Viên Linh
Giữa năm 1982 nhà văn Mai Thảo tục bản tạp chí Văn tại hải ngoại, trên số 2 có bài Cuộc Phó Hội U Minh, trong đó tôi đưa ra một câu hỏi có ý khôi hài: “Tại sao mấy năm nay các nhà văn làm thơ nhiều thế?”
Bài viết đăng ở trang 2 số báo, trở thành một bài có tính thời sự trong đó phần trích dẫn thơ quá ít, sau này xem lại thấy rằng đề tài có thể viết thành vài chương sách. Các nhà thơ làm thơ là chuyện tự nhiên, song các nhà văn thỉnh thoảng làm thơ cũng không lấy gì làm lạ. Nhất Linh làm thơ, Khái Hưng làm thơ, thường là thơ cảm đề 4 câu hay 8 câu, song sau 1975, nhà văn Mặc Ðỗ làm nhiều bài thơ trên 12 câu, nhà văn kịch tác gia Vũ Khắc Khoan làm một bài thơ thật dài, mấy chục câu, nhà viết tham luận Nghiêm Xuân Hồng làm nhiều thơ hơn cả, và đến Võ Phiến cũng làm thơ nữa thì hẳn thời thế văn nghệ và cuộc sống lúc ấy có rất nhiều vấn đề.

Ðinh Tiên Hoàng rời đô ra Hoa Lư. Tranh màu của họa sĩ Mạnh Quỳnh, vẽ trước 1954 tại Hà Nội. (Hình: Sưu tập của Viên Linh)
“Nhà văn – ở đâu đó nói rằng – có thể đã là một thi sĩ thất bại.” Câu đó chẳng biết có đúng không, nhưng nhà văn, người lưu tâm tới những cá thể, những chủ từ, động từ chương hồi nhiều hơn là những trạng từ, tĩnh từ (mớ ngôn ngữ hỗn độn của người làm thơ: người tìm kiếm âm ảnh của chữ; việc mà một nhà vãn chẳng cần thiết nghĩ tới). Anh hãy đọc văn Mặc Ðỗ, những câu văn cứng như vạch vào đá mà coi. Hãy đọc lại Vũ Khắc Khoan đi, cá thể và chủ thể và động từ nổi lên như tượng, di động như quân cờ.
Nhà văn có thể đã là một thi sĩ thất bại, có thể lắm chứ sao không? Ở cái thuở cắp sách đến trường, anh có từng rung động vì một tà áo dịu dàng, và hí hoáy làm mấy câu thơ mô tả? Anh mô tả gì trong những câu thơ đầu đời ấy, thường thường người ta có thể đoán biết được. Những câu thơ có nhân vật rõ ràng mà thơ thật ra đâu có cần nhân vật, trừ khi anh đặt chuyện thơ, như anh đặt Kiều, anh đặt Cung Oán, anh đặt chuyện tình anh vào những vần điệu ấy. Anh bắt đầu làm thơ, dù thế nào đi nữa. Nhưng rồi hoặc từ từ, hoặc đột nhiên, anh bỏ làm thơ, để trở thành một người khác, một nhà văn. Anh là nhà văn vào một buổi chiều, “Sau Khi Bão Tới.” (nhan đề một cuốn truyện của Mai Thảo). Anh là nhà văn sau “Cách Mạng Và Hành Ðộng,” (nhan đề tác phẩm của Nghiêm Xuân Hồng). Sau “Giao Thừa,” (tên một vở kịch của Vũ Khắc Khoan). Sau “Chữ Tình,” (nhan đề tác phẩm đầu tay của Võ Phiến. Anh miệt mài với nghĩa chữ, với con người, với xã hội, với biến cố, với chính trị, với vận động thế giới… Anh bắt đầu biết nhiều quá, nghĩ nhiều quá trong khi người làm thơ đâu có cần biết nhiều đến thế, đâu có cần nghĩ nhiều đến thế. Hắn ta cứ lơ mơ ậm ừ mà thôi. Hắn ta đang tưởng và đang tưởng tượng. Anh cứ nhìn bề ngoài cũng đủ biết. Nhà văn nghiêm trang hơn. Hắn lừng khừng hơn. Vì hắn chẳng biết gì rõ lắm. Hắn không biết rõ người cũng không biết rõ mình. (Kẻ nào nói rằng y hiểu được ta, kẻ đó là người không hiểu được hắn). Nhà thơ, hắn có thể biết rõ đôi điều chung quanh, nhưng lại không thể nói rõ. Hắn không luận lý nữa, mà lý luận lại cần phải nói rõ. Nói rõ không phải là điều cần thiết của thơ. Yếu tính minh bạch không phải là thơ. Thơ không thích thế, mà có, thì cũng ngược thế mà chơi.
Lung linh suối chảy lưng đèo
Ngựa đua dưới nước
Thuyền chèo trên non.
(Liễu Quán)
Chỉ nhà thơ viết “ngựa đua dưới nước” mà không ai hỏi lại; nếu nhà văn viết “thuyền chèo trên non” thì nhất định là có vấn đề. Vài năm sau 1975, các nhà văn Mặc Ðỗ, Nghiêm Xuân Hồng, và Vũ Khắc Khoan trong nhóm Quan Ðiểm nổi danh từ đầu thập niên 1950 tại Hà Nội đã cầm bút lại. Và các ông làm thơ, một điều chưa từng thấy tại Sài Gòn.
Thơ Mặc Ðỗ
Tôi đã khóc đêm trăng cuối năm
Mùa tạ ơn dào dạt chung quanh
Một trang thư in vừa nhận được
Chúi tự ái bao lâu
Bàn tay che ngậm ngùi mặc cảm
Làm được gì cho đất nước thương đau.
