Kỳ 250
May sao Lễ vừa ra đi ít bữa thì Hoạch được tha về. Thoạt cụ chắc mẩm Lễ sẽ quay lại, lần này cụ sẽ sẵn sàng thương cả hai (thằng bán nhà và con mèo mả gà đồng) nhưng rồi thấy ngày một bặt tin thì cụ hiểu rằng con giun xéo lắm cũng quằn và Lễ đã cương quyết ra đi không hẹn ngày về nữa.
Tám năm qua! Bây giờ cụ càng thấy thương Lễ. Ðã có một chiều Ba Mươi Tết, sụp lễ trước bàn thờ ông bà ông vải đèn nến sáng choang, cụ khấn xin hương hồn chồng run rủi cho Lễ quay trở về, sau đó cụ ra ngồi ngoài hiên thẫn thờ nhìn về phía cửa ngõ rồi lơ đãng hỏi Hoạch: “Không biết thằng Hai bây giờ nó ở đâu con nhỉ?”
Nỗi buồn chồng chất không có cách gì làm cho khuây khỏa được. “Có thể là – cụ nghĩ – thằng Hai đã chết đường chết chợ rồi!”
Ðã mấy lần cụ định dạm vợ cho Hoạch, Hoạch nhất định từ chối. Không phải là ông còn hoạt động cách mạng nhưng hình ảnh cùm kẹp, tù đày còn nóng hổi trong óc, ông tưởng chừng lũ chó săn thực dân có thể xổ tới bất cứ lúc nào bắt ông đi, ông không muốn dính líu vào cảnh vợ con làm khổ lấy đến người khác. Tự nhiên sang năm 1928 ông xin mẹ hỏi cho cô con gái trưởng của cụ Huấn đạo làng bên. Cụ Huấn nguyên là lãnh tụ của ông, sau đó cụ Huấn tiếp tục hoạt động và trở thành một trong những lãnh tụ đảng Tân Việt đã ngầm tổ chức những cuộc bãi khóa và những cuộc biểu tình vào dịp đám tang cụ Phan Chu Trinh mấy năm trước đây. Cụ bị thực dân huyền chức, trở về quê sống túng bẩn và đau ốm luôn, ông Hoạch xin làm rể cụ để thầy trò được gần nhau và do đó an ủi thầy đôi phần. Nhưng bệnh tình cụ chợt nặng bất ngờ và mất ngay để lại cụ bà và hai cô gái. Cụ bà vốn là trưởng nữ một vị án sát, sống đài các từ nhỏ, mặc dầu nhà túng bẩn cụ vẫn giữ trọn vẹn nếp sống đúng với câu “giấy rách giữ lấy lề.” Tại làng có một khu bãi rộng, bên Ðạo thoạt cho xây tường giễu xung quanh dự định làm khu nghĩa địa riêng cho những người Gia Tô giáo, sau đến mấy vị hưu quan thất tộc, an táng vào đó, người làng bèn đặt cho cái tên là nghĩa địa Tây, ngầm ý chỉ những người giàu sang và thế lực như Tây mới chôn ở nơi này. Có lần cụ bà lên Hà Nội gặp một đám ma Tây, thấy đám đầm – vợ đầm – con mặc tuyền hàng đen trông nghiêm trang hẳn, cụ ưng ý lắm. Vì thế khi cụ ông nằm xuống, cụ bà nhất định bán nốt mẫu ruộng còn lại để lo ma chay thật linh đình, thuê miếng đất trong “nghĩa địa Tây” làm nơi an nghỉ ngàn thu cho cụ ông; ngày đưa đám, cụ và hai cô gái mặc đồ đen tuyền để chở đại tang. Phải đợi hai năm sau đoạn tang, hai cô gái mới lần lượt về nhà chồng.
Trở lại chuyện cụ bà sinh ra ba ông Hoạch, Lễ, Thuật, chẳng bao giờ cụ được hưởng trọn niềm vui! Ðược thằng Cả chịu lấy vợ cho yên tề yên tất, đến lượt thằng Ba đòi đi Nam Kỳ! Ngày bé, Thuật ốm đau quặt quẹo luôn, nhưng lớn lên Thuật nuôi chí giang hồ muốn đi xa lập nghiệp. Năm 1930, Thuật vừa hai mươi mốt tuổi, đúng năm Nguyễn Thái Học cùng mười hai đồng chí lên đoạn đầu đài đền nợ nước ở rừng Yên Bái, thực dân mở một chiến dịch truy nã những người tình nghi.
