Linh Mục Hán Chương Vũ Ðình Trác, một chân dung văn học Công Giáo

 

Viên Linh

Khoảng 20 năm trở lại đây, một trong những nhân vật tôn giáo mà tôi được tiếp xúc khi đề cập tới Văn Học Việt Nam, là Linh Mục Vũ Ðình Trác (1927-2003), bút hiệu Hán Chương, tác giả cuốn “Triết Lý Chấp Sinh Nguyễn Công Trứ,” luận án Thạc sĩ Triết học tại Ðại Học Fujen, Ðài Bắc, 1971.

Năm 1996, ông gửi cho tôi một bài về Huyền Thoại Việt Nam, để đăng trên số báo sắp ra, với một lá thư nửa trang tán thành chủ trương của tờ báo, và ghi chú: “Ðây là đề tài thuyết trình cho đại học Hè của sinh viên 17 nước Âu Châu tổ chức tại Orsonnens Thụy Sĩ kỳ Hè vừa qua, 1996.” Bài đã đăng trên số 2 của tạp chí Khởi Hành, cuối năm đó. Chỉ còn vài ngày nữa, vào 30 tháng 9, là ngày cách đây đúng 10 năm, ông qua đời, trong khi tham gia vài công trình lớn, một bộ đại Tự Vị Thiền Học soạn chung với nhiều học giả Thiên Chúa Giáo, nhất là nhóm Giáo Sư Trần Văn Ðoàn ở Ðài Loan, và cuốn sách “700 trang” nhan đề “Công Giáo Việt Nam Trong Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc.”



Linh Mục Hán Chương Vũ Ðình Trác (1927-2003) (phải) tham dự một buổi sinh hoạt văn hóa tại trụ sở Văn Bút VNHN trên đường Bolsa, 1994, bên cạnh có nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, nhà thơ Cao Tiêu, và nhà thơ bác sĩ Phạm Văn Hải. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Linh Mục Vũ Ðình Trác sinh năm 1927 tại làng Trung Lao, huyện Trực Ninh, Nam Ðịnh. Bản tiểu sử chính thức viết: “Vì là con mồ côi, Trác đi tu rất sớm lúc mới 8 tuổi. Vào tiểu chủng viện năm 1938 và đại chủng viện năm 1945. Năm 1948, vì thời cuộc biến động, phải gia nhập Tỉnh bộ Tự Vệ Bùi Chu với cấp bậc trung úy Phòng Quân Báo, nhưng chỉ hai năm sau giải ngũ, trở lại chủng viện ở Quần Phương, tiếp tục đèn sách và tu luyện.” Ðúng tháng 7, 1954 ông vào Sài Gòn với đại chủng viện Trịnh Hoài Ðức, và hoạt động trong chương trình định cư đồng bào tị nạn cộng sản cho đến khi thụ phong linh mục, ngày 3 tháng 12, 1954.

Ngay những ngày đầu của cuộc chia cắt đất nước, ông được Ðức Giám Mục Phạm Ngọc Chi trao trách nhiệm tổ chức tờ báo Di Cư loạt đầu tiên trên miền đất mới miền Nam, đó là tuần báo Ðường Sống. Trên báo này, và trong khuôn khổ xuất bản Ðường Sống những năm sau, ông đã viết hồi ký “Bên Kia Bức Màn Tre,” 1959, tiểu thuyết Lý Tưởng Ðời Anh, 1959. Liên tiếp mấy năm sau ông cho xuất bản các sách luận văn trung học như Việt Văn Bình Giảng đệ tam, 1960, đệ nhị, 1960; Văn Học Sử (đệ tam, 61), đệ nhị (1961), Triết Học Ðông Phương (đệ nhất), 1962. Ðó là công việc văn học lúc đầu của ông. Sau này, ông soạn “Văn Học Công Giáo,” và những đề tài có tính triết lý, nhất là luận án tiến sĩ về Triết học Việt Nam mãi tới tháng 5, 1984 mới được lãnh bằng (luận án viết từ khoảng 10 năm trước) tại Ðại Học Sophia ở Tokyo: “Betonamu Jusha: Nguyễn Du no Jimbun Shugi” (tiếng Anh là The Vietnamese Humanism According to Nguyễn Du.”

Trong số các sách viết về ngôn ngữ văn học Việt Nam, ngược về lịch sử khoảng hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta có thể thấy vài chục cuốn được coi là cắm mốc cho cuộc hành trình gian lao đi tìm nguồn gốc. Mục đích khoa học của việc biên soạn là tiếng nói văn tự Việt Nam, còn mục đích tối hậu là phát kiến và thăng hoa tâm hồn dòng giống Việt tộc qua lịch sử truyền khẩu hay thành văn, từ chữ Nôm tới Việt Hán, và quốc ngữ, Việt ngữ. Chúng tôi thấy một số ít oi như:

– Chữ và Vần Việt khoa học, Nguyễn Bạt Tụy, Sài Gòn, 1949, 118 trang.

– Ngôn Ngữ Học Việt Nam, (tên mới của cuốn trên sau khi bổ sung), Sài Gòn, 1959, 220 trang.

– Sơ Thảo Pháp Ngữ Việt Nam, Tiến Sĩ LM Lê Văn Lý, Sài Gòn, 1968.

