Nguyễn Tường Giang
Buổi sáng, dậy sớm có việc phải đi ra khỏi nhà. Ðầu Tháng Hai trời lạnh nhưng không có tuyết. Ngày cuối năm âm lịch, buổi sáng vắng vẻ nhắc nhở không khí một ngày cuối năm, năm nào, ở một quê hương đã xa. Con đường tỉnh lộ 50 đi về phía Tây, những hàng cây trụi lá hai ven đường để lộ thấp thoáng vài căn nhà nhỏ bé xây theo một mô hình đồng nhất, gợi nhớ một bức tranh của người bạn họa sĩ, hình như đã mất.

Tranh Ðinh Cường.
Chỉ một tháng trước đây thôi, trên con đường này, mười giờ tối, tôi đã chạy xe vội vã đến đón Nguyễn Mạnh Hùng vào nhà thương Fairfax, cũng nằm cạnh con đường 50 này, để nhìn mặt lần cuối cùng Ðinh Cường. Một linh cảm tình cờ đã xui khiến tôi gọi điện thoại, không vì một duyên cớ nào cả, hỏi thăm tình trạng của Ðinh Cường trong nhà thương. Cô y tá trưởng, sau khi cho biết Ðinh Cường vẫn còn nằm trong phòng cũ, ngập ngừng nói với tôi: dù sao, ông ta cũng vừa ra đi 30 phút rồi.
Mới một ngày trước đó, chúng tôi còn vào thăm và trò chuyện, dù rất ít, với Ðinh Cường. Một ngày trước đó Ðinh Cường còn nhìn, nói và thở. Bây giờ tôi và Hùng đứng dưới chân giường, nhìn tấm thân gầy gò của một thiền sư, mỏng và nhẹ tưởng chừng như có thể bay trong gió, đôi mắt khép kín bình yên, đôi môi hé nở một nụ cười, nụ cười hiền lành của Ðinh Cường ngày nào. Mới chỉ một hai ngày trước đây thôi, tôi còn có trong giấc mơ, cùng vài người bạn đến đón Ðinh Cường đi uống cà phê, hai chân ông đã yếu phải có người giúp đỡ để ngồi vào xe, ở một quán cà phê nào đó, Starbucks hay Bayou. Người họa sĩ thường ít nói, và khi nói chỉ là nhắc đến các bạn bè quen thuộc, xa gần với một sự trìu mến, một cuộc triển lãm của người bạn, một cuốn sách mới in, dự tính về triển lãm chung với một họa sĩ bạn ở Huế, nơi chốn ghi dấu ấn sâu đậm trong tâm tưởng, vào Tháng Hai âm lịch sắp tới đây. Không ai ngạc nhiên vì sự quen biết nhiều đến không giải thích được của Ðinh Cường, miền Nam, miền Bắc, Sài Gòn, Ðà Lạt, Huế, Hà Nội, thế hệ cũ, thế hệ mới, trong nước, ngoài nước… Nhắc tới những người làm văn nghệ hoặc có ít nhiều liên quan đến văn nghệ, Ðinh Cường đều biết khá rõ, và tỉ mỉ hơn chỉ với một lời nhận xét, Ðinh Cường đã mô tả được cái nét đặc thù của người được nhắc đến. Ngồi uống cà phê với chúng tôi, không lần nào mà Ðinh Cường không có một cuộc điện đàm, hoặc bạn bè gọi tới, hoặc Ðinh Cường chợt nhớ tới ai đó, gọi hỏi thăm nói chuyện chơi, có khi từ Việt Nam, có khi từ các tiểu bang xa xôi khác. Không có gì cả, nhưng có lẽ Ðinh Cường luôn cảm thấy cần có những sợi dây liên lạc mật thiết, muốn được nghe giọng nói, hơi thở, tưởng như bè bạn vẫn kề cận bên mình.
Gần đây, Ðinh Cường hay đi ra ngoài thường xuyên, hầu như mỗi ngày, đi ăn gà nướng Peru, gà Rosemary ở Madeleine, bánh tôm hay chả cá Hà Nội, ăn phở gà ở Kobe… nhưng lần nào Ðinh Cường cũng ăn rất ít, như có lệ, căn bệnh hiểm nghèo đã lấy đi cái thú ẩm thực của ông. Ðinh Cường đã mệt nhiều và tôi nghĩ, Ðinh Cường đã biết những ngày còn lại rất ngắn ngủi của mình, ông chỉ muốn ra ngoài để thở cái không khí mọi người đang thở, để nghe tiếng nói cười của một đời sống ông sắp phải lìa xa, như một tuần lễ trước khi mất ông đã nhìn thấy bàn tay vẫy gọi và tiếng chào hỏi gặp gỡ của hai người bạn chí thân: Bửu Chỉ và Trịnh Công Sơn.