Thuật chắc cũng có hoạt động chút ít bèn vịn vào cớ đó xin phép mẹ đi Nam Kỳ lập nghiệp cho yên thân. Cụ vốn không quên trước đây Hoạch đã bị bắt, mà tin tức bắt bớ ở các vùng lân cận làng nhà lãnh tụ Nguyễn Thái Học thì hằng ngày cụ được nghe đồn, cụ đành ưng cho con xa mình còn hơn ở lại mà có thể bị tù đày như thằng Cả. Nhưng khi Thuật đi rồi cụ mới hối, cụ thấy lòng đau quặn, cụ thương mình giờ đây gần như cô độc, chỉ còn vợ chồng thằng Cả ở nhà. Cụ thương thằng Ba và càng nghĩ càng thương thằng Hai tha phương cầu thực. Một năm… hai năm… cụ sống lòng nóng ruột, vì thằng Ba ra đi cũng biệt vô âm tín nốt.
Sang đến năm thứ ba, Trời, cụ mới nhận được tin thằng Ba.
Trong lá thư dài đó Thuật kể lại với mẹ là năm đầu tới Sài Gòn ít bữa, cậu xin được học bổng vào trường Mỹ Thuật Ðồ Gốm Biên Hòa; năm sau cậu bỏ trường Mỹ Thuật Biên Hòa, vào giúp việc một hãng thầu chuyên cung cấp vật liệu cho nhà binh Pháp, kiếm được khá nhiều hoa hồng, cậu viết thư này về xin mẹ cho phép thành hôn với một cô gái cũng là con một gia đình người Bắc vào lập nghiệp trong này trước cậu chừng vài năm. Cuối thư Thuật tha thiết nhắc đến anh Hai và hỏi mẹ đã tìm ra tung tích anh ở đâu chưa?
Lời nhắc của thằng Ba chẳng khác mũi dao lá lúa khơi trúng vết thương khép hờ trong tâm can cụ. Tiếng thở dài của cụ y hệt lời than thầm: “Hai, con bỏ mẹ ra đi biệt tích vậy sao đành, con?” Kèm theo với bức thư có chiếc hình nhỏ của “con bé.” Cụ nheo mắt ngắm nghía bức hình. “Con bé” không chít khăn như gái Bắc mà lại búi tóc củ hành phía sau theo kiểu gái Nam, khuôn mặt sáng sủa, xinh xắn. Cụ bảo Hoạch biên thư vào cho Thuật hay là cụ ưng cho Thuật lấy con bé Bắc đó. Cụ chớp chớp mắt để chạy trốn một ý nghĩa vừa thoáng hiện thành câu hỏi thầm “sao trước đây mình lại chẳng ưng cho thằng Hai lấy con bé mồ côi kia?”
Cụ ốm! Bệnh tình xem ra khó qua khỏi. Cụ thấy hiển hiện rạch ròi trong trí hình ảnh Lễ ngày nào cặm cụi quét sân, quét nhà, dọn dẹp vườn tược, theo cụ ra đồng rồi làm theo lời cụ sai: cày bừa, gieo mạ, gặt lúa, gánh lúa. Có một buổi chiều ánh hoàng hôn bừng sáng, bóng Lễ gánh hai quang lúa nặng đổ về phía sau. Thấy Lễ rảo bước quá nhanh theo nhịp kĩu kịt của đòn gánh, cụ quát: “Ði gì mà như đi ăn cướp ấy, thằng bán nhà!” Ngày nay nhớ lại, cụ bỗng thấy bóng hiếu hạnh của Lễ lớn lên rất nhanh thành khoảng rợp tựa như cỏ cái lọng lớn che cho cụ. Cụ ứa nước mắt gọi thầm: “Hai đâu, con ơi”!



























































































