Khu Rừng Lau (Kỳ 34)

 





“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.




 


Kỳ 34


 


Ngày về tới làng, cô gái lớn của bà vừa mười sáu, tên cô là Nẵng – cô sinh ở Ðà Nẵng – hồi đó ông Mão còn mang lon Cai. Cô gái thứ hai kém cô chị hai tuổi, mười bốn, tên là Nhơn – cô sinh ở Quy Nhơn – đúng vào năm ông Mão lên lon “Cai Xế”. Cậu út sinh ở Gia Gòn mới lên ba. Quãng cách mười năm đó đúng vào thời gian “Rồng Nam phun bạc, đánh đuổi Ðức tặc” và ông Mão lên chức đội, sang Tây dự chiến. Cậu út này mang tên là Tài. Lẽ ra cậu phải tên là Goòng mới đúng lề lối của ông bà Quảng thường lấy địa danh nơi sinh đặt tên con làm kỷ niệm. Nhưng có lẽ ông Quảng thấy tên Goòng không hay và đúng vào thời thần tài mở rộng cửa, ông Quảng sau một cái tặc lưỡi bèn bảo bà Quản đặt tên cho thằng bé là Tài.


Về đến làng Hạc Thủy thì một năm sau Nẵng đi ở riêng, chồng là người làng bên. Năm sau nữa đến lượt Nhơn đi lấy chồng người cùng làng. Ðúng vào năm cha Miên mất! Bà Quản vốn tính tình rộng rãi nhân đức bèn nhận nuôi cả ba anh em mồ côi đó: Hiển, Miên, Mẫn.


Hiển, Miên và sau này Mẫn nữa tuy có phải làm việc nặng nhọc nhưng ngày ngày nửa buổi sáng vẫn được theo học trường làng. Căn nhà nhỏ, mảnh đất của ba anh em ở ngay sát bên nhà bà Quản vẫn được rào dậu kín đáo.


Cứ như vậy ba năm qua…


Chợt một hôm có một người lạ đến tìm ba anh em mồ côi, người đó tự xưng là chú ruột. Câu chuyện thật nhiều uẩn khúc! Ba anh em khi đó nào đã biết đâu cảnh cha mình thủa nhỏ bị hất hủi rồi hai vợ chồng bỏ làng lên đây. Hiển vừa mới mười bốn tuổi, qua lời kể của ông chú, cậu bé chỉ lờ mờ hiểu rằng bà nội cậu mất đã được hai năm nay, tên ông chú này là Thuật, tên cha mình xưa là Lễ và trên ông Lễ còn người anh trưởng tên là Hoạch hiện cũng giàu lớn vì buôn chung với ông Thuật ở Sài Gòn. Chuyến đi này một công đôi ba việc, ông Thuật ra Bắc vừa để thực hiện một việc kinh doanh vừa để thăm nơi chôn rau cắt rốn vừa để lên huyện Lập Thạch tìm hiểu gia đình ông Lễ. Ông đã lần mò hỏi thăm đến làng Hạc Thủy thì chỉ còn được thấy ba đứa cháu mồ côi. Ông ngỏ ý với Hiển là sẽ mang Mẫn vào Nam nuôi cho ăn học. Lời đó thoạt nghe Hiển tưởng như một tia sét từ lưng trời bổ xuống đầu mình. Tin đó đến tại Miên nàng òa khóc ôm lấy em.


Bà Quản mời ông Thuật ở lại trại mấy ngày; vì việc kinh doanh ở Hà Nội đã sớm thu xếp xong ông nhận lời. Bốn chú cháu được dịp chung sống gần nhau để hiểu nhau. Ông Thuật đã ở lại trại đúng một tuần lễ. Trước khi đem Mẫn cùng đi, ông mang Hiển và Miên đến ủy thác cho gia đình một người bạn buôn già ở Hà Nội. Lẽ ra với sự quảng giao của ông, ông có thể xin cho Hiển học ở Lycée Albert Sarraut, ngặt vì Hiển đã quá lớn tuổi mà sức học lại non quá. Sau cùng ông đành cho Hiển, Miên học tư ở ngoài, cùng một trường để anh em trông nom dẫn dắt lẫn nhau. Ông hứa tháng tháng sẽ gửi tiền đều đều cho. Ông đã làm như lời.


Vốn là con nhà nghèo, ông chú thỉnh thoảng có viết thư báo cho hai anh em biết về sức khỏe và việc học của Mẫn (Mẫn học ở Lycée Chasseloup Laubat). Tuyệt nhiên không có lá thơ nào của chính tay Mẫn viết. Miên được Hiển phân tích và giải thích cho hay là ông chú hẳn có ý muốn độc chiếm Mẫn nên tìm cách cắt đứt mọi liên lạc trực tiếp giữa Mẫn với anh và chị. Sự thực Hiển đã hiểu lầm! Ðâu phải ông cốt ý như vậy, ông đã có một gái và một trai, ông hiện tới mức buôn bán quốc tế, công việc giấy má giao thiệp thật bề bộn, thỉnh thoảng ông còn để được chút thì giờ viết cho hai cháu ở Bắc đã là chu đáo lắm. Mẫn còn trẻ người non dạ, phải có người bảo người giục mới viết, ông Thuận còn làm gì có thì giờ giục Mẫn viết thư, gà Mẫn viết thư?


Cũng trong khoảng tám năm ấy, vào các dịp lễ nghỉ nhiều ngày, cùng suốt các vụ hè ba tháng, Miên đều được Hiển đưa về Lập Thạch. Hai anh em qua lại thăm hỏi rất thân mật bà Quản và thực tình coi bà như mẹ nuôi. Bà Quản đã giúp hai anh em sửa sang lại căn nhà cũ của cha mẹ để ở. Ðặc biệt chiều ba mươi Tết năm nào hai anh em cũng về làng để vác xẻng cuốc ra đồng tảo mộ cha và mẹ chôn bên nhau trong cùng một thửa ruộng.


Tài, cậu con út bà Quản, đồng niên với Hiển, cũng lên Hà Nội học từ mấy năm nay nhưng mới đỗ xong Thành Chung. Tuy hai người học ở hai trường ít gặp nhau, nhưng vẫn nhớ nhau quý nhau và mỗi dịp hè là một dịp vui gặp mặt họ.


Miên lớn lên, tính tình càng thùy mị nhiều khi đến rụt rè. Ðồ trang điểm duy nhất của Miên chỉ là chiếc nhẫn Saphir màu đỏ hoa lựu. Chiếc nhẫn này nàng mua vào dịp đầu Xuân năm mười bốn tuổi. Thoạt nàng đeo nó ở ngón giữa, sang năm mười sáu tuổi, nàng chuyển nó sang ngón đeo nhẫn, rồi tới năm nàng mười tám tuổi chiếc nhẫn được chuyển một lần cuối cùng sang ngón tay út. Kể từ ngày Miên tới tuổi đôi tám, Tài thường có thái độ rất lúng túng mỗi khi giáp mặt Miên. Lớn lên tới tuổi mười tám, dáng người Miên nhỏ nhắn với một vẻ dịu hiền từ nụ cười đến khóe mắt. Nàng như một nàng tiên nhỏ ngỡ ngàng vui với cảnh trần mà vẫn chưa biết mình bị đày xuống đó.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT