Kỳ 246
Chương Bảy
Cướp đoạt
I
Tiếng còi xe bấm ở ngoài, Miên nhét vội lá thư của Kha vào ví tay rồi đi ra. Chiếc xe du lịch hạng lớn sơn màu vàng xám và có hàng chữ cùng dấu hiệu của Thủy Quân Mỹ đã đợi nàng trước cổng nhà thương. Nàng chỉ vừa kịp đóng cửa, chiếc xe đã rồ máy vút về trại tạm trú của đồng bào di cư, phía ngoại ô Hải Phòng, sát bên đường số 5. Tới cổng trại Miên xuống xe, có tiếng động miên man chát chúa nhưng thân mật trên đỉnh đầu: đó là chiếc phi cơ trực thăng của Hải Quân Mỹ đương bay trên vùng trại phun thuốc ÐT xuống. Miên tung tăng tới khu bệnh viện của trại giữa vùng hương nồng thuốc sát trùng. Nàng mở ví nhìn lá thư của Kha lần nữa. Một quân nhân Mỹ cao lênh khênh từ trong lều y tế bước ra, trên vai y có con vượn nhỏ, chân dài ngoẵng, lông đen đốm trắng. Người lính chào Miên thân mật bằng tiếng Pháp, nàng đáp lại cũng bằng tiếng Pháp. Câu chuyện giao dịch hàng ngày giữa nàng với vị bác sĩ quân y trẻ tuổi Mỹ cùng hai người quân nhân giúp việc ông đều dùng tiếng Pháp làm trung gian.
– Bác sĩ đến chưa anh Larry?
– Bác sĩ đương chờ cô, mời cô vào.
Miên xuống làm việc tại nhà thương Hải Phòng được hơn hai tháng thì bắt đầu cuộc di cư. Thoạt là hàng vạn người từ các ngả nội địa đổ về Hải Phòng, tự dựng lấy lều bằng chiếu hay vải bạt la liệt khắp các đường phố. Cảnh đó thê thảm và kêu gào cấp cứu như hệt cảnh năm đói – 1945 – dân chúng từ vùng quê đổ về thành thị, tuy nhiên lần này người dân Hải Phòng cũng như bất cứ người ngoại quốc nào – lính Pháp, lính Mỹ – đều nhận thấy trên những gương mặt thiểu não đó còn gờn gợn một cái gì khó tả, một sự nhẫn nại mệt mỏi nhưng dai dẳng, một nguồn nghị lực vừa bị phạt chém cho tan tác nhưng không chịu tàn lụi. Chính cái vẻ đặc biệt đáng kính ấy đã khiến ủy Ban Di Cư Hải Phòng bỗng có bộ mặt một Ủy Ban Di Cư quốc tế với sự trực tiệp giúp đỡ của Hải Quân Hoa Kỳ, của cơ quan Ngoại Viện Hoa Kỳ, của số lính Ma Rốc trong quân đội Liên Hiệp Pháp (những người lính da đen này tới giúp việc dựng lều). Thế là trại tiếp cư đầu tiên được thành lập làm nề nếp cho nhiều trại kế tục. Chỉ một tháng sau cả một khoảng đồng ruộng mênh mông và tương đối khô ráo vùng ngoại ô Hải Phòng, bên lề quốc lộ số 5, biến thành một thành phố lều, đó cũng là một thứ thành phố nằm trong một tình trạng đặc biệt. Bác sĩ bệnh viện giám đốc Hải Phòng vốn biết đức tính tận tụy của Miên bèn cử nàng đến khu bệnh viện của trại này để phụ tá cho vị bác sĩ quân y trẻ tuổi người Mỹ do Hạm Ðội Thái Bình Dương (đậu ngoài khơi vịnh Hạ Long) cử vào.
Ðồng bào di cư ngày một tới đông, gặp khi lều mới chưa kịp dựng, họ đành chen chúc trên trăm người trong một lều cũ, tuy vậy nhờ cách tổ chức đã có nề nếp hợp lý nên sự tiếp tế không đến nỗi khó khăn cho lắm và về y tế thì chỉ cần chịu khó, không biết mệt – hai đức tính này Miên có thừa – là có thể tuần tự thăm nom, săn sóc bệnh nhân đến người cuối cùng đầy đủ và kỹ lưỡng từng ngày. Ðặt người đúng chỗ, công việc trôi nhẹ như con thuyền thuận dòng và xuôi gió. Sự tận tâm săn sóc không biết mệt của Miên còn là hình ảnh của câu “máu chảy ruột mềm” dưới con mắt quan sát đầy thiện cảm của vị bác sĩ Mỹ. Thoạt mấy ngày đầu ông hỏi Miên: “Cô đã mệt chưa?” Rồi mấy ngày sau câu hỏi trên chuyển thành: “Cô không mệt chứ?” Khi thì Miên trả lời: “Thưa ông chưa ạ,” khi thì là câu trả lời thầm lặng bằng nụ cười minh mẫn và tia nhìn dịu dàng tỉnh táo.
Kha trên Hà Nội vẫn viết thư đều xuống cho nàng. Mặc dầu trong thư Kha vẫn gọi nàng bằng “cô” và xưng “tôi,” mặc dầu lời lẽ trong thư tuyệt nhiên không hề đả động đến tình yêu, nhưng vẫn có cái gì bàng bạc mách cho nàng hay Kha đã là của nàng.
Cô Miên,
Chẳng còn bao nhiêu ngày nữa đến lượt Hà Nội bị tiếp thu. Chuyến này tôi về thăm làng lần cuối rồi xuống Hải Phòng đợi cô cùng vào Nam. Nhìn cảnh Hà Nội hoang vắng tôi lại nghĩ đến cô từng ao ước được thăm khu rừng lau trên núi sáng, Bỉnh Di. Cô còn nhớ chứ, màu xanh cẩm thạch dạt dào hay màu tím phớt vào mùa hoa, cả hai màu đều làm cho khu rừng xa đẹp một vẻ đẹp hoang đường.
Tôi vẫn nghĩ rằng mọi người chúng ta ai cũng mang trong lòng một khu rừng lau. Có kẻ chẳng bao giờ đạt tới, có kẻ đạt tới rồi hủy hoại chính khu rừng đó như chuyện con chó ngu xuẩn thả mồi bắt bóng. Tin tức và hình ảnh đồng bào khắp nơi vượt mọi gian lao để tới Hải Phòng đã được phổ biến khá sâu rộng tại bất cứ nơi đâu còn là đất quốc gia đặc biệt những hình ảnh sỉ nhục cho ông Hồ đã đăng tải trên các tạp chí lớn bên Âu Châu và Mỹ Châu; đó là những hình ảnh hàng ngàn người xuất hiện trên bãi bể Bùi Chu, hình ảnh họ kéo lê chiếc bè lao vào lớp sóng bạc đầu, hình ảnh họ chen chúc trên chiếc bè mong manh, đàn bà phải đứng bế con, ống chân ngâm dưới nước quên mỏi, nhưng phần người bên trên thì rét run, đàn ông khom lưng cố chèo ra khơi cho kịp ngưỡng chuyến tầu đương thân ái há mồm đợi đớp lấy họ rồi xả hết tốc lực ra khơi xa nữa đề chuyển họ sang những vận tải lớn hơn…



























































































