Viên Linh
Rồi mai khởi sự xa đời
Chuyến xe trăm tuổi đưa người nghìn năm
Trăng sao bốc cháy chỗ nằm
Áo xanh mấy lá vết bằm núi non.
(Hoàng Trúc Ly, Vĩnh Biệt)
Vào một ngày cuối năm, tháng một tháng chạp âm lịch cũng như dương lịch 1983, nhà thơ Hoàng Trúc Ly (1933 – 1983) đột ngột lìa đời ở tuổi 50, cả chục năm sau người viết bài này mới được tin đích xác, đã đôi lần cầm bút, hay ngồi trước bàn máy viết về người bạn cũ trong nhiều năm cùng cộng tác trên những tờ báo đủ loại, từ nhật trình tới tạp chí: Dân Ta, Dân Tiến, Khởi Hành, Thời Tập, những năm 60 và những năm 70 tại thủ đô văn hóa miền Nam. Lần này là một bài viết khác, lần này là một cuộc phỏng vấn mới tìm thấy: bài phỏng vấn phổ biến lần đầu vào tháng 7, 1974. Chủ đề của số báo là Thi Ca, trong đó thi sĩ Hoàng Trúc Ly đã nói sự thật về ông, từ tình yêu tới bản thân, tính liêm khiết tinh thuần chỉ một nhà thơ có bản lãnh mới nói được, những sa đà của men rượu những mù mịt ảo huyền của khói biếc nhựa nâu và xã hội hỗn độn, và cả lời la mắng cho những kẻ không biết gì về thơ mà đã cầm bút phẩm bình về thơ, ông không ngại nói thẳng danh tính họ, là họ đang làm một việc “ngu si và lếu láo.”

Trong đám cưới nhà thơ Hải Phương tại Sài Gòn, hàng ngồi từ trái qua Hoàng Trúc Ly, tài tử Huy Cường, Viên Linh, Đinh Cường. (Hình: Viên Linh cung cấp)
Hoàng Trúc Ly và Thơ Văn
VIÊN LINH: Tính đến năm nay (1974) anh đã làm thơ được bao nhiêu năm?
HOÀNG TRÚC LY: Cũng hơi lâu, từ những năm tôi còn con nít, tập thơ đầu của tôi, một phần đã đăng trên các báo Đời Mới, Nguồn Sổng Mới, do Hoàng Trọng Miên chủ bút, khoảng 1953-54.
V.L.: Liệu anh có dành hết cuộc đời của anh cho thơ không?
H.T.L.: Đời một người như tôi đâu có quá dài, giá không dành hết cho thơ, cũng gởi trọn vào nhà thương thí, hoặc một nghĩa trang hoang tàn… Lời tự thán của học giả Trương Vĩnh Ký ngày trước, tuy mộc mạc mà hay, quá hay:
Học vấn gởi tên con sách nát
Văn chương còn lại cái quan tài?
V.L.: Thi sĩ là ai trong cuộc đời?
H.T.L: Là ai? Chính nó làm gì biết nó là ai? Phải chăng là đứa con của nữ thần yêu đương Aphrodite, bị lợn rừng xé xác, từ dòng máu diễm lệ vươn lên một cánh hoa Anemone?
V.L: Nhà thơ nào cùng thời đại anh làm anh lưu ý. Và anh nghĩ gì về nhà thơ ấy?
H.T.L.: Tôi đã và đang suy nghĩ chưa được câu trả lời.
V.L.: Còn đối với một nhà thơ lớn (mà anh chọn) ở Việt Nam?
H.T.L: Ở Việt Nan!? Lại càng… sốt ruột!
V.L.: Đối với thời đại này, vai trò nhà thơ có nghĩa gì?
H.T.L.: Bây giờ và nơi đây, nói ra không được. Tôi mơ mộng trở lại thời đại Plato, nghe bậc thầy của Aristote đề nghị tống cổ bọn thi sĩ, sau khi tặng vòng hoa. Cũng… “thơm” quá!
V.L.: Ngoài việc làm thơ anh còn viết loại văn nào? Giữa văn xuôi và thơ, anh thích thơ hay văn xuôi?
H.T.L: Truyện ngắn. Truyện dài. Biên khảo. Dịch thuật. Mê thơ hơn, cố nhiên. (1)
V.L: Cuộc sống ngoài thơ văn của anh hiện nay ra sao?
H.T.L.: Thê thảm. Với tôi, tự tử là một thú vị. Hy vọng tôi gặp cái chết trong tương lai thật gần. Nhiều khi tôi lại đinh ninh đã chết thật rồi, đang là bóng ma. Ôi chao! Làm con ma thì còn tự tử mà chi?
V.L: Những bài thơ xuất thần của anh thường đến như thế nào?
