Chiếc phi cơ hung thần xuất hiện bất ngờ đó lại đương bất ngờ lao vút tới đúng hướng hai người đương đi. Chủy quay phắt lại. Người bố ôm con đứng co rúm như cua gặp ếch bên khoảng huyệt mới bốc mộ sâu hoắm. Chủy nhanh tay đẩy mạnh. Hai cha con ngã lăn chiêng xuống. Nhún cẳng định lao theo. Quá muộn rồi! Mấy đường lạnh xuyên qua cơ thể vật Chủy ngã sấp. Hai cha con dưới huyệt thấy đất tứ bề bắn tung, rồi tiếng nổ ran kinh hoàng cùng bóng chiếc phi cơ sát nhân đen ngòm lướt qua, lướt nhanh như muốn biến thành đường vải liệm không gian, tiếng động cơ hung dữ, chát chúa, rung chuyển, đảo lộn cả một vùng không khí rộng lớn.
Khi nghe ông hàng bánh tây thuật lại đoạn này, Vân thút thít khóc, cúi đầu chấm nước mắt rồi ngửng lên nói:
– Ông làm ơn đưa tôi đến chỗ huyệt ông đã chôn nhà tôi. Ông hàng lắc đầu ngao ngán:
– Thưa bà, xin thề có Trời Phật chứng giám, tôi không dám tiếc công, chính nhờ ông nhà mà cha con tôi thoát chết, nhưng quãng đồng lạ đó tôi chỉ đi có một lần, sau lúc bị phi cơ sà bắn, tôi bàng hoàng đến mê mẩn cả người, thằng con tôi ngồi khóc trên bờ ruộng, tôi chôn ông nhà, rồi bế con loanh quanh men theo khoảng đường thấp mà đi. Giờ đây tôi không sao nhận ra khoảng đó nữa, lại đương mùa mưa, cả khoảng đồng chiêm đó giờ đây như biển hồ, không tài nào tìm ra được đâu bà ạ.
Nói dứt ông cúi đầu hai bàn tay chắp lại, những ngón tay lồng xoắn với nhau, trong khi bắp thịt hai bên má rựt rựt, vẻ ân hận chân thành.
Vân một lần nữa nâng khăn tay thấm nước mắt, Tân đứng bên cắn môi im lặng, hai vợ chồng Ðạo cùng thở dài chưa biết nên nói gì.
CHƯƠNG NĂM
Thương hải biến vi tang điền
Có cái gì đau thương lắm nứt rạn trong không khí! Linh cảm vậy thôi chứ mấy ai muốn nhìn thẳng vào sự thật, nhất là sự thật đó không do mình quyết định, nghĩa là mình không chịu trách nhiệm. Ai nấy hy vọng, và trong hy vọng !ẽ cố nhiên người ta cố gạn lọc những gì quá nặng nề, bi đát. Nhưng tội nghiệp, chẳng nỗi buồn vui thời cuộc nào của họ mà chẳng đầy rẫy những mâu thuẫn đau lòng, ánh mắt lân tinh, nụ cười hư ảo, cuộc sống thực, là thường xuyên mình trần nằm trên gai, miệng đắng ngậm thêm mật. Trước đây các thứ đồn điền (cao su, cà phê, trà…) của thực dân thì như sao sa, trường học lại chỉ toen hoẻn đơn độc chiếm có một khu nhỏ xíu của Hà Nội thủ đô văn hóa. Và ngày nay họ sống ở miền quốc gia ư? Quân đội viễn chinh Pháp còn kia, chúng chiến đấu và chết cho quyền lợi của chúng, tìm đâu ra chính nghĩa quốc gia bây giờ? Những người Việt ở hai bên trận tuyến cứ việc gục ngã, những người da đen nhược tiểu khác cứ việc gục ngã, những người lê dương không còn to quốc cứ việc gục ngã, những con dân nước Pháp cứ việc gục ngã- (riêng hạng sau này được đền bù xứng đáng hơn cả vì dầu sao họ cũng chiến đấu cho vinh quang xứ sở họ, dù là thứ vinh quang giả trá và đã từ lâu lõa lồ bất chính)- tất cả những người đó cứ việc gục ngã, máu, nước mắt, xương rơi thịt nát của họ đúc kết và tô hồng cho thành quả ngày thêm nặng trĩu trên đôi tay thỏa thuê của Quốc Tế Cộng Sản. Kể từ 20-11-1953, ngày khởi đầu chiến dịch Castor, để rồi sau đó Pháp rút lui khỏi Lai Châu – (từ 6 đến 12 tháng 12- 1953) – kế tiếp là cuộc vây hãm Ðiện Biên Phủ, thì báo chí Hà Nội, nhất là mấy tờ báo hàng ngày, hoàn toàn biến thành những tờ lá cải, tin tức chiến sự chép hệt theo thông cáo của chính phủ. Chi còn tờ Văn Hóa tiếp tục cống hiến cho độc giả những chính kiến uyển chuyển luôn luôn mạnh, sắc gọn như dòng sông ào ạt theo triền thung lũng, trổ nét lấp lánh trên bình nguyên. Những bài đó đều do Khiết hoặc do Hữu phụ trách. Ðã từ lâu – từ ngày chưa có tờ Văn Hóa – Hữu xuống Nam Ðịnh dạy học. Khi tờ Văn Hóa ra đời, Hữu liên lạc mật thiết với Khiết và luôn luôn gửi bài về đóng góp ý kiến. Và, vẫn trên tờ Văn Hóa, phần tóm tắt tin chiến sự hàng tuần rập theo thông cáo chính phủ được thay thế bằng những bài phóng sự sống động của Lãng. Những dòng tường thuật đó luôn luôn là lời nói của ngôi thứ nhất kể lại với độc giả những gì mắt thấy tai nghe.
Song song với cuộc chiến đấu anh dung của người Việt diệt Pháp ở Ðiện Biên Phủ (mà thành quả rơi vào tay cộng sản quốc tế) thì lò lửa thứ hai của chiến tranh là miền duyên hải Liên Khu Ba gồm bốn quận Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh (tức Nam Trực) và Giao Thủy họp thành tỉnh Bùi Chu. Nơi đây bộ mặt chiến tranh ở cái thế ngược lại với Ðiện Biên Phủ, nơi đây những binh sĩ quốc gia đấu trí và đấu súng quyết liệt với du kích và chính quy Việt Minh.



























































































