“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 96
VI
Lời cảnh cáo của chính trị viên đại đội không ảnh hưởng gì đến Duy Hoàn; hôm sau anh thuật đến quãng đời tham gia cách mạng của anh, thoạt là khoảng thời gian đi tuyên truyền trên chiếc xe ngựa và gặp Phương Thảo. Anh kể rất kỹ mối tình của anh với Phương Thảo, anh thuật rõ cả buổi ân ái dưới trăng trên mỏm Hòn Ðầu và niềm tin do linh tính báo là Phương Thảo đã ra người thiên cổ. Trái lại tới quãng đời gia nhập bộ đội chiến đấu, anh kể rất ngắn gọn, anh quên cả việc anh đã được thưởng huân chương chiến sĩ hạng nhất.
Cũng như Hãng, Duy Hoàn đã ngồi để anh em chất vấn hai đêm liền, Duy Hoàn không đơn giản và thẳng ruột ngựa như Hãng. Nếu Hãng có thái độ sẵn sàng nhận lỗi nếu quả đó là lỗi thật, Duy Hoàn trái lại có vẻ cương quyết âm thầm (âm thầm với anh nhưng thách thức với toàn ban học tập) của một một con ngựa già trở về đường cũ theo khe rừng lạch suối. Nếu Hãng giữ được thái độ hồn nhiên suốt từ đầu đến cuối buổi chất vấn thì Duy Hoàn càng về sau càng có thái độ nửa khinh mạn nửa chua chát nhưng luôn luôn giữ vững lập trường của anh và tuyên bố rằng đó là những lời thực ý nghĩa thực. Anh ngước nhìn người chất vấn chăm chú như nhìn ai, anh trả lời trầm trầm như còn đồng thời lắng nghe lời ủng hộ của An, của Phương Thảo ở thế giới bên kia; lời đáp của anh đôi khi như văng vẳng âm u trên một nền âm thanh cổ xưa của những bản Vương Cô Nương, Nhì Voòng, Kim Tiền…
Vừa hay có thêm một đồng chí tự vẫn vì phong trào tam phản. Một người dân địa phương có cảm tình với xẻ xấu số này bèn gửi vào cho chiếc áo quan. Phó chính ủy lãnh đạo phong trào học tập cương quyết khước từ và tập hợp tất cả anh em quanh xác nạn nhân – (Duy Hoàn được xếp đứng sát với phó chính ủy) – trịnh trọng tuyên bố tước đảng tịch, tước quân tịch, tước quyền công dân vì tội đã làm ô nhục thanh danh đảng, thanh danh quân dội, rồi cho vùi nông trên núi. Qua một đêm, hôm sau mất xác: Loài sài cứu đã mò tới bới mộ lên…
Duy Hoàn tuyên bố với tổ tâm giao sẽ thú nhận hết tội lỗi trong những trang phản tỉnh thư cuối cùng. Tổ tâm giao lập tức mật báo tin đó lên ban lãnh đạo học tập. Phó chính ủy Lê K. mỉm một nụ cười đắc thắng nói với thiếu tướng chính ủy: “Thưa đồng chí thế là chúng ta đã khám phá thêm một tên phản cách mạng, truy kích tơi bời thêm một kẻ thù của tư tưởng Mác-Lê”.
Tổ tâm giao quan sát thấy Duy Hoàn lục tận đáy ba lô lấy ra một quyển nhật ký cũ, rồi vừa đổi chiều nhật ký vừa hý hoáy viết bổ túc phản tỉnh thư dưới ánh đèn dầu leo lét. Tiếng violon của ban nhạc nỉ non bên ngoài, rồi giọng ca u sầu bài Bạch Mao Nữ: “Anh có nhớ chăng quê hương tơi bời khói lửa?”
Buổi tối khi Duy Hoàn lên ngồi sập, ban lãnh đạo học tập có cảm tưởng như hai bên má Duy Hoàn hóp hẳn, mái tóc bù lên, cả khuôn mặt thiểu não. Duy Hoàn đứng lên lảo đảo tưởng sắp ngất, nhưng anh bỗng cười thé, tiếng cười khác thường, ai nấy trố mắt ngạc nhiên. Tiếng cười ngắn và dứt ngay, vài người ở cuối phòng đã trí chưa kịp nhận ra thì Duy Hoàn đã cất tiếng nói:
– Tôi là một tên duy tâm không tưởng, tôi thật có tội với nhân dân, tôi thật là một tên Việt gian phá hoại đảng!
Tất cả phòng họp im lặng hồi hộp.
Duy Hoàn bắt đầu tự kể tội, bốn tội lớn.
Tội thứ nhất vào Tháng Giêng năm 1944 rắp tâm đầu độc anh vì anh đã quá nghiêm khắc với mình. Duy Hoàn kể tỉ mỉ mua năm viên gardenal, tán nhỏ, pha vào ấm nước, để trên table de nuit vì biết ông anh thường đêm đêm sực dậy uống nước; may thay đêm đó ông anh đã ngủ say một mạch đến sáng, nếu không Duy Hoàn đã thành người giết anh, một ông anh vô cùng gương mẫu đã thay cha nuôi mình ăn học nên người.



























































