H.T.L: Tôi tự xem chưa có bài thơ nào xuất thần, nhân đó cũng muốn tìm hiểu bởi đâu và như thế nào một bài thơ xuất thần sẽ đến?
V.L.: Theo anh, Đường Thi có địa vị nào trong lịch sử thi ca Việt Nam?
H.T.L: Đời Đường, học thuật chú trọng từ hoa, Đường Minh Hoàng lại là ông vua Numa-Pompilius, dù không có Egérie. Đường Thi là tiếng hót một loài chim tuyệt diệu, mang trên đôi cánh thông điệp huyền ảo của Thơ. Vang và bóng bao trùm không riêng gì lịch sử thi ca Việt Nam, mà cả thế giới. Tình và mộng ấp ủ không riêng gì tâm hồn Việt Nam, mà cả trái tim nhân loại. Mường tượng như ở Pháp, duy triều đại Louis XIV mới quy tụ nổi những Racine, Cor- neille, Bossuet, Turenne… Khổ thật! Người ta có thể dịch thơ, rất khó dịch nổi cái hay trong thơ. Phải là thi sĩ có kích thước Tản Đà mới dịch thơ Lý Bạch, Thôi Hiệu… Nếu không, chỉ thác lời, thác ý mà chả thác được hồn mộng, còn gì hồn thơ, nhất là thơ Đường?
V.L: Tuổi tác có là một động lực lớn hơn để viết?
H.T.L: Tài không đợi tuổi. Dù sao, người lớn chớ khá mừng nếu có ai khen con em… thần đồng, bởi “thần đồng” thì “ngu lão.” Xin chọn một tiêu chuẩn trung bình, tránh tác họa: Hoặc vì quá trẻ mà ngô nghê, hoặc vì quá già mà lẩm cẩm. Đây không là luật, nhưng là lệ, hiển nhiên có ngoại lệ. Jacques Prévert già rồi, hãy còn được say đắm là “người tình nhân của Paris…”
Tôi yêu vạn cánh buồm giăng mắc
Ven bờ biển Thái Bình Dương xanh ngắt
Mười phương gió tanh tanh
Như thịt người hòa trong máu tinh anh
Tim biển cả bao giờ nguôi thổn thức?
Tôi nghe bao la
Ngàn năm mây trắng quyện Hồng Hà
Quê hương thẹn thùng môi trinh nữ
Rượu,
Đường thi ngà say men Trang Tử
Đêm Á Châu huyền diệu trăng sao
Cánh sen bừng nở
Một sớm hoa đào
Đời lại gần như trăng sắp vươn cao
Bình minh vàng nội địa
Cỏ hợp tấu muôn màu
Đường đời bao ngả lạc
Ai biết ai về đâu
Ân tình đi rải rác
Ai xây một nhịp cầu
Hai mùa duyên chắp nối
Ngàn xưa qua ngàn sau
…
(Hoàng Trúc Ly, Chắp Nối)
Hoàng Trúc Ly, bản thân và những người khác

Thi sĩ lúc sinh thời và ngôi mộ bia Hoàng Trúc Ly (Đinh Đắc Vị). (Hình: Đinh Đắc Nghĩa ở Los Angeles cung cấp cho Viên Linh)
V.L.: Anh có những tật gì có thể nói ra được, nếu anh có thể nói?
H.T.L.: Những tật gì có thể nói ra à? Vâng, nói thì nói, có sao đâu? Trước hết tôi mê gái, thấy con gái là sáng mắt lên. Rất tiếc, chả có gái nào chịu mê tôi, nên vào lứa tuổi 40 tôi vẫn không vợ con, không tình nhân, lạnh lẽo như chiếc mền rách. Thôi, đành lang thang công viên hè phố, nhìn cảnh ái ân thiên hạ rồi trở về làm thơ ca ngợi: Đời quá đau thương mà vẫn đẹp.
Người yêu tóc xõa tròn vai
Nửa đêm da thịt quên cài áo khuya
Xác thân rã mục lời thề
Mùa đi lá rụng đường về xuân thu.
(Hoàng Trúc Ly, Hàng Cây Bên Đường)
Tiếp theo, tôi mê thuốc phiện, từng hoãn dịch và bị ra tòa về tội ghiền ma túy, giá không có người bạn thi sĩ Đào Minh Lượng và một vị biện lý ở Gia Định, chắc tôi ở tù. Ngông nghênh cũng ngán ngồi tù, tôi vĩnh biệt nàng tiên nâu, với sự giúp đỡ của bác sĩ Nguyễn Tấn Chức, cùng ba ông bạn “bụi đời” Nguyễn Đạm, Nguyễn Diệp Đào Hoa Nguyên và Tiểu Mạnh Thường (Xin nói một lời cảm tạ tất cả ân nhân).
À, tôi còn mê rượu. Rất tiếc (lại rất tiếc), tôi không tiền uống rượu Tây, phải uống rượu đế. Tôi thừa biết rượu đế khá độc, nhưng… ăn thua gì? Một ánh mắt mỹ nhân đủ ám sát đời ta, hà tất e ngại rượu sẽ đốt cháy tim, gan, bao tử? Âu cũng là cách “tự tử dần dần”…
V.L.: Ý kiến của anh về sự phẩm bình?
H.T.L: Thuở Tam Ích chưa về thiên cổ, những chiều mua gối đầu lên nhau bên mâm đèn, anh ấy thường nhắc nhở chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, thời Cụ làm chủ báo Tiếng Dân. Huỳnh chí sĩ tự xem là cây tùng, cây bách, sá gì gió táp mưa sa, mặc ai công kích, phẩm bình, Cụ thản nhiên tiến vào đại mộng. Vậy mà có báo Tiếng Dân đăng bài Cụ Huỳnh “trân trọng đáp lời ông Trúc-Lâm,” vốn là bút hiệu đầu tiên của Tam-Ích ngày trai trẻ. Lý do: Bài phẩm bình sáng tỏ một kiến thức, nhất là một tư cách cao quí, khiến người bị chê trách không giận, còn lấy đó làm vui. Một tư cách?
“Ôi! Thương ai như người xưa ngày xưa…” Hôm nay, có những “phê bình gia” dám mượn cơ hội văn chương hầu nịnh bợ, ví dụ: Thơ ông tổng trưởng, thủ tướng này quá hay, thơ bà dân biểu kia hay quá! Để rõ thực hư; xin tìm đọc những kiệt tác của đại tá Nguyên Đ. T. [chúng tôi viết tắt lần này].Tôi bỗng nhớ Le revoỉver à cheveux blancs, và muốn thét lên rằng: Lạy đại tá! Đại tá là người tùng dày công hãn mã, từng rút súng bắn bao nhiêu người, nay có lẽ khẩu súng lục của đại tá cũng sắp có… tóc bạc rồi. Vậy xin ông hãy chờ ngày vui thú điền viên, đừng xía vào văn chướng chữ nghĩa: Vừa ngu si, vừa lếu láo!
V.L.: Điều nào đảng ca ngợi nhất trong đời sống một người?
H.T.L.: Nỗi kiêu hãnh. Tôi nhắc lai, một nỗi, không phải một niềm. Thời loạn, kẻ sĩ thường bị ngược đãi cô đơn, nỗi kiêu hãnh là vũ khí tự vệ duy nhất, cần thiết . Không thích sống nữa hãy tự do tim lấy cõi chết, cao ngạo và bí mật như con voi già về bãi tha ma trên núi non. Nghệ thuật đôi khi quyền phép như tiên tri Etisée, khả dĩ hồi sinh một hài nhi đã chết. Vậy một đời nghệ sĩ như Tam Ích, sợi dây siết cổ nào có nghĩa gì? Một thoáng – chỉ một thoáng thôi – ngột ngạt, sau đó, cõi chết tìm thấy đày thanh tịnh, tài hoa mà khinh bạc xiết bao. Xin nghiêng mình…
V.L.: Còn đáng khinh nhất?
H.T.L: Sự giả dối. Nói như André Gide, đại đế Nã Phá Luân chỉ là tên cướp. Vậy ăn cướp vẫn chưa đến đỗi tồi tệ, còn tùy thuộc vào bất hạnh hoặc may mắn. Đáng khinh chăng là vừa ăn cướp vừa la làng…
V.L.: Hỏi anh một câu dài, một câu có thể thật dài. Trong 20 năm nay ở miền Nam, anh thấy thi ca biến đổi tuần tự như thế nào. Những biến đổi ấy có thể kể là sự biến đổi từ – khuynh hướng này tới khuynh hướng khác không?
H.T.L: Anh nói đúng: Câu hỏi chẳng những thật dài còn thật nặng, chỉ vài trang tạp chí chở sao cho hết? Gia đĩ tại xứ này những gì tạm gọi là khuynh hướng, là trào lưu, thật lờ mờ, vang và bóng lay động nhất là những tai họa. Tai họa thi ca! Ôi! Tai họa vây phủ khắp trời!
Chú thích
1. Tác phẩm Hoàng Trúc Ly: Trong Cơn Yêu Dấu, thơ, 1963. Đêm Dài Muôn Thuở, 1965. Tiếng Hát Lang Thang, 1965. Huyền Sử Một Kiếp Hoa, 1967. Từ Em Đến Anh, 1967. Vài cuốn truyện thần kỳ, cổ tích, gom lại những bài viết cho trang trong các nhật báo Dân Ta, Dân Tiến,…



























































