– Chánh tả Việt ngữ (I và II), Lê Ngọc Trụ, Sài Gòn, 1951. Bổ sung hoàn chỉnh, trở thành Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị, 1960, 1971, Giải biên khảo Văn học Nghệ Thuật Toàn Quốc, 1971.* [* Tác giả được phong giáo sư thực thụ Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn, 1973, mặc dù ông không có bằng cấp gì.]

– Văn học Việt Nam (cho các lớp trung học), Bùi Ðức Thịnh, Sài Gòn, 1956.

– Ngôn ngữ học và Văn học, Bùi Ðức Tịnh, Sài Gòn, 2 cuốn, trước 1975. [Bổ sung những bài giảng tại Ðại Học Văn Khoa.]

– Cơ Cấu Việt Ngữ, Trần Ngọc Ninh, Sài gòn, 1972.

– Ngôn Ngữ Việt Nam, Duyên Hạc Lê Thái Ất, Calif., 1995.

-100 Năm Phát Triển Tiếng Việt, Phụng Nghi, Sài Gòn, 1993, Calif., 1999.

Song song với các sách trên, không nên quên những cuốn sách dạy Việt ngữ hay cổ động phụ huynh về việc trau giồi Việt ngữ cho lớp con cháu, của các tác giả vốn là các nhà giáo bậc trung học, tiểu học, nhất là những vị tình nguyện giáo huấn thiếu nhi trong các trung tâm Việt ngữ, trong có thể kể sách của Bảo Vân Bùi Văn Bảo, Nguyễn Hữu Bào, Ðoàn Phật Tử Sakyamuni; ngay cả những người dịch Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo hay Tin Lành sang Việt ngữ, cho dù mục đích không trực tiếp, song họ đã làm giàu cho Việt ngữ, như học giả Phan Khôi (1923), LM Nguyễn Thế Thuấn dòng Chúa Cứu Thế (1976), hay Mục Sư Lê Hoàng Phu. Bộ Thánh Kinh do LM Thuấn dịch, với chú thích cặn kẽ, nhiều bản đồ, phần Cựu Ước dày 2318 trang, phần Tân Ước dày 628 trang, là một công trình dịch thuật vĩ đại, làm phong phú cho Việt ngữ tới mức đáng khâm phục. Cũng không vì những lý do tương tự mà chúng ta quên việc khai sáng quốc ngữ qua các Từ điển An Nam-Bồ Ðào Nha của những linh mục Bồ Ðào Nha như Gaspar d’Amaral (1633), Barbosa (…-1647), De Pina, Borri, hay Alexandre de Rhodes thế kỷ XVII. Sang thế kỷ XVIII có từ điển Annam-Latinh của Giám Mục Pigneau de Béhaine (Bá Ða Lộc). Cũng đừng quên những người mà sử sách không nói đến, là những người Việt phụ tá cho các ông linh mục kể trên. Không có những người bản xứ phụ tá, làm sao mấy người Âu châu đó hiểu được tiếng Việt?

Trở về Hà Nội thời đầu thế kỷ XX, các giáo sư Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim, khi giữ trọng trách giáo dục giữa thập niên ’30, tới giữa thập niên ’40, và quí vị được Nha Học Chính Ðông Pháp trao cho việc nghiên cứu biên soạn bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư (4 cuốn) là các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận, đã có công thật bao la khi hoàn tất bộ sách đơn sơ mà thần kỳ dạy mẫu tự ABC và cách đánh vần Việt ngữ.

Học quốc ngữ qua các cuốn ấy, từ lúc 5, 6 tuổi mà có người trên 70 tuổi còn nhớ, còn đọc thuộc lòng được những bài văn ngắn gọn ấy, hỏi không thần kỳ sao được?

Trở về với Linh Mục Hán Chương Vũ Ðình Trác, người đã khiến tôi vì nhớ đến ông, nhớ những lần ông tới trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên đường Bolsa để dự sinh hoạt văn hóa với chúng tôi, khoảng 1993, 1994, khiến hôm nay tôi có thể viết bài này. Còn nhớ tập san tâm huyết ông thực hiện, lúc đang là chủ tịch Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ (chức vụ ông được bầu tại Ðại Hội Các Liên Ðoàn Công Giáo tổ chức ở New Orleans năm 1984): “Việt Nam Trong Quỹ Ðạo Thế Giới.” Tâm huyết của ông đổ vào đó. Ông muốn dương danh Việt tộc, và con người Việt Nam.

Nhưng Hán Chương là một nhà khoa bảng, ngòi bút ông không tới thẳng tuyệt đích trong việc tranh đấu qua tập san Hội Hữu, nhất là trong môi trường lưu vong ly tán, phức tạp, chỉ mới chín năm sau cuộc thất thủ đau thương tháng 4, 1975. Ðã xảy ra những phản ứng không thuận lợi. Dù sao, có những điều đáng nhớ linh mục đã viết trong “Việt Nam trong quỹ đạo thế giới”: “Dân tộc này [Việt Nam] có những cá tính đặc trưng: ‘văn chương nết đất, thông minh tính trời.’” Tiếc thay con người văn hóa ấy đã gặp quá nhiều trở ngại, phải bỏ dở nửa chừng. Ông mất năm 76 tuổi.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT