Kỳ 21
Nhưng thế nào là một gia đình?
Câu hỏi ấy cứ luôn luôn trở đi trở lại mãi mãi trong đầu tôi.
Một tế bào của xã hội, mà nếu thiếu nó xã hội chẳng là gì cả?
Một đơn vị gia cư?
Một tập hợp những cá thể, gồm một người đàn ông và một người đàn bà, và, nếu có thể, những đứa con?
Một chốn hợp pháp dành cho sự gặp gỡ của giống đực và giống cái?
Một nơi để trở về sau khi đã ra đi?
Một hang động để trú ẩn?
Tôi đã có một gia đình chưa?
Hình như là đã có theo một trong những ý nghĩa đó, và hình như là chưa theo một trong những câu trả lời kia.
Trong ngôi nhà đó, cái lò lửa nóng hực mặt trời buổi trưa, trong một Saigon đang lên cơn sốt chính trị, tôi đã phải tự bứng mình đi như người ta nhổ một bụi khoai ra khỏi cái luống đất xốp và rời rạc kia.
Ðó là căn nhà của cơm nguội và nước lạnh, chan vào nhau lõng bõng lêu bêu, rời rạc nhạt nhẽo. Không ai có thể sống mãi trong một căn nhà như thế, khi cuộc đời bên ngoài tự nó cũng đang là một cái gì buồn thảm, lêu bêu lõng bõng, giả trá, xa lạ và đầy thù hận.
Tôi đã giã từ căn nhà đó, như cắt đứt cánh tay bị ung nhọt thối tha của tôi vì đã hết thuốc chữa.
Nhưng tình yêu của tôi dành cho Ðăng và Mai vẫn còn nguyên vẹn. Ðó là nỗi đau của tôi. “Con cần mẹ, nhưng ba cũng cần các con.” Cái hình ảnh một người đàn ông chiều Thứ Bảy đi thăm con ở nhà một người đàn bà trước kia là vợ mình, sao nó thê thảm đến thế!
Căn nhà ấy, mặc dù đã ra đi, tôi vẫn nhiều lần trở lại. Những buổi trưa, ba cha con ngồi quanh chiếc bàn ăn hình chữ nhật.
“Hôm nay con học gì? Một bài hát mới hả? Con hát ba nghe coi! Il était un petit navire! Il était un petit navire! Qui n’vait ja-ja-jamais navigué, Qui n’avait ja-ja-jamais navigué… Con ăn gì? Cay hả? Không, không cay đâu. Cái này không có ớt đâu!”
-Con phải cầm đũa như thế này, này! Con ngồi ngay ngắn nhé! Ðể tay lên bàn. Ðúng! Thế!
-Con ăn thêm nữa không? No hả? Sao ít vậy?
Bữa cơm xong, Mai rửa mặt, đánh răng lâu thật lâu, tẩn mẩn tỉ mỉ từng chút, chậm rãi như một bà cụ non. Còn Ðăng là một cái gì trái ngược: rửa mặt ào ào, đánh răng ào ào, chùi hai tay lên áo, trở lại bàn lấy tập và bút. Vẽ.
-Ðố ba biết cái này là cái gì?
-….
-Ba dở ẹt! Thằng Tintin đi Hồng Kông mà ba cũng hổng biết!
-….
-Ba biết thằng cao bồi này tên gì không?
-….
-Ba thiệt hổng biết gì hết trơn hết trọi! Ðây là Lucky Luke. Còn mấy thằng này là anh em đám thằng Dalton. Ghê chưa? Ba sợ hông?
-….
Ðó là những buổi trưa, như những buổi trưa buồn thảm khác có ba cha con tôi trong căn nhà hộp diêm, thấp tè, nóng bức.
Cũng có hôm tôi bị phỏng vấn.
-Ba đi đâu? Sao ba không ở nhà?
-Ba đi làm việc!
-Ba làm việc ở đâu?
-Tụi con biết rồi mà!
-A! Con biết! Con biết! Mai la lên.
-Anh Ðăng không biết đâu. Con biết nè! Bữa hổm ba chỉ cho em rồi. Phải không ba?
-Phải!
-Ðó thấy chưa anh Ðăng? Em biết mà!
Sau đó, ba cha con trải chiếu dưới đất. Ðăng xem sách hình. Mai kể chuyện cô giáo trong trường. Rất nhanh, một đứa đánh rơi sách và một đứa thiu thiu.
Rồi đến lượt tôi, rất nhẹ nhàng rón rén ra đi, sợ làm kinh động giấc ngủ của hai đứa bé.
Ở căn nhà đó ra, tôi lại trở về căn gác trọ, tắm rửa, thay quần áo, xuống phố, nói chuyện tầm phào với lũ bạn ở một quán nước quen, đi rong qua những hàng sách “xôn,” xem một cuốn phim.
Còn cơm tối? Có khi là một bát phở, một khúc bánh mì, một chén bò viên, một chai bia… Cũng có khi, vì lười biếng, chẳng có gì hết ngoài những ly cà phê sữa đã uống…
Chiều Thứ Bảy. Thường lệ là những chiều Thứ Bảy, tôi đón Ðăng và Mai đi ăn ở một quán Tàu trên đường Lê Văn Duyệt.
Cơm thố và thức ăn xào nấu vừa miệng. Ðây là quán mà tôi và các con tôi thích nhất. Người chủ quán là một cô Tàu còn nhỏ nhưng mập tròn và lùn tịt như một chiếc thùng tô nô. Cô hay hỏi tôi:
-Má tụi nó đâu rồi?



























































































