Kỳ 242
Khiết vỗ vai Sứ Quân thân mật:
– Thế còn đất Ba Thục với đường Sạn Ðạo?
Sứ Quân cười:
– Anh xem kế hoạch của tôi thật hợp lý và tuyệt diệu, nhưng một mình tôi thực hiện sao nổi, trong tay lại chẳng có một chút quyền hành nào! Thôi các anh hãy rẽ vào nhà tôi gần đây, tôi pha cà phê cùng uống cho hết đêm.
Cả ba dời Bờ Hồ sang đường, rẽ vào một hẻm gần phố cầu Gỗ. Lần đầu tiên Khiết, Kha vào nhà Sứ Quân. Ðó là một căn phòng trần trụi, lạnh lẽo, bàn ghế là những thùng sữa nét-lê bằng gỗ thông nhẹ. Cái giường nằm cũng vuông và thấp như cái hòm cỡ lớn một chút.
Kha nói:
– Trông nhà anh tôi lại liên tưởng đến khu chợ giời Halais bên hồ Thuyền Quang. Hình như bao nhiêu sách vở, tủ chè, sập gụ, tủ gương, bàn ghế, anh đã đem đi chợ giời bán tháo hết rồi.
Sứ Quân chỉ những đồ đạc rồi đáp:
– Ấy từ khi chưa khởi đầu trận Ðiện Biên Phủ tôi đã tổ chức sống như thế này rồi. Trông tình thế biết chứ. Tôi vẫn nói đùa với nhà tôi là vợ chồng mình sống theo văn minh nét-lê. Ghế ngồi là thùng nét-lê, bàn để radio là thùng nét-lê, bàn uống nước là hai thùng nét-lê ghép lại, tủ sách nhỏ là những thùng nét-lê dựng ngược xếp nghiêng sát bên nhau, cái giường tôi nằm cũng đồng thời là cái hòm lớn trong đó có ngăn để sách, có ngăn để quần áo, có ngăn xếp chăn gối. Ấy chết để tôi pha cà phê đã.
Trong khi Sứ Quân loay hoay đốt đèn cồn, Khiết đưa mắt nhìn căn phòng một lần nữa rồi ngồi xuống chiếc ghế thấp mở radio bắt được một đài ngoại quốc nào đó đương trình diễn nhạc cổ điển.
“Trong khi ngoại quốc họ kiến thiết, họ vui sống thì trên phần đất nhỏ bé của xứ mình cứ chém giết nhau không ngơi.” – Khiết chua xót nghĩ thầm vậy rồi lớn tiếng hỏi Sứ Quân:
– Thế chị và các cháu đâu?
– Tôi cho vào Nam trước được một tuần rồi.
Khiết cười:
– Chắc chị vào để sủa soạn đất Ba Thục cho anh.
Khiết vốn biết Sứ Quân tính tình bộc tuệch nên mới đùa dai thế. Sứ Quân cười hềnh hệch:
– Cái thế Ba Thục của tôi nếu ngày nay chưa thực hiện được tất sau này cũng có người sẽ thực hiện. Hợp lý quá mà!
Khuôn mặt Sứ Quân bỗng thoáng buồn:
– Ngày nhà tôi và các cháu vừa đi khỏi, nhà này vắng tanh vắng ngắt, đêm nằm nghe tiếng chuột chạy, tiếng thạch sùng tặc lưỡi mà tưởng như chúng có thể nuốt chửng được mình. Thế mới biết chẳng có gì trên đời này quý và ấm bằng tình người.
Khiết nghĩ thầm: “Anh chàng còn nặng tình người như thế làm sao mà chính trị được trong cái thời đại lưu manh này.”
Mùi cà phê bốc lên thơm phức. Sương lạnh bên ngoài lùa vào làm cốc cà phê trong tay mọi người càng thêm phần quý giá. Câu chuyện trầm xuống nhuốm màu tâm sự. Khi đồng hồ buông ba tiếng rải rệ, Sứ Quân đề nghị:
– Chúng mình nên đi quanh Hồ Hoàn Kiếm một nửa rồi tới Nhà Hát Lớn là vừa.
Tới Nhà Hát Lớn làm gì?- Kha hỏi.
– Chứng kiến cảnh đồng bào di cư lên xe nhà binh qua cầu… Ðoạn Trường sang bên kia Gia Lâm.
Cả ba cùng cười, cùng đứng dậy…
Câu chuyện thì thầm bình thường quanh hồ. Khi họ tới công trường Nhà Hát Lớn nơi đã từng vang lời thề của già Hồ “Tôi thà mất đầu còn hơn phản quốc” đã thấy một dãy xe tới hai chục chiếc GMC nối đuôi nhau. Và những khuôn mặt chịu đựng, những dáng đi âm thầm, những cánh tay mẹ ôm con, những giọt nước mắt ra đi từ trên nhìn xuống, những giọt nước mắt tiễn đưa từ dưới ngước lên. Xe bắt đầu rồ máy. Những tiếng khóc nức. Những bàn tay xiết chặt thay cho lời vĩnh biệt. Một cụ già bỗng khóc lớn:
– Thôi để tao về, tao không đi đâu cả!
Người con trai trưởng cúi xuống nắm lấy tay cụ:
– Thôi con lạy mẹ!



























































































