cầu đổi mới hệ thống giáo dục của mình và vai trò của tôi là chia sẻ với Bộ trưởng và các cộng sự của ông những hiểu biết và kinh nghiệm liên quan đến giáo dục của phương Tây (tôi tốt nghiệp tại Bộ môn Giáo dục Đại học của Đại học Indiana tại Bloomington, Hoa Kỳ). Tôi đã giới thiệu tóm tắt với họ các hệ thống khác nhau trong giáo dục đại học ở phương Tây, đặc biệt là hệ thống giáo dục đại học tại Mỹ và tác động của nó lên sự phát triển kinh tế xã hội của nước này. Tôi đã dành ra nhiều thời giờ giải thích cách thức vận hành của các trường đại học đa ngành. Những khái niệm đó rất mới đối với họ vì hệ thống giáo dục đại học của Liên Xô cũ không theo mô hình đó. Mối quan hệ giữa giảng dạy và nghiên cứu cũng là trọng tâm chính vì Bộ Giáo Dục và Đào Tạo có mong muốn tăng cường các hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học của Việt Nam. Tôi cũng chia sẻ với họ những khái niệm về quản lý và thực tiễn về mặt điều hành trường đại học. Việt Nam không có các hội đồng đại học hay các hội đồng quản trị mà ta thường thấy bên Anh quốc hay Hoa Kỳ. Hệ thống tín chỉ, hệ thống học phần và chuyển tiếp tín chỉ cũng đều là những khái niệm rất mới lạ đối với họ. Cấu trúc khóa học và các quy trình kiểm định những khóa học mới cũng hoàn toàn xa lạ. Chúng tôi đã thảo luận các cách thức cải thiện chất lượng giáo dục và xem xét việc thành lập các trung tâm đánh giá cấp vùng, các quá trình bảo đảm chất lượng. Chúng tôi cũng đã thảo luận các mô hình giáo dục khác nhau, như các trường đại học cộng đồng hoặc cao đẳng 2 năm, vốn rất phổ biến bên Hoa Kỳ.
Những lý do khởi xướng việc thành lập Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam
Đầu năm 1996, tôi ý thức được rằng vai trò cố vấn của tôi đã không thành công. Hệ thống giáo dục đại học theo mô hình của Liên Xô cũ đã bắt rễ sâu vào tư duy và thực tiễn hàng ngày của họ. Họ rất khó nắm bắt được các mô hình khác mà không thấy chúng thông qua các thí dụ thực tế.
Vào một ngày cuối tháng 4 năm 1996, tại văn phòng của bộ trưởng ở 49 Đại Cồ Việt, Hà Nội, tôi bày tỏ lo lắng của mình với Bộ Trưởng Trần Hồng Quân rằng chương trình đổi mới hiện có chắc khó có khả năng thành công vì hầu hết các nhà giáo và nhà quản lý của Việt Nam không biết cách thức hoạt động của một trường đại học đa ngành. Tôi gợi ý rằng Việt Nam nên mời một cơ sở giáo dục quốc tế đến để thành lập một trường đại học đa ngành theo phong cách phương Tây để làm mô hình tham khảo cho các trường trong nước. Bộ Trưởng Trần Hồng Quân hoàn toàn đồng ý với tôi và đề nghị tôi tiếp tục triển khai sáng kiến này.



























































