Tôi cũng không nhớ rõ tôi quen Ðinh Cường vào khoảng thời gian nào, nhưng chắc chắn không phải trước 1975. Tôi chỉ nghe tiếng và có thể xem qua một vài bức tranh của ông trong một triển lãm của Hội Họa Sĩ Trẻ, không để lại một ấn tượng ghi nhớ nào. Tôi nghĩ, sự quen biết của tôi với Ðinh Cường, trước tiên là vì chúng tôi cùng ở một địa phương và gặp gỡ nhau qua một người bạn. Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là khi mới trò chuyện cùng nhau, tôi và Ðinh Cường đều có cảm tưởng đã quen biết nhau từ lâu, lý do rất dễ hiểu là vì tôi có quen và biết khá nhiều bạn của Ðinh Cường và ngược lại, Ðinh Cường cũng biết khá rõ về các sinh hoạt văn nghệ của tôi và bạn bè. Những bạn bè của tôi và Ðinh Cường, thuở đó, vì tuổi trẻ và đầy nhiệt huyết, có thể là vì rất ngây thơ hay rất tàn bạo, đã tham gia khá nhiều vào những biến động thiên tả và phản chiến. Bây giờ, cái miền Nam một thời nuôi dưỡng chúng tôi đã không còn tồn tại, khi tôi cùng Ðinh Cường có nhiều cơ hội gặp gỡ và trò chuyện cùng nhau, chúng tôi cảm thấy thân thiết hơn chỉ vì những ngậm ngùi quá khứ, nhắc lại dĩ vãng của một thời đã qua, dĩ vãng bao giờ cũng đẹp dù sai hay đúng, những bạn bè người còn kẻ mất, thương tiếc hai mươi năm tiêu pha tuổi trẻ và những giấc mơ, những năm tháng mất đi không bao giờ trở lại, như mối tình đầu tan vỡ. Tôi không phải là một người bạn thân của Ðinh Cường, giữa tôi và ông chỉ là một liên lạc về một quá khứ đã xa. Và khi Ðinh Cường mất đi, tôi càng cảm thấy xa vời với cái quá khứ đầy mộng mị, cái quá khứ đã ám ảnh đến hơn một nửa phần đời của tôi. Tôi đã già, và khi Ðinh Cường mất đi, tôi thấy cũng rất gần đến cái ngày chôn vùi cả một thời, một thời chiến tranh tan nát của quê hương, một thời để nhớ và một thời để quên.
Hôm qua, trong buổi giỗ trong gia đình, Chu Việt, đã ở cái tuổi xa 80 và gần 90, hỏi tôi: ông không có bức tranh nào của Ðinh Cường nhỉ? Tôi kéo ông ra ngoài phòng khách, chỉ cho Chu Việt bức tranh đầu tiên tôi mua của Ðinh Cường, có lẽ đã hơn 25 năm. Bức tranh có nhà thờ đổ nát, cây thánh giá xiêu vẹo, có ngựa đeo lục lạc u buồn, có vừng trăng hỗn mang, một bông hoa trắng cô đơn và thiếu nữ khuôn mặt nhìn nghiêng, rất đặc thù của Ðinh Cường, những mảng mầu xanh huyền hoặc trên nếp áo dài và vệt chấm đỏ như lửa trên đôi môi thiếu nữ. Bức tranh ghi 8-87. Không biết lúc đó, người bạn tôi quen Ðinh Cường, còn ở quê hương hay đã sang miền đất lạ.
Như bây giờ, Ðinh Cường đã sang miền đất lạ để trở về quê hương.
(Ngày 7 Tháng Hai năm 2016 tức ngày 29 Tháng Chạp thiếu năm Ất Mùi. Một tháng sau ngày Ðinh Cường ra đi.)



























































































