Nguyễn Xuân Thu
Tôi có đủ lý do để đưa ra ý tưởng tìm một nhà cung cấp giáo dục quốc tế đầu tư vào ngành giáo dục đại học tại Việt Nam. Tôi hoàn toàn hiểu rằng nhiều bạn bè của mình và phần lớn cộng đồng người Việt ở nước ngoài không muốn thấy bất kỳ ai làm điều gì tại Việt Nam nhằm củng cố chế độ của những người Cộng Sản.
Vợ và các con lớn của tôi cũng cùng có quan điểm này. Khi tôi quay về làm việc tại Việt Nam, nhiều bạn tôi cũng đã lên án tôi là kẻ phản bội bạn bè và Nam Việt Nam, nơi tôi đã lớn lên và làm việc trong hơn 20 năm. Đã từng phải đi tập trung cải tạo 5 năm sau năm 1975, tôi cũng có những nỗi đau và niềm tâm sự riêng. Tuy nhiên, từng là một đứa trẻ mồ côi lớn lên bên những người bất hạnh nhất tại các tỉnh nghèo khó của miền Trung, tôi bao giờ cũng muốn làm một điều gì đó có thể giúp những người nghèo tại quê hương. Để thực hiện mong muốn sâu sắc đó của mình, tôi phải tìm cách làm lành những vết thương trong quá khứ bất kể đến những đánh giá và lên án của những người khác, trong đó có cả vợ tôi và những bạn bè thân thiết nhất. Như tôi đã viết trong Journal of Vietnamese Studies (tạp chí Việt Nam học) năm 1991: “bạn không thể làm lành viết thương của mình bằng cách nhìn lại quá khứ và bạn cũng không thể tạo dựng được một tương lai tốt đẹp cho con cái mình bằng thù hận. Quá khứ cần thuộc về quá khứ. Tương lai là cách duy nhất để đem lại sự an bình và hạnh phúc cho mình và tạo dựng tương lai tốt đẹp cho con em của bạn.” Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào tương lai và mọi công việc của tôi là đầu tư vào tương lai. Đối với tôi, giáo dục là tương lai, tương lai của những thế hệ trẻ, tương lai của Việt Nam, và cũng là con đường tốt nhất đi tới phồn vinh cho một đất nước như Việt Nam.
Về gợi ý nói trên của Bộ Trưởng Trần Hồng Quân, tôi đã tìm hiểu nhiều nhà cung cấp giáo dục khác nhau ở nhiều nước. Chi phí hoạt động của các trường nổi tiếng bên Mỹ thường rất cao và không khả thi đối với Việt Nam. Các rào cản về mặt chính trị cũng vẫn còn đó giữa hai cựu thù và không dễ vượt qua chúng. Mặc dù Pháp có ảnh hưởng mạnh đối với giáo dục của Việt Nam trong quá khứ, lúc đó họ không có bất kỳ dự án đầu tư đáng kể nào vào giáo dục tại Việt Nam. Tại Australia, Đại Học Monash và Đại Học RMIT là hai nhà cung cấp giáo dục tích cực nhất cho nhiều nước trên thế giới, đặc biệt tại khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Giữa hai trường này, tôi chọn RMIT vì nhiều lý do: tôi từng làm việc cho RMIT và biết RMIT hơn Monash; khi đó RMIT đã có một phân nhánh tại Penang (Malaysia); và quan trọng hơn, tôi được cho biết rằng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo không hài lòng về Đại Học Monash do đã có tin đăng tải không đúng sự thật trên một số báo chí lớn của Australia sau chuyến viếng thăm nước này của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt năm 1994. Sau khi xem xét thận trọng nhiều nhà cung cấp dịch vụ giáo dục, tôi đã trình bày quan điểm của mình cho Bộ Trưởng Trần Hồng Quân. Ông đã khuyến khích tôi liên lạc với Đại Học RMIT.
Tôi đã chuyển lời nhắn của bộ trưởng cho Giám Đốc David Beanland của Đại Học RMIT và ông này sau đó đề nghị rằng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo gửi cho ông một bức thư mời RMIT thăm dò khả năng thành lập một trường đại học tại Việt Nam. Tôi đã thông báo cho Giáo Sư Quân về đề nghị của Đại Học RMIT và ông yêu cầu tôi thảo bức thư và tôi đã làm điều đó. Giữa tháng 4 năm 1996 ông đã ký vào bức thư.
Giáo Sư David Beanland nhận được thư của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo mời nghiên cứu ý tưởng thành lập một trường đại học quốc tế tại Việt Nam khi ông đến thăm thành phố Hồ Chí Minh. Tôi đã thảo luận với ông nhiều vấn đề chính liên quan tới hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam, các xu hướng tái cấu trúc nó, và những lĩnh vực giáo dục mà Việt Nam cần cải cách. Tôi cũng tóm tắt cho ông Beanland biết về những tư duy đằng sau lời mời của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Cuối cùng tại khách sạn Norfolk (thành phố Hồ Chí Minh), Giáo Sư Beanland đã thảo một bức thư trình bày quan điểm của mình về khả năng một trường đại học quốc tế có thể phải làm để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và tôi đã đánh máy bức thư đó trên máy tính tại văn phòng liên lạc của Đại Học RMIT tại 51A Phạm Ngũ Lão, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.



























































