Lời thư mang chữ nghĩa ân tình
Lửa ấm lòng lóe sáng tinh anh
Ta đã yêu người người cũng yêu
Hồn dân tộc trong tình ấp ủ
Duyên bàng bạc quan san màu ly lán
Tự đêm nào tiếp nối mênh mang
Mùa tưởng nhớ người cúi đầu suy ngẫm
Tình ta bừng sáng thiên thu.
(Ðêm trăng cuối năm)
…Dạt dào tâm sự thơm mùi cây
Ngày tháng đong tràn những chén đầy
Ai đó ai đâu ai vẫn nhớ
Núi sông còn lại bấy nhiêu đây.
(Ðêm, trích tạp chí Văn)
Ba Mươi Tháng Tư. Từ lúc ấy anh không thể quên, không có quên gì hết, trừ một điều anh bị, phải quên anh là một nhà văn. Còn những điều khác xung quanh anh, trong anh, anh đều nhớ rành rành, nhớ chết ngất. Anh nhớ anh lúc đó, lúc trước. Anh nhớ anh hai mươi năm qua. Ba mươi năm qua. Anh nhớ anh từ 45 nhớ đi. Anh nhớ anh từ 54 nhớ về. Anh nhớ anh từ 75 về trước. Giữa những thời điểm chính biến ấy, chân anh hụt hẫng, nghiêng ngả. Anh ngã chúi. Anh lồm cồm bò dậy. Anh thu nhặt giấy bút, lò dò ngồi lên. Rồi lại ngã sấp, ngã bổ chững. Anh tất tả ra đi. Anh mất hết mọi thứ. Anh đã mất quê hương.
Thơ Vũ Khắc Khoan
Học thói Nhan Hồi rằng quên đừng nhớ
Nhưng hoa bèo rạt bờ ao
Tím ngát. Tím hoài lãng đãng
Lòng quê lại thấy dạt dào
Khui chai rượu nhỏ
Hồ trưởng biết rót phương nao?
Chợ Cũ hay là Chợ Lớn
Phố hàng Khay hay phố’ hàng Ðào?
Quán Cóc mái xiêu chợ Ðũi?
Sông Hương chiều lộng gió Lào?
Thôn Vĩ hàng cau bụi trúc?
Nguyễn Tri Phương hay góc Ða Kao?
Sương khuya nhuốm bạc mái đầu
Bạn bè kẻ trước người sau
Giới nghiêm cũng mặc hẻm nào cũng vô.
Nghiêm Xuân Hồng
Chợt thấy một vùng nước non hùng vĩ
thanh tịnh
Mà hắn tưởng là Rừng Mơ Hương Tích
Hiện lên giữa vũng nước lèo…
(Bộc Ðăng Ðài)
Ngoài ra còn nhiều người nữa, ở những nhóm khác, những khuynh hướng khác, Mai Thảo, Võ Phiến, Lê Huy Oanh, Hồ Trường An, Tuấn Huy, họ đều là nhà văn từ trước.
Võ Phiến
Sương khói thời gian mù mịt tỏa
Biết rồi dân tộc ái về đâu
(Tàn Niêu Tâm Sự)
Mai Thảo
Thì vượt tuyến là phân thân
Bản ngã đã nhị trùng
Tôi ném lại cái tôi đã diệt
Tôi đem theo cái tôi mới lên đường
…
Hai tâm thể chia đôi dòng cách biệt
Ngọn đã nghìn thu ngọn mới bắt đầu.
(Hỏi Mình Giữa Biển)
Thơ của các nhà văn. Các nhà văn làm thơ. Tại sao thơ nhà văn nhiều thế, ít ra là nhiều hơn trước. Ðã có bao nhiêu lần trước đây các nhà văn, trong một giai đoạn ngắn, cùng làm thơ? Anh thử đoán coi. Thử đoán thôi, biết trời trăng thế nào mà phân tích, giải nghĩa. Thì đã bảo nhà văn là một thi sĩ thất bại. Ðến khi nhà văn thất bại, họ thành bán thi sĩ? Chẳng phải. Các nhà văn tạo ra thế giới của họ, đấng sáng thế của thế giới họ. Họ hô ánh sáng, mà nay không thấy ánh sáng, đêm tối vẫn mù mù. Thì họ làm thơ. Vì thơ mù mù. Không sáng, không tối cũng được. Mà thi sĩ là hoàng tử của mây mù, anh không nhớ Beaudelaire sao? Le poete est semblable au Prince des nuées. Trong Ác Hoa đó. Và là chàng hoàng tử bị đày ải trong nhạo báng, vụng về và vô dụng, có phải vậy chăng? Thế giới của anh, thế giới chữ nghĩa đầy ải, thế giới văn chương lưu vong, thế giới bị nhạo báng tột cùng. Phải vậy chăng? Thơ nhà văn. Khắp mọi nơi. Ðường kiếm cuối cùng đấy, giữa hoang mang tuyệt vọng. Giữa chán chường mệt mỏi. Ở cuối đường đêm tối. Ở lẫn lộn chính phái với bàng môn tả đạo. Ở giữa hai bờ âm dương, cửa sinh và cửa tử. Ở cái lúc Tào Tháo vào Hoa Dung tiểu lộ, cái quãng Thúy Kiều đến khúc Tiền Ðường. Lúc nhà văn làm thơ.
Chữ nghĩa nào ngờ cơn gió thoảng. (Mặc Ðỗ – Ðêm)
Văn chương trả lại cho miền phù sinh. (Viên Linh – Thủy Mộ Quan)



























































































